Sáng 9-4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án nghị quyết của Quốc hội về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo tờ trình của Chính phủ, xung đột tại Trung Đông làm giá năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt biến động mạnh, nguồn cung xăng dầu bị gián đoạn, giá dầu thô thế giới có xu hướng tiếp tục tăng cao.
Các tác động này đã ảnh hưởng lớn đến nguồn cung, thị trường xăng dầu trong nước, làm giá xăng dầu tăng cao trong thời gian ngắn, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.
Trong thời gian vừa qua, để góp phần đa dạng hóa nguồn cung, bình ổn giá xăng dầu trong nước, Chính phủ và Thủ tướng đã chỉ đạo sử dụng nhiều công cụ về chính sách tài khóa.
Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp cấp bách áp dụng trong thời gian ngắn, trong khi tình hình xung đột ở Trung Đông vẫn tiếp tục diễn biến khó lường và tác động trực tiếp đến thị trường xăng dầu trong nước.
Vì vậy, để đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, ổn định tâm lý và đời sống người dân cũng như doanh nghiệp, cần xây dựng chính sách có thời hạn dài hơn để trình Quốc hội ban hành theo thẩm quyền.
Bộ Tài chính trình Chính phủ để trình Quốc hội sớm xem xét, thông qua dự án nghị quyết ngay tại đầu kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Theo đó, dự thảo nghị quyết quy định mức thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay như sau:
Mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ ethanol), dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut là 0 đồng/lít.
Xăng, dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế VAT nhưng được khấu trừ thuế VAT đầu vào. Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.
Về thời hạn áp dụng, Chính phủ đề xuất từ ngày 16-4 đến hết 30-6 và giao Thủ tướng ban hành quyết định cá biệt để điều chỉnh (rút ngắn hoặc kéo dài) hiệu lực của nghị quyết để bảo đảm việc điều hành thị trường xăng, dầu trong nước phù hợp với diễn biến giá dầu thế giới.
Báo cáo thẩm tra sơ bộ về dự thảo nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết thường trực Ủy ban cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành chính sách để điều chỉnh một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay theo đề xuất của Chính phủ.
Thảo luận về nội dung này, các ý kiến đề nghị Chính phủ có các giải pháp tổng thể, đồng bộ từ điều hành giá, minh bạch hóa các thành phần cấu thành giá xăng dầu cơ sở đến bảo đảm chuỗi cung ứng.
Đồng thời cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, kiểm soát hóa đơn điện tử minh bạch, chặt chẽ để xác nhận tính thực tế của các chi phí đầu vào của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, tránh trục lợi chính sách…
Kết luận nội dung này, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho biết Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành một nghị quyết riêng của Quốc hội về chính sách điều chỉnh một số quy định về thuế với xăng dầu theo đề xuất của Chính phủ.
Việc này nhằm kịp thời bổ sung các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do khan hiếm nhiên liệu và biến động tăng giá, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mục tiêu tăng trưởng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định về mức thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu và nhiên liệu bay với mức thuế suất như đề xuất của Chính phủ.
Giao Chính phủ quyết định điều chỉnh, rút ngắn hoặc kéo dài hiệu lực của nghị quyết, cân nhắc bổ sung quy định trong trường hợp khẩn cấp và giao Chính phủ điều chỉnh mức thuế tại nghị quyết, báo cáo lại Quốc hội tại kỳ họp gần nhất…
Để có cơ sở pháp lý cho khách hàng sử dụng điện áp dụng giá bán lẻ điện theo khung giờ cao điểm - thấp điểm mới phù hợp với biểu đồ phụ tải của hệ thống điện quốc gia, Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi Thông tư số 60 để áp dụng khung giờ cao thấp điểm mới tại Quyết định 963 trong mùa nắng nóng năm nay.
