Tổng CTCP Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, HoSE: SAB) vừa thông báo ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền nhận cổ tức còn lại năm 2025 bằng tiền mặt là ngày 29/7/2026. Theo đó, ngày giao dịch không hưởng quyền là 28/7 và thời gian thanh toán dự kiến diễn ra vào ngày 28/8.
Theo phương án đã công bố, Sabeco sẽ chi trả cổ tức bằng tiền với tỉ lệ 30% mệnh giá, tương ứng mỗi cổ phiếu được nhận 3.000 đồng. Với hơn 1,28 tỷ cổ phiếu đang lưu hành, doanh nghiệp dự kiến chi khoảng 3.840 tỷ đồng cho đợt thanh toán này.
Do cơ cấu cổ đông của Sabeco hiện khá tập trung, phần lớn dòng tiền cổ tức sẽ thuộc về hai cổ đông lớn nhất.
Cụ thể, Công ty TNHH Vietnam Beverage – doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái ThaiBev, hiện sở hữu 53,59% vốn điều lệ Sabeco dự kiến nhận hơn 2.061 tỷ đồng cổ tức.
Trong khi đó, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), cổ đông nắm giữ 36% vốn, ước tính thu về hơn 1.382 tỷ đồng. Tổng số tiền cổ tức mà hai cổ đông này nhận được chiếm gần 90% giá trị đợt chi trả.
Đây là đợt thanh toán cổ tức còn lại của năm tài chính 2025. Trước đó, vào tháng 2/2026, Sabeco đã thực hiện tạm ứng cổ tức đợt 1 với tỉ lệ 20%, tương ứng 2.000 đồng/cổ phiếu.
Sau khi hoàn tất đợt chi trả sắp tới, tổng mức cổ tức tiền mặt của năm 2025 sẽ đạt 50%, tương đương 5.000 đồng/cổ phiếu.
Mức chi trả này phù hợp với phương án phân phối lợi nhuận đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Theo báo cáo tài chính, Sabeco duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt trong nhiều năm qua, dựa trên kết quả kinh doanh và phương án phân phối lợi nhuận được Đại hội đồng cổ đông phê duyệt hằng năm.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Theo Bộ Công thương, trong những năm qua, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ đã liên tục tăng trưởng tích cực. Đặc biệt trong giai đoạn từ 2016 - 2025 sau khi Việt Nam và Ấn Độ đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, kim ngạch thương mại đã tăng gấp 3 lần, từ 5,43 tỉ USD lên 16,46 tỉ USD. Riêng năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 16,46 tỉ USD, tăng 10,5% so với năm 2024. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 10,3 tỉ USD, tăng 14,2% và nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ đạt 6,1 tỉ USD, tăng 4,9% so với năm 2024. Đà tăng này được tiếp diễn trong 3 tháng đầu năm nay khi kim ngạch thương mại song phương đạt 4,8 tỉ USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam là đối tác lớn thứ 21 của Ấn Độ và thứ 4 trong ASEAN.
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ tập trung vào nhóm hàng chế biến, chế tạo với tỷ trọng trên 70% gồm các mặt hàng chính như sản phẩm công nghệ, điện tử, máy móc; nhóm hàng nông, thủy sản, cao su, hạt tiêu và vật liệu xây dựng như sắt thép và sản phẩm từ sắt thép. Ngược lại, nhập khẩu từ Ấn Độ chủ yếu là các sản phẩm đầu vào phục vụ sản xuất, xuất khẩu như nguyên, phụ liệu dệt may, chất dẻo nguyên liệu, sắt thép các loại, hàng thủy sản và phục vụ tiêu dùng (dược phẩm).
