Động thái này diễn ra trong bối cảnh Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, trong đó có đề xuất loại bỏ ngành nghề sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ôtô khỏi danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Ba doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này là các tập đoàn Trường Hải (Thaco), Thành Công (TC Group) và VinFast đồng loạt kiến nghị Thủ tướng, Bộ Công Thương, Tài chính cân nhắc lại đề xuất trên.
Thaco cho rằng việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh với lĩnh vực ôtô chưa phù hợp. Bởi, đây là ngành công nghiệp nền tảng, tác động đến nhiều ngành, đồng thời có khả năng ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường. Do vậy, sản phẩm có yêu cầu rất cao về chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ôtô cũng có thời gian sử dụng lâu dài với yêu cầu chất lượng cao. Do đó, người tiêu dùng cần được bảo đảm quyền tiếp cận các nhà sản xuất, phân phối có đủ năng lực về bảo hành, bảo dưỡng, cung ứng linh phụ kiện thay thế và triệu hồi sản phẩm lỗi.
“Việc đáp ứng các điều kiện về nhà xưởng, dây chuyền, cơ sở bảo hành, bảo dưỡng không phải rào cản hành chính mà để đảm bảo chất lượng, trách nhiệm của nhà sản xuất suốt vòng đời sử dụng”, Thaco nêu.
Cùng quan điểm, phía VinFast khẳng định các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật thể hiện năng lực, cam kết đầu tư nghiêm túc và lâu dài của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe. Hãng cũng kiến nghị giữ lại các thủ tục hành chính trong nhập khẩu, sản xuất ôtô để tránh nguy cơ để lọt các doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu.
“Nguy cơ thiệt hại cho người tiêu dùng càng lớn hơn vì ôtô loại hàng hóa có giá trị cao, kỹ thuật và công nghệ phức tạp”, VinFast lo ngại.
Những năm qua, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp như hãng đã đầu tư lớn vào hệ thống nhà xưởng, dây chuyền công nghệ, nhân lực và hệ thống cung ứng nội địa. TC Group cho rằng việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh bắt buộc sẽ không công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp với nhập khẩu ôtô.
“Nếu các điều kiện kinh doanh với xe trong nước và nhập khẩu bị bãi bỏ hoàn toàn, doanh nghiệp nhập khẩu có thể tham gia thị trường với rào cản thấp hơn. Điều này dẫn tới bất lợi cho các doanh nghiệp đã đầu tư và có chiến lược dài hạn vào sản xuất trong nước”, hãng cho biết.
Trước đó, khi dự kiến đưa khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện, Bộ Công Thương cũng đề cập tới một số rủi ro tương tự các doanh nghiệp trên. Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các quy định hiện hành thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất để sản xuất, lắp ráp ôtô từ linh kiện rời. Nếu bỏ các quy định này, doanh nghiệp có thể nhập khẩu nguyên khối thân xe tương đối hoàn chỉnh và chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản. Điều này sẽ khiến ngành công nghiệp ôtô trong nước mất động lực nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Bộ cũng không loại trừ một số quốc gia gần kề như Trung Quốc, đang dư thừa lớn công suất sản xuất ôtô, sẽ chuyển phần dư thừa này sang Việt Nam dưới dạng các dự án FDI lắp ráp đơn giản, nhằm lẩn tránh quy định về xuất xứ, từ đó xuất khẩu sang các quốc gia khác. Khi đó, Việt Nam có nguy cơ bị các quốc gia điều tra về hành vi trung chuyển hàng hóa, bị áp dụng các biện pháp thuế quan trừng phạt với nhiều ngành xuất khẩu khác.
Trong khi đó, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) lại cho rằng phương án bãi bỏ là phù hợp với xu thế cải cách và có đủ cơ sở thực tiễn.
Theo VCCI, hiện nay mọi xe ôtô sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu đều phải qua kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi được lưu hành. Hệ thống đăng kiểm, cơ chế triệu hồi sản phẩm khuyết tật và trách nhiệm sản phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tạo ra lớp bảo vệ hậu kiểm đủ mạnh.