Theo dự thảo tờ trình sửa đổi Thông tư 60, khung giờ cao thấp điểm của hệ thống điện quốc gia được áp dụng đến nay là 12 năm. Tuy nhiên, từ năm 2019, với sự thâm nhập mạnh mẽ và tăng nhanh tỉ trọng của nguồn điện mặt trời, biểu đồ huy động công suất các loại hình nguồn điện có sự thay đổi đáng kể.
Cùng đó, cơ cấu tiêu thụ điện cũng thay đổi lớn, khi tiêu thụ điện của khách hàng công nghiệp tăng từ gần 30% lên hơn 50% tổng điện thương phẩm. Trong khi đó, tiêu dùng điện của nhóm dân dụng - sinh hoạt giảm từ 50% xuống còn gần 33%.
Thêm nữa, cơ cấu nguồn điện đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió. Việc xác định hợp lý các khung giờ cao - thấp điểm giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng.
Với cơ chế mới, các khách hàng sử dụng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ để giảm chi phí, giảm sử dụng giờ cao điểm và chuyển dịch sang khung giờ thấp điểm, giờ bình thường, từ đó giúp giảm áp lực cho hệ thống điện.
Ngoài ra, việc điều chỉnh khung giờ cao điểm, thấp điểm giúp khuyến khích chủ đầu tư nguồn năng lượng tái tạo phát triển thêm thiết bị lưu trữ. Từ đó giúp nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện, giảm áp lực huy động các nguồn truyền thống vào giờ cao điểm, hạn chế tình trạng thừa công suất vào giờ thấp điểm.
Với khung giờ mới được Bộ Công Thương ban hành theo Quyết định 963, đặt trong bối cảnh cung ứng điện gặp khó khăn, bộ kỳ vọng sẽ là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần giảm nguy cơ mất cân bằng cung cầu điện, nhất là vào khung giờ cao điểm chiều.
Tuy nhiên, điểm vướng mắc lớn nhất là theo quy định hiện hành, việc áp dụng khung giờ cao thấp điểm sẽ thực hiện kể từ ngày điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân gần nhất. Nhưng kể từ ngày 10-5-2025 đến nay, giá bán lẻ điện chưa thực hiện việc điều chỉnh. Vì vậy, Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi Thông tư 60 nhằm quy định hiệu lực thi hành ngay với khung giờ cao thấp điểm.
Để thực hiện, Bộ Công Thương đề nghị Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO) có báo cáo, phân tích về lợi ích tổng thể liên quan vận hành hệ thống điện khi áp dụng khung giờ cao thấp điểm mới kèm theo số liệu ước lượng tác động, lợi ích mang lại.
Bộ giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các Tổng công ty điện lực trực thuộc có đánh giá tác động đến chi phí tiền điện của các khách hàng sử dụng điện khi áp dụng khung giờ cao thấp điểm mới tại Quyết định 963 và các tác động liên quan.
Diễn biến cung cầu điện những ngày qua theo thông tin của NSMO, thời tiết cực đoan và nắng nóng kéo dài khiến cho tiêu thụ điện liên tục thiết lập kỷ lục trong nhiều ngày. Số liệu cập nhật lúc 13h20 trưa 26-5, phụ tải hệ thống điện quốc gia và miền Bắc đạt lần lượt 57.590 MW và 29.385 MW.
Ngày 25-5 cũng ghi nhận sản lượng tiêu thụ điện và vận hành của toàn hệ thống điện quốc gia và miền Bắc đều xác lập kỷ lục cả công suất và sản lượng. Trong đó, công suất cực đại hệ thống điện quốc gia đạt 57.120 MW (vào thời điểm 13h40), tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng tiêu thụ điện đạt 1,171 tỉ kWh, cao hơn 5,3% so kỷ lục của năm 2025.
Giờ cao điểm tiêu thụ điện đã chuyển sang buổi tối, khi nhu cầu tăng mạnh khiến cho NSMO phải huy động các nguồn điện đắt đỏ như khí LNG và chạy dầu DO để phục vụ cho nhu cầu điện. Vì vậy, đơn vị này kiến nghị áp dụng ngay khung giờ cao thấp điểm mới trong tháng 6 để phù hợp với nhu cầu phụ tải.
