Sáng 7.5, Thủ tướng Lê Minh Hưng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ đô Hà Nội lên đường tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 – 8.5 theo lời mời của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026.
Tháp tùng Thủ tướng Chính phủ có: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Gấu; Thứ trưởng Bộ Công an Lê Văn Tuyến; Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đôn Tuấn Phong; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng SOM ASEAN Việt Nam Đặng Hoàng Giang; Thứ trưởng Bộ Công thương Phan Thị Thắng; Trợ lý Thủ tướng Chính phủ Trần Anh Tuấn. Tham gia đoàn còn có Đại sứ Việt Nam tại Philippines Lại Thái Bình; Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại ASEAN Tôn Thị Ngọc Hương.
Đây là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng Lê Minh Hưng trên cương vị người đứng đầu Chính phủ và cũng là hội nghị đa phương đầu tiên mà Thủ tướng tham dự trực tiếp.
Việc Thủ tướng Lê Minh Hưng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao nước ta tham dự hội nghị thể hiện mạnh mẽ việc Việt Nam tiếp tục triển khai nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Đồng thời, khẳng định ASEAN tiếp tục là ưu tiên chiến lược hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Đây cũng là thông điệp rõ ràng về cam kết của Việt Nam đối với tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, với tinh thần chủ động, tích cực, trách nhiệm và đóng góp thực chất, hiệu quả vào công việc chung của hiệp hội.
Tin Gốc: Thanh Niên

Xin Thứ trưởng cho biết những bước phát triển nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời gian qua, đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện?
Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường: Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều lợi ích tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Trải qua gần 50 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển mạnh mẽ, toàn diện, trở thành một trong những mối quan hệ năng động và hiệu quả nhất trong ASEAN.
Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025. Điều này phản ánh mức độ tin cậy chính trị rất cao giữa hai nước, đồng thời thể hiện quyết tâm chung của lãnh đạo hai bên trong việc đưa quan hệ song phương phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.
Điểm nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan là sự củng cố tin cậy chính trị ngày càng vững chắc. Hai bên duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao, các cơ chế hợp tác và trao đổi chiến lược trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, cơ chế họp nội các chung cấp Thủ tướng là nét đặc sắc trong quan hệ giữa hai nước, thể hiện sự gắn bó và phối hợp chặt chẽ trong thúc đẩy hợp tác toàn diện.
Hợp tác kinh tế tiếp tục là điểm sáng. Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 đạt hơn 22 tỉ USD. Hai nền kinh tế ngày càng gắn kết sâu hơn trong chuỗi cung ứng khu vực. Thái Lan hiện cũng là một trong những nhà đầu tư lớn nhất ASEAN tại Việt Nam, với nhiều dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp chế biến, bán lẻ, logistics và hạ tầng. Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác trong phát triển chuỗi cung ứng, kết nối giao thông, logistics và hợp tác tiểu vùng Mê Kông. Với vị trí địa chiến lược quan trọng của mỗi nước, hai bên có điều kiện thuận lợi để trở thành các trung tâm kết nối của khu vực Đông Nam Á lục địa.
Bên cạnh kinh tế, hợp tác quốc phòng - an ninh giữa hai nước ngày càng thực chất và đi vào chiều sâu. Hai bên phối hợp chặt chẽ trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán ma túy, mua bán người, an ninh mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Điều này góp phần quan trọng vào việc củng cố lòng tin, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực.
Hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch và giao lưu nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ. Hai nước hiện có khoảng 20 cặp tỉnh, thành phố kết nghĩa. Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan là cầu nối hữu nghị quan trọng giữa hai dân tộc. Đặc biệt, các khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan mang ý nghĩa lịch sử và tình cảm sâu sắc, góp phần vun đắp quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.
Trên nền tảng đó, hai nước có điều kiện thuận lợi để tiếp tục đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất hơn.
Xin Thứ trưởng cho biết chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này được kỳ vọng sẽ mở ra những triển vọng và động lực mới nào cho quan hệ hai nước trong thời gian tới?
Chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là chuyến thăm đầu tiên đến một nước ASEAN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trên cương vị mới, đồng thời diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước vừa được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện.