Không chỉ thương mại, đầu tư từ Ấn Độ vào Việt Nam cũng khá lớn. Tính đến tháng 3.2026, Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,117 tỉ USD, đứng thứ 26 trong tổng số 154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Các nhà đầu tư Ấn Độ tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, phân phối điện, khí, khai khoáng… Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 30 dự án với tổng số vốn gần 150,5 triệu USD, đứng thứ 17/88 địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam. Nổi bật là dự án xây dựng nhà máy sản xuất xe điện của VinFast thuộc Tập đoàn Vingroup tại bang Tamil Nadu vào năm 2024. Đến cuối năm 2025, tập đoàn này đã tiếp tục đầu tư 500 triệu USD phát triển các phân xưởng, dây chuyền sản xuất chuyên biệt cho xe buýt điện và xe máy điện, bao gồm các hoạt động sản xuất, lắp ráp, thử nghiệm và vận hành liên quan. Khoản đầu tư này đánh dấu giai đoạn thứ hai trong cam kết đầu tư 2 tỉ USD trước đó…
Đặc biệt, quan hệ hợp tác du lịch, giao lưu giữa hai nước cũng đang mở rộng. Ở lĩnh vực du lịch, Ấn Độ là thị trường khách tiềm năng của Việt Nam. Gần đây nhiều đoàn khách du lịch Ấn Độ đã lựa chọn Việt Nam làm điểm đến khá thường xuyên. Thống kê cho thấy năm vừa qua, khách du lịch Ấn Độ đến Việt Nam đạt gần 800.000 lượt, tăng gấp 4 lần so với năm 2019. Nhờ đó, Ấn Độ vươn lên nhóm 10 nguồn khách quốc tế trọng điểm, bên cạnh các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Riêng quý 1/2026, lượng khách từ quốc gia này đạt 242.656 lượt, tăng 169,3% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, Ấn Độ là thị trường khách chi tiêu cao và nhiều khách VIP đang chọn Việt Nam làm điểm đến cho những sự kiện quan trọng. Chẳng hạn vào cuối năm 2025, một tỉ phú Ấn Độ thuê các chuyến bay nguyên chuyến do Vietnam Airlines khai thác để đưa gia đình và một phần khách mời tới Phú Quốc (An Giang) cho lễ cưới kéo dài nhiều ngày tại một khu nghỉ dưỡng 5 sao trên đảo ngọc. Trước đó, đầu năm 2024, tại một resort sang trọng trên vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) cũng đã diễn ra đám cưới của một tỉ phú Ấn Độ cùng hơn 600 khách mời đến từ khắp nơi trên thế giới…
Hàng loạt hợp tác, xúc tiến thương mại song phương gần đây giữa Việt Nam và Ấn Độ đã được thực hiện. Mới nhất là ngày 24.4 vừa qua, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ đã làm việc với Tập đoàn Reliance Retail nhằm thúc đẩy khả năng đưa hàng Việt vào hệ thống SMART Bazaar. Hai bên đã trao đổi về khả năng mở rộng nhập khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như trái cây tươi, cà phê, hạt điều, thủy sản chế biến và hàng tiêu dùng nhanh. Reliance Retail cũng xác nhận sẽ cử đoàn doanh nghiệp tham dự Vietnam International Sourcing Expo 2026 để tìm kiếm nguồn cung từ Việt Nam. Trước đó hồi tháng 3, Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) và Hội đồng Xúc tiến xuất khẩu dịch vụ Ấn Độ (SEPC) ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác để thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, xúc tiến thương mại dịch vụ số và mở rộng hợp tác trong lĩnh vực chuyển đổi số, gia công phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI) và IoT.