Ngày 5-5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá trị xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2026 đạt gần 3,6 tỉ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất (tăng 52%) và giảm duy nhất ở thị trường Mỹ (giảm 7%).
Điều này khiến Mỹ rơi xuống vị trí thứ ba (13% thị phần), còn Nhật vươn lên thứ hai (gần 14% thị phần), trong khi Trung Quốc tiếp tục củng cố vị trí dẫn đầu với gần 27% thị phần.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kết quả xuất khẩu 4 tháng đầu năm đạt 3,6 tỉ USD cho thấy ngành thủy sản có khởi đầu tích cực, nhất là ở các nhóm hàng tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số sản phẩm giá trị cao.
Tuy nhiên tăng trưởng chưa đồng đều giữa các sản phẩm và thị trường. Một số thị trường lớn như Mỹ, EU phục hồi chậm, trong khi Trung Quốc và Hong Kong tăng mạnh nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
"Nhìn chung xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm nay tích cực nhưng chưa thật sự bền vững. Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, đặc biệt là từ tháng 4, do tác động của chi phí logistics, cạnh tranh giá, rào cản kỹ thuật, chính sách thuế và các yêu cầu mới về chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm" - VASEP đánh giá.
Phân tích về các thị trường trong 4 tháng đầu năm, VASEP cho biết Trung Quốc và Hong Kong là điểm sáng lớn nhất với doanh số hơn 1 tỉ USD, tăng 52%, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của toàn ngành.
Trung Quốc và Hong Kong đang tăng nhập tôm hùm, cá tra, cua, sò, nghêu, ốc hương… từ nước ta, song thị trường 1,4 tỉ dân này đang chuyển nhanh sang nhập khẩu chính ngạch, kiểm soát chặt hơn về chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc, đăng ký doanh nghiệp và mã số vùng nuôi.
Do đó tăng trưởng tại thị trường này cần được củng cố bằng phương thức xuất khẩu chuyên nghiệp, chính ngạch và bền vững hơn.
Đối với thị trường Mỹ, VASEP cho biết nguyên nhân sụt giảm chủ yếu được các doanh nghiệp nhận định do tác động của việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp đối với tôm, cấm nhập 12 nhóm loài thủy sản Việt (Đạo luật Bảo vệ thú biển) và yêu cầu cấp giấy COA cho những loài có thể xuất khẩu sang Mỹ từ đầu năm nay.
Cùng với đó, Mỹ đang siết truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm, chính sách thuế quan và tâm lý mua hàng thận trọng trong bối cảnh thị trường biến động.
VASEP đánh giá thị trường Mỹ vẫn còn nhiều dư địa, nhưng cũng là thị trường rủi ro chính sách cao, đòi hỏi sự phối hợp, hỗ trợ thường xuyên giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, luật sư và doanh nghiệp để xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại, chương trình tương đương và yêu cầu kỹ thuật mới.
Trong khi đó, Nhật Bản tiếp tục là thị trường ổn định đối với tôm chế biến giá trị gia tăng, mực, bạch tuộc, cá biển, nhuyễn thể và sản phẩm tiện lợi. Còn Hàn Quốc là thị trường quan trọng của mực, bạch tuộc, chả cá, surimi và tôm.
Đối với thị trường châu Âu (EU), VASEP nhận định dù có nhiều lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU nhưng xuất khẩu chưa có sự bứt phá, chỉ tăng khoảng 3% và thu về khoảng 452 triệu USD trong 4 tháng.
Trên cơ sở kết quả 4 tháng đầu năm, năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp và diễn biến thị trường quốc tế, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt kim ngạch trên 12 tỉ USD, tăng trưởng khoảng 8-10%.