Chuyến thăm trước hết thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới.
Một kỳ vọng quan trọng là tiếp tục củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, việc tăng cường trao đổi chiến lược, phối hợp lập trường và duy trì tiếp xúc cấp cao có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là nền tảng để hai nước tiếp tục mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.
Về kinh tế, chuyến thăm được kỳ vọng sẽ mở ra những bước phát triển mới trong thương mại, đầu tư, logistics và kết nối chuỗi cung ứng. Hai bên có nhiều tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi công nghiệp. Đây đều là những lĩnh vực phù hợp với chiến lược phát triển của cả hai nước trong giai đoạn mới.
Chuyến thăm cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh hơn kết nối khu vực, đặc biệt trong hợp tác Mê Kông và ASEAN. Việt Nam và Thái Lan đều có vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên kết kinh tế nội khối ASEAN, tăng cường kết nối hạ tầng, thương mại và giao lưu nhân dân trong khu vực.
Bên cạnh đó, hợp tác văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân sẽ tiếp tục được mở rộng. Việc tăng cường kết nối hàng không, hợp tác du lịch, giao lưu thanh niên, sinh viên và địa phương sẽ góp phần củng cố nền tảng xã hội bền vững cho quan hệ song phương.
Hai bên cũng được kỳ vọng tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong ASEAN, nhằm đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.
Có thể khẳng định với nền tảng quan hệ hữu nghị tốt đẹp, tin cậy chính trị cao và nhiều tiềm năng hợp tác rộng mở, chuyến thăm lần này sẽ tạo thêm động lực mới để đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan phát triển mạnh mẽ hơn nữa, hướng tới những tầm cao mới trong thời gian tới.
Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường.
Tin Gốc: Thanh Niên

Báo Thanh Niên giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường giữa Việt Nam và Ấn Độ:
1. Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Shri Narendra Modi, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5 đến ngày 7.5.2026. Tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Đoàn doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam cũng tham gia.
2. Ngày 6.5.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón chính thức tại Phủ Tổng thống; đặt vòng hoa tại Khu tưởng niệm Mahatma Gandhi; dự hội đàm, chiêu đãi của Thủ tướng Narendra Modi, cùng Thủ tướng Modi chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác; hội kiến và dự chiêu đãi của Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã phát biểu tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ; dự và phát biểu tại Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Ấn Độ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng thăm Thành phố Mumbai và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo bang, tiếp một số doanh nghiệp; dự và phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ.
HỢP TÁC CHÍNH TRỊ
3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi đã có cuộc hội đàm toàn diện trong không khí thân tình, cởi mở. Hai Lãnh đạo đã trao đổi về quan hệ song phương và vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm. Thủ tướng Modi chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm được Quốc hội khoá XVI tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam và bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những bước tiến vững chắc trong quá trình phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng Thủ tướng Narendra Modi về những thành tựu phát triển đất nước, nổi bật là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và hợp tác phương Nam toàn cầu. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh, việc làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước, với Ấn Độ là "tầm nhìn Ấn Độ phát triển vào năm 2047" và "mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao đến năm 2045".
4. Hai lãnh đạo chia sẻ quan điểm về những diễn biến mang tính bước ngoặt trong cục diện khu vực và toàn cầu, khẳng định nền tảng vững chắc của quan hệ hai nước dựa trên sự tin cậy, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, tầm nhìn chung và hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí tiếp tục nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác Chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất", với mong muốn biến ý chí thành kết quả cụ thể.
5. Hai bên ghi nhận năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 10 năm thiết lập Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ và nhất trí tổ chức kỷ niệm dưới các hình thức phù hợp. Hai bên hoan nghênh những tiến triển trong quan hệ song phương trong thập kỷ qua và nhất trí triển khai hiệu quả các kết quả đạt được nhân các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao gần đây, bao gồm Tuyên bố chung về tăng cường Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện tháng 8 năm 2024, Tầm nhìn chung Ấn Độ - Việt Nam vì Hòa bình, Thịnh vượng và Con người năm 2020, và kết quả của các cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước. Lãnh đạo hai nước nhất trí duy trì tiếp xúc thường xuyên ở tất cả các cấp, trong đó đặc biệt là tiếp xúc cấp cao.