PGS-TSKH Võ Đại Lược, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và chính trị thế giới, phân tích: Là nước có dân số khoảng 1,45 tỉ người, Ấn Độ là thị trường lớn nhất thế giới. Bất cứ sản phẩm nào của Việt Nam khi đã thâm nhập được quốc gia này thì đồng nghĩa cơ hội mở rộng thị trường rất lớn. Ngoài vấn đề hàng hóa tiêu dùng, Ấn Độ cũng đang có chiến lược phát triển mạnh về công nghệ, công nghệ số. Bengaluru, thủ phủ bang Karnataka, miền Nam Ấn Độ, từ lâu được ví như "Thung lũng Silicon của châu Á". Chính vì vậy tiềm năng và cơ hội hợp tác giữa 2 nước là rất lớn. Tuy nhiên theo ông Lược, thời gian qua dù đã mở cửa nhưng nhìn chung thị trường Ấn Độ vẫn còn nhiều khó khăn cho hàng hóa nước ngoài cũng như vấn đề trao đổi, hợp tác đầu tư. Đây cũng là nước ít tham gia vào các hiệp định thương mại song phương, đa phương. Vì vậy, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với nhiều hoạt động sẽ thúc đẩy nhiều tiềm năng và cơ hội hợp tác hơn nữa giữa hai nước.
"Tôi tin rằng chuyến thăm cấp cao của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ khai mở thật sự thị trường lớn nhất thế giới này. Theo đó, hàng loạt lĩnh vực hợp tác giữa hai nước sẽ được khơi thông mạnh mẽ hơn. Việc mở rộng thêm thị trường Ấn Độ sẽ giúp hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu mạnh hơn, đa dạng hóa thị trường. Mặt khác, Việt Nam đang trong quá trình thay đổi mạnh, từ việc hoàn thiện thể chế, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực ưu tiên cũng sẽ là điểm hấp dẫn với các tập đoàn Ấn Độ. Việt Nam cũng nổi tiếng là đối tác toàn diện chiến lược với các cường quốc lớn trên thế giới. Điều đó cũng có thể là lợi thế để thúc đẩy phát triển mạnh hơn với Ấn Độ trong giai đoạn tới, nhất là hai bên đã có quan hệ ngoại giao lâu đời và 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện", PGS-TSKH Võ Đại Lược chia sẻ thêm.
Tin Gốc: Thanh Niên

Với những cơ chế, chính sách đặc thù được nêu rõ, hàng ngàn dự án bất động sản (BĐS) đang tồn đọng trên cả nước sẽ được tháo gỡ trong thời gian tới. Thực tế, chỉ riêng tại 3 tỉnh thành gồm TP.HCM, Đà Nẵng và Khánh Hòa, ngay từ cuối năm 2024, theo Nghị quyết số 170/2024 của Quốc hội, đã có 64 dự án và 1.313 trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được tháo gỡ bằng những cơ chế chưa từng có. Chẳng hạn, tại TP.HCM có 4 trường hợp cần xử lý về giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gồm dự án chung cư 1.330 căn hộ (tên thương mại là New City, thuộc khu đất 38,4 ha P.Bình Khánh - TP.Thủ Đức cũ); khu đất 30,2 ha tại Bình Khánh và khu đất 30,1 ha tại Nam Rạch Chiếc; dự án số 39 - 39B Bến Vân Đồn (Q.4 cũ).
