Các giải thưởng do hội đồng giám khảo độc lập gồm các chuyên gia đến từ PwC, Deloitte, EY và Bain & Company bình chọn.
Theo đại diện SHB, việc được vinh danh phản ánh quá trình chuyển đổi của ngân hàng trong những năm gần đây, từ chuyển đổi số đến thúc đẩy tài chính bền vững và triển khai các sáng kiến ESG.
Trong năm 2025, SHB liên tiếp huy động thành công hai khoản vay hợp vốn trung hạn bằng USD theo tiêu chí ESG (môi trường – xã hội – quản trị), với tổng quy mô 600 triệu USD.
Cả hai giao dịch đều ghi nhận sự quan tâm lớn từ thị trường quốc tế. Khối lượng đăng ký tham gia vượt hạn mức chào mời ban đầu, qua đó SHB thực hiện quyền chọn tăng quy mô huy động (greenshoe) nhằm tối ưu cơ cấu nguồn vốn và đáp ứng nhu cầu tài trợ các dự án xanh.
Chuỗi giao dịch thu hút 26 định chế tài chính quốc tế tham gia, phản ánh sức hấp dẫn của SHB đối với các nhà đầu tư và tổ chức cho vay quốc tế. Đồng thời, kết quả này cũng cho thấy xu hướng dịch chuyển của dòng vốn toàn cầu vào các giao dịch đáp ứng tiêu chí ESG tại Việt Nam.
Đáng chú ý, khoản vay hợp vốn ESG năm 2025 được năm tổ chức đồng thu xếp và bảo lãnh (MLABU) gồm Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), CTBC Bank, First Abu Dhabi Bank (FAB), Mashreq Bank và State Bank of India (SBI).
Theo SHB, việc các định chế tài chính quốc tế đảm nhiệm vai trò đồng thu xếp và bảo lãnh cho thấy sự tin tưởng vào thương vụ, năng lực triển khai của ngân hàng cũng như khả năng thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư quốc tế.
Khoản huy động 600 triệu USD từ thị trường quốc tế giúp SHB tăng nguồn vốn ngoại tệ trung và dài hạn, mở rộng dư địa tài trợ cho doanh nghiệp và các dự án theo định hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.
Theo SHB, đây cũng là một trong những yếu tố giúp ngân hàng được vinh danh ở hạng mục “Chương trình ESG tiêu biểu tại Việt Nam”.
Giải thưởng “Ngân hàng chuyển đổi số của năm tại Việt Nam” ghi nhận những kết quả trong quá trình chuyển đổi số của SHB.
Bám sát tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, SHB cho biết đang đồng hành cùng khách hàng và cộng đồng trên hành trình chuyển đổi số, góp phần thúc đẩy tài chính số, tiêu dùng số và hiện đại hóa nền kinh tế.
Ngân hàng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và dữ liệu trong vận hành. Đồng thời, SHB phát triển các nền tảng số như SHB SAHA, SHB Corporate cùng hệ sinh thái giải pháp thanh toán dành cho trường học, bệnh viện và đơn vị hành chính công. Theo SHB, các nền tảng này góp phần nâng cao trải nghiệm khách hàng, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và mở rộng hệ sinh thái số.
Xác định công nghệ là một trong những trụ cột chiến lược, SHB đang triển khai mô hình “Future Bank” với định hướng “5 First”, gồm Data & AI First, People First, Cloud First, Security First và Mobile First, tạo nền tảng xây dựng ngân hàng số hiện đại, an toàn và linh hoạt.
Cũng trong khuôn khổ Asian Banking & Finance Awards 2026, SHB được vinh danh ở hai hạng mục thuộc hệ thống ABF Retail Banking Awards. Đó là “Sáng kiến cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất sắc” và “Sáng kiến giải pháp thanh toán dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất sắc”.
Ngoài các giải thưởng của ABF, thời gian qua SHB cũng được nhiều tổ chức trong và ngoài nước vinh danh. Tiêu biểu là TOP 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á (Fortune SEA 500), TOP 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín (Vietnam Report) và “Ngân hàng có giải pháp tài chính dành cho tiểu thương, hộ kinh doanh tốt nhất Việt Nam” (The Asian Banker).