“Giấy chứng nhận sản xuất, lắp ráp và giấy phép kinh doanh nhập khẩu ôtô thực chất là lớp tiền kiểm chồng lên các công cụ quản lý kỹ thuật đã có, làm tăng chi phí tuân thủ mà không bổ sung thêm giá trị bảo vệ an toàn công cộng”, VCCI đánh giá.
Cơ quan này đánh giá các yêu cầu về cơ sở bảo hành, ủy quyền chính hãng và giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại từ nước sản xuất tạo rào cản gia nhập rất cao, khiến thị trường nhập khẩu ôtô bị chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn. Hệ quả là giá ôtô tại Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN khi so sánh theo sức mua tương đương, trong khi người tiêu dùng có ít lựa chọn hơn.
Về lo ngại trung chuyển hàng hóa và dư thừa công suất, VCCI cho rằng Việt Nam có đủ khung pháp lý về chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ thương mại. Quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên cũng quy định rõ tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa để được hưởng ưu đãi thuế quan. Đây là các công cụ phù hợp với cam kết quốc tế để xử lý vấn đề lẩn tránh xuất xứ, thay vì sử dụng điều kiện kinh doanh như một hàng rào kỹ thuật trá hình.
Thực tế sau hơn 20 năm, tỷ lệ nội địa hóa của ngành ôtô Việt Nam vẫn ở mức thấp, trung bình 7-10% với xe con, so với 70-80% tại Thái Lan. Theo VCCI, thực tế này cho thấy rào cản gia nhập thị trường không phải là công cụ hiệu quả để thúc đẩy nội địa hóa. Thay vào đó, các chính sách như ưu đãi thuế cho linh kiện sản xuất trong nước, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ phù hợp hơn.
Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các điều kiện kinh doanh hiện hành được thiết kế cho mô hình sản xuất ôtô truyền thống với các công đoạn hàn, sơn, lắp ráp có thể không còn phù hợp, tạo rào cản cho các nhà đầu tư mới trong lĩnh vực xe điện, xe tự hành. Kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy các nước này không sử dụng cơ chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp mà quản lý hoàn toàn bằng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế triệu hồi bắt buộc và trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật dân sự.
Vì vậy, VCCI ủng hộ phương án bãi bỏ ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời đề nghị Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế hậu kiểm để bảo đảm an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ngành công nghiệp ôtô trong nước đang chiếm trên 3% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo việc làm cho khoảng 200.000 lao động trực tiếp có kỹ năng thuộc lĩnh vực sản xuất lắp ráp ôtô và công nghiệp hỗ trợ. Sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước liên tục tăng, từ 323.892 xe năm trong 2020 lên khoảng hơn 500.000 xe trong năm 2025, chiếm khoảng 65-75% tổng số xe bán ra.
Hiện, cả nước có khoảng 650 nhà sản xuất và phụ tùng ôtô tại Việt Nam, trong đó doanh nghiệp cung ứng linh kiện đạt tiêu chuẩn nhà cung ứng cấp 1 cho các hãng ô tô lớn lên tới hơn 400 doanh nghiệp, tăng hơn 200% so với năm 2016.
Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Ủy ban chính quyền tỉnh Champasak (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) mới đây đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư dự án phát triển 5.000ha cà phê.
Dự lễ ký kết có lãnh đạo Ủy ban chính quyền tỉnh Champasak (tỉnh Champasak), Tổng Lãnh sự nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại thành phố Đà Nẵng và lãnh đạo UBND tỉnh Gia Lai, đại diện Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai.
Theo nội dung ký kết, hai bên sẽ hợp tác phát triển trồng 5.000ha cà phê trên cao nguyên Bolaven và xây dựng nhà máy chế biến tại huyện Paksong, đều thuộc tỉnh Champasak. Nơi đây được đánh giá là một trong những vùng trồng cà phê chất lượng cao của Đông Nam Á.
Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hoàng Anh Gia Lai, cho biết ngoài việc phát triển cà phê tại tỉnh Champasak, doanh nghiệp đang đặt mục tiêu mở rộng vùng nguyên liệu lên hơn 20.000ha tại Lào, Campuchia và Việt Nam.