Đây đều là những dự án đã bị "treo" hàng chục năm qua, không chỉ khiến nhà nước thất thu, doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề mà người dân cũng khốn khổ vì bị "treo" sổ hồng, phải nộp đơn khiếu kiện khắp nơi. Trong đó, dự án số 39 - 39B Bến Vân Đồn bị vướng vào vụ án, theo kết luận của cơ quan thanh tra, quá trình giao đất cho khu đất này có sai phạm. Vì vậy, các căn hộ đã bàn giao 6 năm, nhưng cư dân vẫn chưa được cấp sổ đỏ. Với chính sách đặc thù, nhà đầu tư được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án sau khi đã xử lý về hành chính, hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, sai phạm, khắc phục hậu quả các vi phạm về kinh tế, thu hồi lợi ích vật chất do hành vi vi phạm theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tương tự, 11 dự án BĐS tại Khánh Hòa bị vướng mắc như vi phạm về quy định cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu hay Đà Nẵng với 49 dự án có vi phạm đều được tháo gỡ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận; giá đất tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…
Đáng chú ý, Nghị định 147/2026 (NĐ147) áp dụng chung trên cả nước, đồng thời cho phép mở rộng áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết 170/2024 để tháo gỡ cho các dự án BĐS tại 3 địa phương nói trên. Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM (HoREA), thời gian qua khi có Nghị quyết 170/2024, tại TP.HCM, Khánh Hòa và Đà Nẵng đã giải quyết được nhiều dự án BĐS tồn đọng. Vì vậy với Nghị quyết 29/2026 của Quốc hội và NĐ147 hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các địa phương trên cả nước sẽ tiếp tục tháo gỡ được hàng ngàn dự án vướng mắc, tồn đọng tương tự. "Nghị quyết 29 của Quốc hội đã tạo ra cơ chế, chính sách công bằng cho tất cả dự án BĐS bị vướng mắc, tồn đọng lâu nay trên cả nước, trong đó tập trung nhiều ở các đô thị lớn. Theo thống kê của Bộ NN-MT, cả nước vẫn còn 3.338 dự án, đất đai còn tồn đọng. Khi được tháo gỡ vướng mắc khó khăn thì nguồn lực đất đai và vốn rất lớn sẽ được giải phóng, tạo động lực góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao", ông Lê Hoàng Châu nhìn nhận.
Theo phân tích của ông Lê Hoàng Châu, điều 12 quy định xử lý tiếp tục giao đất, cho thuê đất với dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Khi được gỡ vướng, các DN sẽ tiếp tục đổ thêm vốn vào thực hiện dự án. Thậm chí, để phù hợp trong tình hình mới, các chủ đầu tư có thể đề xuất điều chỉnh mở rộng quy mô hay điều chỉnh quy hoạch với hệ số sử dụng đất thay đổi nhằm hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Khi đó nguồn thu ngân sách nhà nước bổ sung sẽ gia tăng. Tương tự, điều 13 quy định xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi theo quy định thì các DN sẽ có quỹ đất để tiếp tục thực hiện.
Ông Châu nhấn mạnh: điều 12 và điều 13 tại NĐ147 sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Trong số 3.338 dự án còn tồn đọng trên cả nước, sẽ có rất nhiều dự án có thể được điều chỉnh về quy mô, quy hoạch lại sau rất nhiều năm nằm im. Nguồn lực đất đai được giải phóng, đưa vào sử dụng, không để tiếp tục tình trạng lãng phí. Đồng thời, nguồn vốn đầu tư đã đổ vào các dự án này cũng được khơi thông. Khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ đóng góp nhiều cho mục tiêu đưa kinh tế tăng trưởng 2 chữ số. Ngoài ra, điều 11 của nghị định quy định xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định sẽ tác động đến nhiều nhà đầu tư, khách hàng khi mua sản phẩm BĐS có vi phạm. Ở đây chủ yếu là các sản phẩm căn hộ du lịch (condotel) theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người dân, ổn định về mặt xã hội.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới BĐS VN, cho rằng theo Bộ NN-MT, tính đến ngày 30.3.2025, cả nước có 4.489 dự án, quỹ đất gặp khó khăn, vướng mắc với tổng diện tích lên tới 198.428,1 ha và tổng mức đầu tư hơn 3,3 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng gấp 3 lần tổng vốn đầu tư công năm 2026 (dự kiến 1,1 triệu tỉ đồng). Nếu được khơi thông, đây sẽ là động lực rất lớn thúc đẩy tăng trưởng GDP, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số trong giai đoạn tới. Điểm đáng chú ý là Nghị quyết 29 của Quốc hội không chỉ tập trung vào xử lý trách nhiệm, mà còn cho phép triển khai đồng thời các giải pháp để đưa dự án trở lại hoạt động. Đây là sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy chính sách, từ "đóng băng để xử lý" sang "xử lý để vận hành", qua đó mở ra khả năng kích hoạt lại một lượng lớn nguồn cung và dòng vốn đang bị tắc nghẽn.