SHB cho biết đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành ngân hàng số 1 về hiệu quả, ngân hàng số được yêu thích và ngân hàng bán lẻ tốt nhất. Đồng thời, ngân hàng hướng tới nằm trong nhóm dẫn đầu về cung ứng nguồn vốn, sản phẩm tài chính và dịch vụ cho doanh nghiệp chiến lược, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng khách hàng cá nhân.
Đến năm 2035, SHB hướng tới trở thành ngân hàng hiện đại, ngân hàng số và ngân hàng xanh thuộc nhóm dẫn đầu khu vực.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam không thể tiếp tục đi theo lối cũ mà cần thay đổi mô hình tăng trưởng, tháo gỡ các điểm nghẽn về nguyên liệu, lao động, tín dụng và nâng chất lượng sản phẩm.
Không chỉ tăng sản lượng, phải nâng giá trị nông sản
Tại tọa đàm “Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức sáng 9/7, ông Đặng Kim Sơn - nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn - cho rằng, xuất khẩu nông sản có vai trò đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam.
Từ một quốc gia nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản, góp phần cân bằng thương mại, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân.
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70 tỷ USD, trong đó xuất siêu khoảng 20 tỷ USD. Theo ông Sơn, đây không chỉ là con số về thương mại mà còn là nguồn thu nhập trực tiếp đến với người dân nông thôn, góp phần giảm nghèo và bảo đảm an ninh lương thực.
Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng vẫn còn rất lớn nếu ngành nông nghiệp chuyển từ tư duy bán nguyên liệu sang bán giá trị. Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, nông sản Việt Nam cần được gia tăng giá trị bằng câu chuyện văn hóa, lịch sử, tiêu chuẩn xanh, chế biến sâu, tận dụng phụ phẩm và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Ông Sơn cho rằng điều quan trọng nhất là tháo gỡ các rào cản để hàng triệu hộ nông dân nhỏ lẻ liên kết với nhau, tham gia chuỗi giá trị và tiếp cận trực tiếp thị trường quốc tế. Khi thị trường vận hành hiệu quả, khoa học công nghệ, vốn đầu tư và thương hiệu sẽ phát huy vai trò nâng giá trị nông sản.
Ở góc độ doanh nghiệp xuất khẩu, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho rằng mục tiêu 100 tỷ USD chỉ còn khoảng 500 ngày để thực hiện, cũng là áp lực lớn cho toàn ngành.
Theo ông Nam, cần thành lập một ban chỉ đạo quy mô quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, kết nối các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và địa phương để triển khai một chương trình hành động thống nhất, rà soát toàn bộ dư địa về thị trường, thể chế và thực thi.
Thay đổi tư duy sản xuất để giữ thị trường
Theo đại diện VASEP, ba “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay của ngành nông nghiệp gồm nguồn nguyên liệu, thiếu lao động và nguồn vốn tín dụng. Theo đó, muốn tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu, doanh nghiệp phải có đủ nguồn nguyên liệu trong nước cũng như chủ động khai thác nguồn nguyên liệu toàn cầu để phục vụ chế biến.
Ngành thủy sản cũng đang thiếu nhân công nghiêm trọng trong khi nhiều địa phương vẫn đẩy mạnh xuất khẩu lao động, khiến doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất để đáp ứng đơn hàng.
Cuối cùng, theo ông Nam, nếu muốn nâng kim ngạch xuất khẩu thêm hàng chục tỷ USD thì quy mô tín dụng cũng phải thay đổi tương ứng, thay vì vẫn áp dụng cách tiếp cận như hiện nay.
Còn theo ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, mục tiêu tăng thêm gần 30 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu là thách thức rất lớn, đòi hỏi sự điều phối thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Theo ông Bình, điểm yếu lớn nhất hiện nay là sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ, phụ thuộc tập quán canh tác cũ, khiến đất đai bị suy thoái, tồn dư kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật, làm giảm khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu.
