Chiều 23.5, trao đổi với Thanh Niên, PGS-TS Nguyễn Đức Thắng, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Đông Á, Trưởng khoa Du lịch Trường Đại học Công nghệ Đông Á, đồng thời là Tổng thư ký Liên chi hội Đào tạo du lịch VN, cho rằng câu chuyện thiếu hướng dẫn viên ở nhiều ngoại ngữ cần được nhìn nhận từ góc độ cung – cầu của toàn thị trường. Hiện nay các trường đại học và cơ sở đào tạo ngoại ngữ đang tập trung mạnh vào các ngôn ngữ có nhu cầu lớn như tiếng Trung, tiếng Hàn và tiếng Nhật, bên cạnh tiếng Anh. Đây là xu hướng xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường lao động và lựa chọn của người học. Thực tế, đa phần người lao động hiện nay không chỉ làm hướng dẫn viên du lịch mà còn tham gia thương mại, phiên dịch hoặc nhiều lĩnh vực khác liên quan đến ngoại ngữ. Họ sẽ ưu tiên học những ngôn ngữ có cơ hội việc làm rộng và nhu cầu xã hội cao.
Dẫn chứng với tiếng Nhật, dù vẫn là một trong những thị trường khách inbound trọng điểm của VN nhưng nhiều trường đã bắt đầu ghi nhận tình trạng tuyển sinh giảm sau Covid-19, PGS-TS Nguyễn Đức Thắng nhận định, điều này cho thấy xu hướng lựa chọn ngoại ngữ của sinh viên thay đổi rất nhanh theo thị trường lao động. Các cơ sở đào tạo “không có lỗi” trong câu chuyện thiếu nhân lực các ngoại ngữ khác, bởi bản thân nhà trường cũng phải vận hành theo nhu cầu xã hội và bài toán tuyển sinh. Không thể yêu cầu các trường tự mở ngành tiếng Nga hay tiếng Ba Lan nếu không có định hướng, đặt hàng cụ thể từ ngành du lịch và địa phương.
Từ thực tế làm nghề, anh Hồ Viết Thắng, hướng dẫn viên du lịch tự do có khoảng 5 năm kinh nghiệm tại khu vực miền Trung như Đà Nẵng, Hội An, Huế, nói rằng tình trạng thiếu hụt hướng dẫn viên tiếng Nga hiện diễn ra khá rõ, không chỉ ở Nha Trang mà cả Đà Nẵng khi lượng khách Đông Âu đang tăng trở lại. Hiện nay phần lớn hướng dẫn viên tiếng Nga tại VN là du học sinh hoặc Việt kiều từng sinh sống ở Nga. Trong khi đó, việc đào tạo tiếng Nga trong nước khá hạn chế, ít trường giảng dạy, ít nơi cấp chứng chỉ, khiến nguồn nhân lực ngày càng mỏng. Tiếng Nga khó học hơn nhiều ngoại ngữ khác, từ chữ viết đến phát âm. Trong khi đó, sinh viên lại không nhìn thấy lộ trình nghề nghiệp rõ ràng nên ít người chọn theo học.
Nhiều doanh nghiệp hiện phải sử dụng giải pháp “chữa cháy”, kết hợp trưởng đoàn người Nga với hướng dẫn viên tiếng Anh để phục vụ khách. Tuy nhiên, cách làm này chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu cơ bản và khó mang lại trải nghiệm chuyên sâu cho du khách. Khách Nga hay khách Đông Âu có đặc thù văn hóa, tính cách và nhu cầu rất khác, nếu không hiểu rất khó phục vụ tốt.
“Khách Nga thường tập trung vào mùa đông hoặc đầu xuân, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, đường bay và tình hình quốc tế. Điều này khiến nhiều người trẻ e ngại khi phải đầu tư nhiều năm học một ngoại ngữ khó nhưng chưa chắc có việc làm ổn định lâu dài. Trong khi tiếng Anh hay tiếng Trung có thể ứng dụng ở nhiều ngành nghề khác nhau, còn tiếng Nga hiện chủ yếu phục vụ du lịch nên rủi ro nghề nghiệp cao hơn”, anh Thắng phân tích.
Ông Phạm Anh Vũ, Phó tổng giám đốc Công ty Du lịch Việt, cũng thừa nhận, các thị trường khách đa dạng ngoại ngữ thường biến động mạnh theo kinh tế, chính trị và đường bay. Có giai đoạn khách Nga tăng mạnh nhưng cũng có thời điểm giảm sâu khiến hướng dẫn viên thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh nên khó gắn bó lâu dài với nghề. Có thời điểm doanh nghiệp sẵn sàng trả gấp 3 – 4 lần mức công tác phí thông thường nhưng vẫn không tìm được hướng dẫn viên ngoại ngữ phù hợp để dẫn đoàn.