Tác động từ cơ chế đặc thù này đối với thị trường BĐS được kỳ vọng sẽ diễn ra trên nhiều chiều. Trước hết, việc tháo gỡ pháp lý cho các dự án tồn đọng sẽ góp phần thúc đẩy nguồn cung. Khi các dự án được "giải phóng", thị trường không chỉ có thêm nguồn cung, mà còn gia tăng mức độ cạnh tranh, giảm áp lực tăng giá cục bộ. Đặc biệt, Nghị quyết 29 có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ nút thắt pháp lý cho phân khúc BĐS du lịch - nghỉ dưỡng, vốn đã gặp khó khăn kéo dài do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Việc đưa ra cơ chế xử lý đối với các trường hợp đã được cấp sổ hồng nhưng chưa đúng quy định được xem là bước đi đầu tiên nhằm "mở khóa" tâm lý thị trường, góp phần khôi phục niềm tin của nhà đầu tư. Ngoài ra còn có tác động lan tỏa tới hệ thống tài chính, ngân hàng. "Trong thời gian qua, việc hàng loạt dự án bị đình trệ đã khiến dòng tiền bị tắc nghẽn, DN mất khả năng thanh toán và gia tăng áp lực nợ xấu. Khi các dự án được tháo gỡ và tái khởi động, dòng tiền sẽ dần được khơi thông, giúp DN cải thiện năng lực tài chính, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng", TS Nguyễn Văn Đính giải thích.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhận xét điều đáng chú ý nhất của Nghị quyết 29 và NĐ147 không chỉ nằm ở việc tháo gỡ cho các dự án tồn đọng, mà nằm ở một thay đổi rất lớn trong tư duy điều hành. Đó là không để nền kinh tế tiếp tục bị "kẹt" vì những tồn đọng của quá khứ. Bởi trong nhiều năm qua, hàng loạt dự án BĐS bị "treo" không hẳn vì không có nhu cầu thị trường, mà chủ yếu do quy định chồng chéo, sai phạm xảy ra qua nhiều giai đoạn, khó xác định nghĩa vụ tài chính. Hệ quả là hàng triệu tỉ đồng tài sản bị "đóng băng", đất đai không được khai thác, DN chết vốn, ngân hàng mắc kẹt dư nợ và nền kinh tế mất đi động lực tăng trưởng.
Một ví dụ rất điển hình là KCN Lê Minh Xuân 2. Đây là KCN nằm ở vị trí chiến lược của cửa ngõ phía tây TP.HCM, từng được kỳ vọng trở thành trung tâm sản xuất và logistics quan trọng. Tuy nhiên, do vướng mắc pháp lý kéo dài nhiều năm, quỹ đất lớn này không thể được khai thác đúng tiềm năng. Khi một dự án công nghiệp bị "đứng hình", thiệt hại không chỉ là câu chuyện của một DN, mà kéo theo cả dòng vốn bị chôn, ngân hàng có thể bị kẹt tín dụng, DN sản xuất lại thiếu mặt bằng, ngân sách thất thu, hàng nghìn việc làm bị bỏ lỡ. Hay như tại Thủ Thiêm, nhiều dự án từng ách tắc nhiều năm vì chưa xác định được nghĩa vụ tài chính đất đai thì nay đã có lối ra. Chỉ cần tháo gỡ được vài dự án lớn như vậy, dòng vốn quay lại thị trường có thể lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng.