Ngoài ra, năng lực kiểm nghiệm, kiểm dịch còn hạn chế khiến nhiều lô hàng, đặc biệt là trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc, phải chờ thông quan kéo dài. Ông đề xuất đẩy nhanh số hóa hoạt động kiểm dịch, kết nối dữ liệu với cơ quan hải quan Trung Quốc và mở rộng hệ thống kiểm định ngay tại vùng nguyên liệu để rút ngắn thời gian thông quan.
Về lâu dài, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng ngành nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy chạy theo sản lượng sang lấy chất lượng và an toàn thực phẩm làm trung tâm.
“Cần tập trung đầu tư vào những ngành hàng có lợi thế và còn nhiều dư địa như gạo, cà phê, trái cây và thủy sản, đồng thời đẩy nhanh việc cấp mã số vùng trồng để mở rộng xuất khẩu sang các thị trường lớn như Trung Quốc”, ông Bình nhấn mạnh.
Sau mỗi vụ gặt tại Vĩnh Long, Đồng Tháp, máy cuộn rơm nhanh chóng xuất hiện để thu gom phụ phẩm. Theo khảo sát thị trường, rơm tươi bán ngay tại ruộng có giá 70.000-110.000 đồng một công, tương đương khoảng 700.000-1,1 triệu đồng mỗi ha. Rơm cuộn bán sỉ dao động 15.000-25.000 đồng một cuộn, tùy thời điểm.
Ông Nguyễn Văn Hùng, nông dân canh tác 2 ha lúa ở Vĩnh Long, cho biết mỗi vụ thu thêm vài triệu đồng từ bán rơm, coi như khoản bù một phần chi phí phân bón. Theo các thương lái, lượng rơm này được bán cho các cơ sở trồng nấm, chăn nuôi hoặc sản xuất phân hữu cơ thay vì bị đốt bỏ như trước.
Chia sẻ với VnExpress, PGS TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không chỉ nhằm giảm phát thải mà còn là quá trình tái tạo giá trị từ những nguồn tài nguyên từng bị bỏ phí.
Theo ông, thay vì đốt rơm rạ sau thu hoạch, người dân có thể xử lý bằng chế phẩm vi sinh để sản xuất phân hữu cơ hoặc than sinh học (biochar), qua đó tham gia thị trường tín chỉ carbon. Khoảng 80% sinh khối cây cà phê cũng chưa được khai thác hiệu quả nhưng có thể dùng để trồng nấm, sau đó tiếp tục tái chế thành phân hữu cơ và biochar, mở rộng chuỗi giá trị.
Ngoài việc tận dụng phụ phẩm, chuyển đổi xanh còn giúp giảm chi phí sản xuất nhờ ứng dụng công nghệ. Theo ông Thọ, việc ứng dụng drone, cảm biến và công nghệ số giúp giảm lượng nước tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chi phí nhân công, đồng thời nâng hiệu quả sản xuất và giảm phát thải.
Thực tế, tại một số địa phương ở TP HCM, nhiều nông dân và hợp tác xã đã đưa máy bay không người lái (drone) vào gieo sạ, phun thuốc bảo vệ thực vật. Với 2 ha lúa, ông Thành ở xã Long Điền cho biết mỗi ha tiết kiệm khoảng 500.000 đồng tiền thuốc, 350.000 đồng tiền nhân công, đồng thời năng suất tăng thêm 3-5% nhờ hạn chế giẫm đạp lên lúa.
Không chỉ trong nông nghiệp, nhiều doanh nghiệp cũng tận dụng quá trình chuyển đổi xanh để gia tăng giá trị từ hoạt động sản xuất.