Ông Mai Thuận Lợi, thạc sĩ ngành du lịch thuộc Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) đánh giá, thị trường chưa đủ hấp dẫn để người lao động xem hướng dẫn viên đa dạng ngoại ngữ là nghề dài hạn. Hiện không thiếu người biết ngoại ngữ, nhiều người từng du học hoặc làm việc tại doanh nghiệp FDI sử dụng ngoại ngữ rất tốt, nhưng lại thiếu chứng chỉ nghiệp vụ và thẻ hành nghề để dẫn tour quốc tế. Trong khi đó, quy trình đào tạo, cấp phép còn dài và thiếu linh hoạt.
Nghịch lý hiện nay là các thị trường khách Nga hay Đông Âu lại tập trung chủ yếu ở Khánh Hòa, Phú Quốc (An Giang) hay trước đây là Bình Thuận (nay là Lâm Đồng)… vốn là những nơi không có nhiều cơ sở đào tạo ngoại ngữ quy mô lớn. Vì thế theo PGS-TS Nguyễn Đức Thắng, giải pháp quan trọng nhất là phải có cơ chế “đặt hàng” đào tạo từ phía ngành du lịch và chính quyền địa phương.
“Ví dụ Khánh Hòa đang thiếu hướng dẫn viên tiếng Nga thì chính địa phương phải vào cuộc, đặt hàng cụ thể với các trường đại học, cam kết đầu ra, cam kết việc làm cho sinh viên. Khi có bài toán rõ ràng về nhu cầu nhân lực, các trường mới mạnh dạn tuyển sinh và đầu tư đào tạo. Hơn nữa, việc phát triển nhân lực cho nhiều loại ngoại ngữ cần sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ GD-ĐT, Bộ VH-TT-DL, Hiệp hội Du lịch VN và các cơ sở đào tạo, thay vì để từng nơi tự xoay xở riêng lẻ. Ngoài tiếng Nga hay tiếng Nhật, dự báo VN sẽ sớm thiếu hụt nhân lực ngoại ngữ cho nhiều thị trường mới nổi như Trung Á, Trung Đông, Tây Ban Nha hay Ý khi lượng khách quốc tế từ các khu vực này tăng nhanh trong thời gian tới. Vì đây cũng đều là những ngoại ngữ khác, trong khi chúng ta chưa có chiến lược đào tạo dài hạn”, PGS-TS Nguyễn Đức Thắng dự báo.
Ông Phạm Anh Vũ cũng đề xuất, hoàn toàn có thể xây dựng các chương trình đặt hàng đào tạo tiếng Nga, tiếng Hàn hay tiếng Ba Lan cho từng vùng trọng điểm, gắn với học bổng, ưu đãi học phí và cam kết việc làm tại doanh nghiệp lữ hành, khách sạn hoặc nhà hàng. Hiện có nhiều bạn trẻ học tiếng Nga, tiếng Hàn hay tiếng Ba Lan nhưng không làm hướng dẫn viên. Nếu có các khóa đào tạo ngắn hạn về nghiệp vụ hướng dẫn, dịch vụ khách hàng và kiến thức điểm đến, kết hợp cơ chế cộng tác linh hoạt, ngành du lịch có thể tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực này trong các giai đoạn cao điểm thay vì để lãng phí ở ngành khác.
Ông Trần Giang San, Phó viện trưởng Viện Du lịch xã hội, đề xuất trước mắt có thể triển khai các chương trình đào tạo ngắn hạn từ 3 – 6 tháng dành cho những người đã có nền tảng ngoại ngữ như tiếng Nga, tiếng Hàn, tiếng Ba Lan hoặc tiếng Ả Rập. Các khóa học tập trung vào nghiệp vụ hướng dẫn, kiến thức tuyến, điểm, kỹ năng xử lý tình huống và pháp luật du lịch để nhanh chóng bổ sung nguồn nhân lực cho thị trường. Cơ quan quản lý cũng cần có cơ chế linh hoạt hơn trong việc cấp chứng chỉ nghiệp vụ và thẻ hành nghề đối với nhóm ngoại ngữ đa dạng, xem đây là nhóm nhân lực đặc thù cần ưu tiên.
Những ngày qua, video ghi lại trải nghiệm tại một quán ăn có nhân viên khiếm thính phục vụ ở Đà Nẵng của du khách người Anh tên Reuben Charles đã thu hút sự quan tâm của dư luận.