"Cùng với phát triển nông nghiệp, đơn vị sẽ hỗ trợ các mảng đào tạo thể thao, xây nhà cộng đồng tại tỉnh Champasak. Tôi mong muốn, với sự hỗ trợ từ tỉnh Champasak dự án sẽ nhanh chóng được triển khai", ông Đức cho hay.
Ông Alounxay Sounnalath, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Champasak, khẳng định địa phương sẽ chỉ đạo các ngành tạo điều kiện thuận lợi và phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và UBND tỉnh Gia Lai trong lĩnh vực đầu tư nông nghiệp công nghệ cao.
“Tỉnh kỳ vọng doanh nghiệp sớm thúc đẩy triển khai dự án, tạo động lực cho sự phát triển của địa phương”, ông Alounxay Sounnalath nhấn mạnh.
Tại lễ ký kết, ông Nguyễn Hữu Quế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đánh giá cao việc hợp tác giữa Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và tỉnh Champasak. Theo ông Quế, thời gian qua Gia Lai không ngừng đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hướng đến mô hình trang trại hữu cơ.
Phó Chủ tịch UBND Gia Lai nhấn mạnh, việc ký kết biên bản ghi nhớ này không chỉ là sự hợp tác đầu tư đơn thuần mà còn thể hiện mối quan hệ đồng hành lâu dài giữa tỉnh Gia Lai và tỉnh Champasak trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Dự án này cũng kỳ vọng sẽ góp phần tạo nguồn thu ngân sách và giải quyết việc làm cho lao động ở Champasak.
Hôm 2/4, Starbucks thông báo đã hoàn tất thỏa thuận bán quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc cho Boyu Capital. Theo đó, hai bên thành lập liên doanh mới, do Boyu Capital nắm 60% cổ phần. Starbucks giữ phần còn lại và tiếp tục cấp phép thương hiệu, sở hữu trí tuệ cho liên doanh này.
Theo ChinaDaily, dựa trên định giá liên doanh khoảng 4 tỷ USD - không bao gồm tiền mặt và nợ, Boyu sẽ mua phần cổ phần tương ứng.
Thương vụ được chốt trong bối cảnh Starbucks duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ tại Trung Quốc. Trong báo cáo gần nhất, doanh thu thuần quý tài chính kết thúc ngày 28/12/2025 đạt 23 triệu USD, tăng 11%. Đây là quý tăng trưởng thứ 5 liên tiếp của chuỗi cà phê Mỹ ở thị trường lớn thứ hai toàn cầu, sau quê nhà.
Tuy nhiên, so với sự mở rộng của thị trường và đối thủ, đà tăng trưởng này không đủ để Starbucks duy trì vị thế. Đến Trung Quốc 30 năm trước, chuỗi này được coi là góp phần thúc đẩy văn hóa uống cà phê tại đất nước có văn hóa trà lâu đời.
Theo nền tảng dữ liệu Statista (Đức), tiêu thụ cà phê trung bình của người Trung Quốc đạt hơn 16 tách mỗi người vào năm 2024, còn rất thấp so với thế giới nhưng đã tăng hơn gấp đôi cách đó 5 năm. Ngày nay, nhiều chuyên gia xem Trung Quốc là một trong những thị trường cà phê triển vọng nhất.
Nhưng vài năm gần đây, thị phần của Starbucks lại giảm sút do cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ địa phương, từ 34% năm 2019 xuống còn 14% vào 2024, theo Euromonitor International. Hàng loạt chuỗi nội địa như Cotti Coffee và Manner bán đồ uống với giá chỉ bằng một nửa so với Starbucks.
Đặc biệt, sức ép hàng đầu đến từ gã khổng lồ Luckin, với hơn 30.000 cửa hàng toàn cầu, chủ yếu tại quê nhà. Năm tài chính 2025, Luckin báo cáo tăng trưởng kỷ lục. Công ty đạt tổng doanh thu thuần 49,29 tỷ nhân dân tệ (7,16 tỷ USD), tăng 43% so với 2024, lợi nhuận hoạt động tăng 43,5%.
Không chỉ áp đảo về quy mô, điều làm nên khác biệt của Luckin là khả năng xây dựng tập khách hàng trực tuyến lớn thông qua ứng dụng đặt hàng, theo Mingchao Xiao, nhà sáng lập Zhimeng Trends Consulting.