Chia sẻ tại hội thảo "Chuyển đổi xanh, cần gì để tăng tốc" ở TP HCM, ông Võ Chánh Ngữ, Giám đốc Ban Chuyển đổi số, Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), cho biết doanh nghiệp đã xây dựng mô hình nhà máy thông minh, ứng dụng AI trong quản lý vận hành và bảo trì dự báo. Trong gần 5 năm qua, các giải pháp này giúp giảm khoảng 5% mức tiêu hao năng lượng, đồng thời phát hiện sớm nguy cơ hỏng hóc để hạn chế các đợt dừng nhà máy ngoài kế hoạch.
Theo ông Ngữ, lượng CO₂ phát sinh trong quá trình sản xuất được thu hồi để chế biến thành CO₂ thực phẩm thay vì phát thải trực tiếp ra môi trường, qua đó gia tăng giá trị của nguồn tài nguyên này. Tại nhiều quốc gia, CO₂ thu hồi từ các nhà máy phân bón, ethanol hoặc hóa chất được tinh chế để cung cấp cho ngành đồ uống, chế biến và bảo quản thực phẩm, vừa giảm phát thải vừa tạo thêm nguồn thu từ sản phẩm phụ.
Không chỉ tạo thêm giá trị từ phụ phẩm, nhiều doanh nghiệp còn xem chuyển đổi xanh là điều kiện để nâng sức cạnh tranh trên thị trường.
Đại diện C.P. Việt Nam cho biết doanh nghiệp triển khai chuyển đổi xanh trên toàn bộ chuỗi sản xuất, từ thức ăn chăn nuôi, trang trại đến chế biến thực phẩm. Hiện khoảng 34% năng lượng doanh nghiệp sử dụng đến từ nguồn tái tạo; công ty đã chấm dứt sử dụng than đá từ giai đoạn 2020-2021 và tận dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất khí sinh học phục vụ hoạt động sản xuất.
Theo đại diện C.P. Việt Nam, việc đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững giúp doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính. Đến nay, công ty đã xuất khẩu khoảng 10.000 tấn thịt gà sang Nhật Bản và lần đầu đưa sản phẩm vào thị trường Singapore.
Cùng với doanh nghiệp, các ngân hàng cũng tăng quy mô tín dụng xanh để đáp ứng nhu cầu đầu tư cho quá trình chuyển đổi.
Đại diện Nam A Bank cho biết tín dụng xanh hiện chiếm khoảng 10% tổng dư nợ của ngân hàng, cao hơn mức bình quân 4-5% của toàn ngành. Ngân hàng triển khai các gói vay có lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-2% dành cho các dự án năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao và công trình xanh, đồng thời kết nối doanh nghiệp với các quỹ đầu tư quốc tế.
Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh khu vực 2, tín dụng xanh hiện chiếm khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn ngành nhưng duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20% mỗi năm kể từ năm 2017. Dòng vốn này hiện tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, nông thôn với các hoạt động sản xuất xanh, sạch (32%) và năng lượng (30%).
Ông cho biết Chính phủ đã ban hành danh mục phân loại dự án xanh, tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng triển khai chính sách ưu đãi. Ngân hàng Nhà nước cũng đang xây dựng dự thảo hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh.
Tuy nhiên, theo ông, việc thẩm định các dự án vay vốn xanh vẫn cần được cụ thể hóa hơn do các tiêu chí đánh giá và cơ sở pháp lý phục vụ công tác thẩm định vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
Bộ Tài chính vừa trả lời kiến nghị của cử tri TP.HCM do Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chuyển đến, liên quan chính sách thuế thu nhập cá nhân và thuế đối với hộ kinh doanh.
Theo cử tri, chi phí thuê mặt bằng, nhân công, nguyên vật liệu và sinh hoạt tại TP.HCM đều ở mức cao. Nhiều hộ kinh doanh có doanh thu từ 1-2 tỉ đồng/năm nhưng sau khi trừ chi phí chỉ còn lợi nhuận tương đương người làm công ăn lương.
Do đó cử tri cho rằng ngưỡng doanh thu miễn thuế 1 tỉ đồng/năm chưa phù hợp với điều kiện thực tế của đô thị đặc biệt như TP.HCM, đề nghị nghiên cứu nâng ngưỡng chịu thuế lên khoảng 3 tỉ đồng/năm, tránh tình trạng cào bằng.