Một điểm đáng chú ý khác của NĐ147 là quy định DN phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính theo chênh lệch giữa thời điểm cũ và thời điểm điều chỉnh hiện tại. Đây là cơ chế khá hợp lý vì nhà nước không thất thu ngân sách, DN có cơ hội tiếp tục dự án, thị trường được giải phóng nguồn cung, còn người dân có thêm nhiều sản phẩm để lựa chọn mua để an cư hay đầu tư. "Ý nghĩa lớn nhất của các chính sách cơ chế đặc thù tháo gỡ các dự án BĐS tồn đọng là đánh thức những tài sản đang ngủ quên trong nền kinh tế. Khi một dự án được tháo gỡ, ngân hàng có thể tái cấp tín dụng, nhà đầu tư có thể chuyển nhượng, địa phương có thêm nguồn thu, hàng nghìn lao động quay lại công trường, vật liệu xây dựng, logistics, thương mại, dịch vụ cùng được kích hoạt. Điều này là bước đi rất quan trọng để chuyển từ trạng thái đóng băng nguồn lực sang khơi thông nguồn lực cho phát triển", TS Trần Việt Anh đánh giá.
Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế, TS Huỳnh Thanh Điền nhận định: Đảng và Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao không chỉ là một năm mà là trong nhiều năm tới để đưa VN trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Muốn đạt mục tiêu đó thì tất cả nguồn lực của đất nước phải được huy động và sử dụng hiệu quả. Những nguồn lực nào đang bị kẹt thì phải khơi thông. Cụ thể là việc tháo gỡ hàng ngàn dự án BĐS đang bị tồn đọng. Khi đất đai được đưa vào khai thác, sử dụng thì không còn tình trạng lãng phí mà sẽ tạo ra giá trị cho nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ gia tăng.
Không chỉ thế, việc Chính phủ ban hành hàng loạt nghị quyết để cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính mới đây cũng là một trong những hành động quyết liệt để tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng. Khi môi trường pháp lý rõ ràng, thủ tục điều kiện đơn giản hơn thì DN, người dân cũng mạnh dạn đầu tư kinh doanh. Đồng thời, chi phí tuân thủ pháp lý của DN cũng giảm, tạo ra nguồn lực cho phát triển. "Lịch sử cho thấy sau những giai đoạn tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế sẽ tạo ra các cú hích lớn, đưa kinh tế phát triển mạnh hơn. Với hàng loạt chính sách quan trọng gần đây cho thấy Chính phủ đã xác định đúng trọng tâm, quyết tâm huy động tất cả nguồn lực của đất nước để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao mà Đảng đã đề ra", TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên

Câu chuyện của Nguyễn Thái Sơn và cô sinh viên Nguyễn Thanh An là minh chứng rõ nét cho hành trình này. Với nhân viên kinh doanh như Sơn, kết nối di động ổn định là "văn phòng" di động, giúp anh làm việc mọi lúc mọi nơi từ gửi báo giá, họp trực tuyến đến chia sẻ tài liệu đám mây. Trong khi đó, với thế hệ trẻ như An, Internet hiện diện tự nhiên như điện hay nước, hỗ trợ đắc lực từ việc học tập trực tuyến đến tra cứu dữ liệu và sử dụng các công cụ AI.
Sự khác biệt giữa hai thế hệ cũng phản ánh sự phát triển của viễn thông Việt Nam. Ra mắt vào năm 1996 với quyết tâm làm chủ công nghệ, VinaPhone đã tiên phong phủ sóng toàn quốc và liên tục cập nhật các công nghệ mới. Đến giữa năm 2026, Việt Nam đã có hơn 110 triệu thuê bao băng rộng di động, với 4G phủ sóng rộng khắp và 5G đang được triển khai mạnh mẽ.
Ngày nay, VinaPhone không chỉ cung cấp dịch vụ di động mà còn mở rộng sang hệ sinh thái số toàn diện, bao gồm VNPT Money, VNPT SmartCA, MyTV và các giải pháp AI, Big Data, IoT. Dù những vạch sóng trên màn hình đã trở thành điều hiển nhiên, nhưng phía sau đó là hành trình không ngừng mở rộng, đồng hành cùng người Việt kiến tạo tương lai số.
Tin Gốc: Thanh Niên