Ngoài ra, Luckin gần đây tăng cường lấn sân sang phân khúc cao cấp, mở các cửa hàng hạng sang để bán đồ uống giá cao hơn. Khách hàng lui tới có thể chọn loại hạt từ Brazil, Ethiopia hoặc tỉnh Vân Nam. Đây vốn là hình thức phục vụ tùy chọn loại hạt đa dạng xuất xứ quen thuộc tại Starbucks.
Trước sức ép lớn của các đối thủ, Starbucks cần một chiến lược mới để giành lại thị phần. Hãng mô tả liên doanh mới với Boyu Capital "được thiết kế tỉ mỉ" và đặt tham vọng dài hạn có 20.000 cửa hàng, từ mức 8.000 quán hiện tại.
Ông Brian Niccol, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Starbucks, kỳ vọng liên doanh mới thúc đẩy nhanh khả năng tăng trưởng có chủ đích và kỷ luật. "Liên doanh sẽ cho phép chúng tôi phục vụ nhiều khách hàng hơn, mở rộng phạm vi hoạt động sang nhiều thành phố hơn và củng cố vị thế dẫn đầu trong một thị trường năng động và luôn thay đổi", ông nói.
Cơ sở niềm tin này nằm ở năng lực của Boyu Capital. Thành lập năm 2011, công ty đầu tư Trung Quốc này đã rót vốn vào hơn 200 công ty, bao gồm những tên tuổi nổi tiếng ở nước này như nền tảng giải trí iQiyi, hệ thống các trung tâm mua sắm cao cấp SKP và đặc biệt là chuỗi Mixue.
Ông Brady Brewer, Giám đốc điều hành Starbucks Quốc tế, đánh giá Boyu có mô hình hoạt động giúp đẩy nhanh tốc độ mở rộng, nâng cao lợi nhuận và mang đưa thương hiệu đến nhiều cộng đồng hơn trên khắp Trung Quốc.
Zhu Danpeng, nhà phân tích thực phẩm và đồ uống độc lập tại Quảng Châu, cho biết Boyu sở hữu tầm nhìn chiến lược rất sắc bén. Chuyên gia này dự đoán Starbucks sẽ trải qua 3 thay đổi lớn: tăng tốc mở cửa hàng, hoạt động bản địa hóa chính xác và khoa học hơn và tăng cường tích hợp chuỗi cung ứng.
Starbucks đã có 3-4 năm kinh nghiệm trong việc thâm nhập các thành phố nhỏ hơn ở Trung Quốc nhưng ông Zhu tin rằng sự tham gia của Boyu sẽ củng cố hơn nữa lộ trình này, củng cố tầm ảnh hưởng của Starbucks trong phân khúc cao cấp.
"Được thúc đẩy bởi kế hoạch bản địa hóa toàn diện, thương vụ này sẽ đóng vai trò tiên phong trong việc định hình toàn bộ bối cảnh thương hiệu cà phê cao cấp tại Trung Quốc", ông Zhu nhận xét.
Bà Molly Liu, CEO Starbucks Trung Quốc, tiết lộ thỏa thuận sẽ thúc đẩy chiến lược "siêu địa phương hóa", bao gồm cung cấp các loại đồ uống, thực phẩm và hàng hóa thủ công cao cấp, phù hợp với nhu cầu mua hàng trực tiếp và trực tuyến ngày càng phát triển của nhiều cộng đồng đa dạng trên khắp đất nước.
Báo cáo "Café East Asia 2026" của nền tảng thông tin chuyên ngành cà phê World Coffee Portal cho biết Trung Quốc có hơn 85.500 quán cà phê theo chuỗi năm qua, tăng trưởng đến 31,5%. Đây là thị trường duy nhất thế giới có thêm đến 20.000 quán mở mới trong vòng một năm.
Công ty nghiên cứu thị trường Mordor Intelligence cho rằng đang có sự "bùng nổ văn hóa quán cà phê" ở nước này, với mục đích thưởng thức lẫn xã giao.