Trả lời kiến nghị, Bộ Tài chính cho biết Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi và các nghị định hướng dẫn đã bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh.
Theo đó cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Với doanh thu năm trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng, người nộp thuế được lựa chọn một trong hai phương pháp tính thuế, gồm tính theo thu nhập (doanh thu trừ chi phí) với thuế suất 15%, hoặc tính theo tỉ lệ trên doanh thu theo từng ngành nghề như bán hàng hóa 0,5%, dịch vụ ăn uống 1,5%...
Nếu lựa chọn tính theo tỉ lệ trên doanh thu, phần doanh thu đến 1 tỉ đồng vẫn được miễn thuế, chỉ phần vượt ngưỡng mới phải tính thuế.
Đối với cá nhân kinh doanh áp dụng phương pháp tính trên thu nhập, nhiều khoản chi phí hợp lý được khấu trừ như chi phí nguyên vật liệu, tiền lương, bảo hiểm bắt buộc, khấu hao tài sản, chi phí điện, nước, thuê mặt bằng, vận chuyển, lãi vay và các chi phí phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như vậy cá nhân kinh doanh cũng được áp dụng các khoản giảm trừ gia cảnh tương tự người có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Đồng thời hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu đến 1 tỉ đồng/năm không thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng.
Theo Bộ Tài chính, hiện có khoảng 2,5 triệu hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 1 tỉ đồng/năm.
Với chính sách này, dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 16.650 tỉ đồng so với năm 2025.
Mặt khác các chính sách hỗ trợ này mới được ban hành nên cần thời gian triển khai và đánh giá hiệu quả trước khi xem xét điều chỉnh tiếp.
Cơ quan này cũng cho rằng việc quy định ngưỡng doanh thu miễn thuế khác nhau giữa TP.HCM và các địa phương khác sẽ tạo ra sự khác biệt trong chính sách, không bảo đảm tính thống nhất và có thể làm giảm động lực phát triển của các hộ kinh doanh tại những địa bàn còn khó khăn.
Cử tri TP.HCM cũng đề nghị nghiên cứu điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh theo từng vùng hoặc cập nhật hằng năm, hằng quý để phù hợp với biến động chi phí sinh hoạt, nhất là tại các đô thị lớn.
Bộ Tài chính cho biết từ kỳ tính thuế năm 2026, mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế đã tăng lên 15,5 triệu đồng/tháng và mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng, cao hơn khoảng 1,4 lần so với năm 2025.
Theo số liệu của Cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt khoảng 5,9 triệu đồng/tháng, còn thu nhập bình quân của lao động khu vực thành thị khoảng 10,1 triệu đồng/tháng. Như vậy mức giảm trừ cho bản thân hiện nay cao gần gấp ba lần thu nhập bình quân đầu người và cao hơn đáng kể so với thông lệ nhiều quốc gia.
Ngoài giảm trừ gia cảnh, từ năm 2026 người nộp thuế còn được khấu trừ thêm chi phí khám chữa bệnh tối đa 23 triệu đồng/năm và chi phí giáo dục - đào tạo tối đa 24 triệu đồng/năm.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, trường hợp người nộp thuế có một người phụ thuộc và được áp dụng tối đa các khoản giảm trừ về y tế, giáo dục thì với mức thu nhập khoảng 28,63 triệu đồng/tháng mới bắt đầu phát sinh nghĩa vụ nộp thuế.
Về đề xuất điều chỉnh giảm trừ gia cảnh theo từng vùng hoặc cập nhật thường xuyên, Bộ Tài chính cho biết hầu hết các quốc gia đều áp dụng một mức giảm trừ gia cảnh thống nhất trên phạm vi cả nước thay vì theo từng vùng.
Việc xác định mức giảm trừ theo địa bàn rất phức tạp do người lao động có thể sinh sống, làm việc, phát sinh thu nhập và có người phụ thuộc ở nhiều địa phương khác nhau.