Trong video, anh Reuben Charles chia sẻ cảm giác bất ngờ khi bước vào một không gian gần như không có tiếng nói. Các nhân viên giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ ký hiệu, còn thực khách gọi món thông qua cử chỉ, ánh mắt.
Ngay tại nhà hàng, thực đơn và đồng phục nhân viên đều có dòng chữ “Silent Note” nhằm thông báo với khách rằng người phục vụ bị khiếm thính và không thể nghe thấy âm thanh như bình thường.
Anh Reuben Charles cho biết câu chuyện xảy ra vào ngày 13/4. Ban đầu, anh dự định dùng bữa tại một nhà hàng khác nhưng tình cờ ghé vào nhà hàng trong video.
“Tôi nhìn thấy nhân viên dùng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với nhau. Sau khi tìm hiểu, tôi nhận ra đây là một nơi rất đặc biệt và quyết định ghi lại trải nghiệm của mình như một đoạn phim tài liệu nhỏ”, anh Reuben Charles nói.
Điều khiến nam du khách ấn tượng nhất là sự thân thiện và tận tâm của các nhân viên. Khi không biết cách ăn món bún chả, anh đã được một nữ nhân viên kiên nhẫn hướng dẫn bằng cử chỉ.
“Khoảnh khắc đó thực sự làm tôi cảm động và cuối cùng nó trở thành phần yêu thích của tôi vì cảm giác chân thật, chân thành của nhân viên”, anh Reuben Charles chia sẻ.
Theo du khách người Anh, trước đây anh chưa từng đến một nơi nào như nhà hàng “không có tiếng nói” này. Anh cho rằng mô hình này không chỉ tạo cơ hội việc làm cho người khiếm khuyết mà còn mang đến kỷ niệm đặc biệt cho khách hàng.
“Đôi khi ở nhà hàng, những sai sót nhỏ dễ khiến mọi người khó chịu. Nhưng ở đây, khách hàng học được sự kiên nhẫn và cảm thông nhiều hơn”, anh Reuben Charles nói thêm.
Anh Reuben Charles cũng dành nhiều lời khen cho con người và văn hóa Việt Nam, đặc biệt là miền Trung. Anh cho biết Đà Nẵng và Hội An đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong chuyến đi của mình và chắc chắn sẽ còn quay lại trong tương lai.
Chủ nhà hàng trong video cho biết ý tưởng tuyển dụng lao động khiếm thính bắt đầu từ năm 2019, khi chị gặp một nam thanh niên câm điếc đi xin việc. Ban đầu, chị chỉ giao những công việc đơn giản, nhưng dần dần các nhân viên hòa nhập tốt hơn, còn những người làm cùng cũng chủ động học ngôn ngữ ký hiệu để hỗ trợ nhau.
“Sau một thời gian, mọi người đều tìm được cách làm việc chung. Chính các bạn hỗ trợ ngược lại cho quán rất nhiều. Đến nay hệ thống nhà hàng đã có khoảng 30 nhân viên là người khiếm thính làm việc”, chủ quán chia sẻ.
Thời gian đầu, việc vận hành gặp không ít khó khăn do giao tiếp với khách chưa thuận lợi. Để khắc phục, quán phải điều chỉnh cách vận hành trong gần một năm, phân chia khu vực phục vụ rõ ràng và dùng màu áo khác nhau để khách dễ nhận biết nhân viên có thể giao tiếp bằng lời nói.
Ngoài ra, quán còn sử dụng các tín hiệu riêng như tiếng động hoặc tiếng huýt sáo để báo món, gọi hỗ trợ.
Ngày 21/5, Laura Marroni, CEO công ty DAN Europe - đơn vị quản lý đội thợ lặn tìm kiếm thi thể 5 du khách Italy tại Maldives - công bố những phát hiện mới có thể giải mã nguyên nhân vụ tai nạn lặn biển tồi tệ nhất lịch sử quốc đảo này.
Thảm kịch lặn biển xảy ra tại hệ thống hang động ngầm ở đảo san hô Vaavu, Maldives hôm 14/5 khiến 5 khách Italy thiệt mạng. Họ là các nhà khoa học và sinh viên của Đại học Genoa (Italy). Nhóm do Giáo sư Monica Montefalcone, 51 tuổi, dẫn đầu, tiến hành lặn để nghiên cứu về một loài san hô chưa được công bố. Trong nhóm tử nạn có Giorgia Sommacal, 22 tuổi, con gái bà Montefalcone.
Theo đội cứu hộ, hang động nơi xảy ra sự việc nằm ở độ sâu khoảng 50 m so với mặt nước. Đoạn đầu là một vòm hang lớn, rất sáng và có đáy cát. Đi xuyên qua, họ thấy một hành lang rất ít ánh sáng nhưng có thể nhìn tốt khi sử dụng đèn chuyên dụng.