Để cạnh tranh, nhiều chuỗi cà phê đang đa dạng hóa sản phẩm bằng cách kết hợp thêm các loại trà, đồ ăn nhẹ và đồ uống mang đậm bản sắc văn hóa, đồng thời tăng cường hiện diện trên mạng xã hội. Điều này cũng khiến các thương hiệu toàn cầu đến đây phải điều chỉnh chiến lược để thích ứng với một thị trường phát triển nhanh nhưng cạnh tranh khốc liệt.
"Trung Quốc vẫn là một trong những thị trường dài hạn đầy triển vọng nhất của chúng tôi", Chủ tịch kiêm CEO Startbucks Brian Niccol, khẳng định.
Ngày 7-5, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, hướng tới kết nối dữ liệu, phát triển hệ sinh thái số và kiến tạo trải nghiệm liền mạch cho hàng chục triệu người dùng trên đa nền tảng.
Theo thỏa thuận, Vietcombank và VTV sẽ triển khai hợp tác trên ba trụ cột chính gồm tích hợp hệ sinh thái số và dịch vụ tài chính, cộng hưởng hệ sinh thái khách hàng; lan tỏa tri thức tài chính và thúc đẩy môi trường số an toàn, minh bạch.
Cụ thể, các giải pháp ngân hàng của Vietcombank sẽ được kết nối với nền tảng số của VTV nhằm hình thành hành trình liền mạch từ tiếp cận nội dung, tương tác đến thanh toán và sử dụng dịch vụ.
Hai bên đồng thời mở rộng khả năng cá nhân hóa, phát triển các tiện ích và đặc quyền mới cho người dùng.
Ngoài ra, Vietcombank và VTV sẽ phối hợp xây dựng các nội dung chuyên sâu về tài chính nhằm nâng cao kỹ năng quản lý tài sản, nhận diện rủi ro và phổ cập kiến thức tài chính cho người dân, doanh nghiệp.
Phát biểu tại lễ ký kết, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch hội đồng quản trị Vietcombank, cho biết sự hợp tác giữa hai thương hiệu quốc gia không chỉ nhằm cộng hưởng giá trị từ hai hệ sinh thái hàng đầu mà còn hướng tới mục tiêu tạo ra nhiều giá trị thiết thực hơn cho cộng đồng và nền kinh tế.
"Vietcombank mong muốn cùng VTV xây dựng các chương trình truyền thông, phổ cập kiến thức tài chính, góp phần nâng cao hiểu biết về tài chính minh bạch, an toàn cho người dân, doanh nghiệp" - Chủ tịch Vietcombank cho biết.
Trong khi đó, ông Nguyễn Thanh Lâm - Tổng giám đốc VTV - đánh giá cao sự kết nối giữa hai hệ sinh thái lớn sẽ tạo ra trải nghiệm số liền mạch, hiện đại và cá nhân hóa hơn cho người dùng
Ông cho rằng đây cũng là bước đi góp phần thúc đẩy phát triển hạ tầng số quốc gia, kinh tế số nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thúc đẩy kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn mới.
Lãnh đạo hai bên cũng nhận định việc ký kết hợp tác toàn diện giữa Vietcombank và VTV không chỉ đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai đơn vị, mà còn phản ánh xu hướng hội tụ đa ngành trong nền kinh tế số.
Từ kết nối đến cộng hưởng, từ nền tảng đến hệ sinh thái, hợp tác này được kỳ vọng sẽ góp phần định hình những mô hình tích hợp mới giữa nội dung - dữ liệu - dịch vụ, qua đó nâng cao trải nghiệm người dùng và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia.
Theo các chuyên gia tài chính, trong dòng chảy phát triển của đất nước, thông tin và tài chính luôn là hai động lực song hành, cộng hưởng để tạo nên những giá trị mới.
VTV - cơ quan truyền thông chủ lực quốc gia - đang vận hành hệ sinh thái nội dung đa nền tảng với khả năng lan tỏa rộng khắp, kết nối hàng chục triệu người dùng.
Trong khi đó, qua hơn sáu thập kỷ phát triển, Vietcombank giữ vai trò là định chế tài chính chủ lực, tiên phong trong chuyển đổi số và kiến tạo hệ sinh thái tài chính hiện đại.