Kịch bản này có thể đạt được nếu Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục tăng nhập. Cùng với đó, mặt hàng cá tra giữ được lợi thế ở các thị trường, còn tôm cải thiện khả năng cạnh tranh về giá thành và sản phẩm chế biến.
Các nhóm hải sản khai thác biển được tháo gỡ bất cập, vướng mắc về IUU, giấy COA, chứng nhận nguyên liệu và truy xuất, và chi phí logistics không tăng đột biến.
"Ngược lại, nếu các vướng mắc về thủ tục, chứng nhận, nguyên liệu, chi phí tuân thủ, phòng vệ thương mại và logistics kéo dài, tăng trưởng xuất khẩu có thể chậm lại trong nửa cuối năm, nhất là ở các nhóm tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và hải sản khai thác" - VASEP nhận định.
Trong phiên họp thường niên của Techcombank ngày 25/4, 266 cổ đông - đại diện cho 76% cổ phần có quyền biểu quyết - dành sự quan tâm lớn đến tình hình cho vay với nhóm bất động sản của nhà băng.
"Hiện nhóm bất động sản chiếm hơn 50% tổng dư nợ vay, ngân hàng có biện pháp nào để quản trị rủi ro?", một cổ đông đặt vấn đề.
Tổng giám đốc Jens Lottner cho biết nhà băng này không cho vay bất động sản "bất chấp", chỉ ưu tiên các chủ đầu tư có năng lực và dòng tiền ổn định. Cách làm này giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro ngay từ đầu.
"Rủi ro từ các khoản vay với nhóm địa ốc rất thấp", ông Jens Lottner nói.
Chủ tịch Techcombank Hồ Hùng Anh bổ sung, ngân hàng duy trì chiến lược "rủi ro thấp, hiệu quả cao" (low risk, high return).
"Chúng tôi không cho vay, tài trợ những dự án pháp lý không đầy đủ, thiếu tính thanh khoản", tỷ phú Hồ Hùng Anh nói, thêm rằng nhà băng có thể thu hồi gốc các khoản nợ xấu địa ốc sau 2-3 năm.
Theo báo cáo tài chính quý I/2026, Techcombank ghi nhận các tổ chức kinh tế liên quan bất động sản vay gần 199.000 tỷ đồng, tương đương trên 26,4% tổng dư nợ của ngân hàng. Mức này giảm khoảng 2% so với cuối năm ngoái.
Bên cạnh đó, ngân hàng cho các cá nhân vay hơn 331.826 tỷ đồng. Trong đó, phần lớn là khoản cho vay khách hàng mua bất động sản, theo tỷ phú Hồ Hùng Anh.
Hồi tháng 2, lãi suất cho vay mua bất động sản tại một chi nhánh của Techcombank ở mức 8,5-9,5% một năm, trong 6-12 tháng đầu tiên. Sau thời gian ưu đãi, mức lãi cộng thêm 3-4% so lãi suất với huy động.
Tại phiên họp thường niên, các cổ đông cũng bày tỏ quan tâm đến chiến lược của Techcombank ở mảng tài sản mã hóa.
CEO Jens Lottner chia sẻ, tài sản mã hóa được nhiều người Việt quan tâm, nên vấn đề quản trị rủi ro vô cùng quan trọng. "Tuy nhiên, tôi cho rằng số người có lãi trên thị trường này rất ít", ông nói.
Ông nói thêm nếu được cơ quan quản lý cấp phép, ngân hàng sẽ cung cấp các dịch vụ cơ bản và an toàn nhất dựa trên nền tảng bảo mật xây dựng nhiều năm qua.
Techcombank "lấn sân" vào lĩnh vực tài sản số thông qua Công ty cổ phần Giao dịch Tài sản mã hóa Techcom (TCEX). Về cơ cấu cổ đông, TCBS, công ty con của Techcombank, hiện nắm 9,9% vốn TCEX. Ngoài ra, ông Nguyễn Xuân Minh, Chủ tịch TCBS, cũng sở hữu 89% vốn.