Hành lang này dài gần 30 m, rộng 3 m và dẫn đến hang thứ hai. Nơi này có không gian lớn, hình tròn và không có ánh sáng tự nhiên. Nằm giữa hành lang này và khoang thứ hai là một bãi cát ngầm.
Việc vượt qua bãi cát để đi vào khoang thứ hai rất dễ nhưng khi rời đi, bãi cát này trông như một bức tường che khuất hành lang lối ra.
Phía bên trái bãi cát ngầm là một hành lang khác dài vài chục mét. Thi thể của các nạn nhân đều được tìm thấy bên trong hành lang này, cho thấy có thể họ đã nhầm nó với lối ra chính xác, theo bà Marroni. Bà nhận định nếu nhóm khách Italy đi nhầm vào hành lang đó, việc quay trở lại sẽ rất khó khăn, đặc biệt với lượng khí dự trữ có hạn.
Nhóm 5 người Italy sử dụng các bình khí tiêu chuẩn, đồng nghĩa với việc họ chỉ có dưới 10 phút ở độ sâu đó để khám phá khoang hang thứ hai.
"Việc nhận ra mình đi sai đường và còn lại ít không khí, có lẽ sau khi đã bơi qua bơi lại để tìm đường, thật sự kinh khủng. Khi đó bạn sẽ thở gấp hơn và lượng khí cung cấp sẽ giảm xuống", bà nói thêm.
Sami Paakkarinen, một trong ba thợ lặn cứu hộ người Phần Lan tham gia vớt các thi thể, phủ nhận giả thuyết nhóm khách bị hút vào trong hang như phán đoán trước đó của Alfonso Bolognini, Chủ tịch Hiệp hội Y học Dưới nước và Cao áp Italy.
Ông Bolognini từng đưa ra giả thuyết rằng nhóm người có thể đã bị hút vào hệ thống hang động bởi một dòng hải lưu mạnh do cấu trúc lối vào đặc biệt - còn gọi là "hiệu ứng Venturi" (khi dòng nước tăng tốc để duy trì lưu lượng liên tục qua một lối đi hẹp, gây sụt giảm áp suất và tạo ra một lực hút chân không mạnh).
Thợ lặn Sami cho biết ở hiện trường, dòng nước di chuyển theo một hướng trong 12 tiếng và sau đó di chuyển theo hướng ngược lại trong 12 tiếng tiếp theo, tạo ra các dòng chảy tuần hoàn liên tục. Các dòng chảy tại đây rất dễ phán đoán và khi đội cứu hộ tiến vào hang, họ chỉ cảm thấy "một dòng chảy nhẹ".
"Nó không đủ mạnh để hút ai cả", ông nói.
Năm nạn nhân người Italy gồm Giáo sư sinh thái học biển Monica Montefalcone (Đại học Genoa), con gái bà - Giorgia Sommacal, hai nhà nghiên cứu Federico Gualtieri, Muriel Oddenino và hướng dẫn viên Gianluca Benedetti. Đại diện Đại học Genoa xác nhận nhóm đang thực hiện sứ mệnh khoa học giám sát môi trường biển và tác động của biến đổi khí hậu.
Một thợ lặn thuộc quân đội Maldives cũng tử vong trong quá trình tìm kiếm nhóm khách Italy mất tích.
Lặn hang động mang tính kỹ thuật cao, nguy hiểm, đòi hỏi phải có khóa đào tạo chuyên biệt, thiết bị đặc dụng và các quy trình an toàn nghiêm ngặt. Rủi ro khi lặn sẽ rất cao trong môi trường thợ lặn không thể bơi thẳng lên mặt nước.
Các chuyên gia cho biết thợ lặn rất dễ bị mất phương hướng hoặc lạc đường bên trong hang động, đặc biệt khi những đám mây trầm tích bị khuấy động có thể làm giảm mạnh tầm nhìn.
Đám mây trầm tích là hiện tượng lớp bùn mịn, bụi xốp tích tụ lâu năm dưới đáy hang bị khuấy động do cú quẫy chân vịt hoặc bong bóng khí của thợ lặn. Nó gây ra màn sương mù đục, triệt tiêu tầm nhìn về bằng không chỉ trong vài giây khiến đèn pin lặn cũng vô tác dụng.
Trong 6 năm qua, Maldives - quốc gia với 1.192 hòn đảo san hô - ghi nhận ít nhất 112 du khách tử vong liên quan đến các hoạt động trên biển, trong đó 42 trường hợp do tai nạn lặn bình khí hoặc lặn ống thở.