6. Hai bên ghi nhận việc thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Ấn Độ - Việt Nam tại Quốc hội Ấn Độ, và hoan nghênh việc tăng cường hợp tác giữa Quốc hội hai nước; tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn nghị sĩ hai nước tại các diễn đàn đa phương, bao gồm Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
7. Hai bên đánh giá cao việc đối thoại và hợp tác thường xuyên trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác hiện có trong nhiều lĩnh vực; góp phần củng cố lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Trên tinh thần đó, hai bên nhấn mạnh Tham vấn Chính trị và Đối thoại Chiến lược, Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế, Thương mại và Khoa học là trụ cột quan trọng thúc đẩy quan hệ song phương; tổ chức thường xuyên các cơ chế về quốc phòng, an ninh, hàng hải, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, y tế, công nghệ thông tin và truyền thông, hợp tác mạng, khoa học, công nghệ, vũ trụ, năng lượng nguyên tử; đồng thời hướng tới thiết lập Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng (2+2).
8. Lãnh đạo hai nước nhất trí xúc tiến triển khai hiệu quả Chương trình hành động Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2024 - 2028 và Tuyên bố chung này.
9. Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai nền kinh tế đang phát triển nhanh; trong đó phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại, đầu tư và hợp tác công nghệ. Trên nền tảng gia tăng thương mại song phương 10 năm qua, hai bên nhấn mạnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa thương mại hai chiều theo hướng cân bằng và cùng có lợi, nhất trí đặt mục tiêu đạt 25 tỉ USD vào năm 2030.
10. Hai bên nhất trí sẽ tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa nước này tiếp cận thị trường nước kia, bao gồm nông sản. Hai bên hoan nghênh quyết định mở cửa thị trường cho sầu riêng Việt Nam và nho Ấn Độ, và nhất trí thúc đẩy việc mở cửa thị trưởng cho bưởi Việt Nam và lựu Ấn Độ thông qua xúc tiến tham vấn song phương để xử lý các vấn đề kỹ thuật.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực có chung lợi ích. Việt Nam khẳng định cam kết đa dạng hóa nguồn cung và tăng nhập khẩu từ Ấn Độ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp thiết lập môi trường thể chế thuận lợi để tạo điểu kiện hơn cho doanh nghiệp hai nước, bao gồm vấn đề Giấy chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy các cơ chế song phương để duy trì đối thoại mang tính xây dựng nhằm giải quyết các quan tâm chung.
12. Hai bên nhất trí thúc đẩy sớm hoàn tất việc rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA) trên tinh thần bảo đảm lợi ích chung, tạo thuận lợi thương mại và phù hợp với thông lệ thương mại toàn cầu hiện nay.
13. Hai bên nhất trí thúc đẩy đầu tư hai chiều, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, giao thông, sản xuất, logistics, năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, xe điện và công nghệ thông tin, y tế, nông nghiệp và chế biến nông sản, thủy sản, du lịch và dịch vụ, và một số lĩnh vực khác. Hai bên nhất trí tăng cường liên kết giữa các hệ sinh thái khởi nghiệp và thúc đẩy hợp tác giữa các trung tâm đổi mới sáng tạo.
14. Hai bên đánh giá cao hợp tác nhiều thập kỷ qua giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực thăm dò dầu khí; trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa các hoạt động thăm dò và khai thác, bao gồm phát triển các giếng mới mà Ấn Độ quan tâm tham gia, trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
15. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của thương mại điện tử và kinh tế số, nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực này thông qua chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), tham gia thương mại điện tử sâu và bền vững hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
16. Hai bên tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác y tế. Trên cơ sở các thành tựu của ngành dược phẩm Ấn Độ, hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp để thúc đẩy khả năng tham gia của các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc đấu thầu mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập của Việt Nam từ năm 2027, trên cơ sở thoả thuận của hai bên. Ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ, hai bên khuyến khích hợp tác chuyển đổi số trong ngành y, bao gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y tế.
17. Trên cơ sở lịch sử lâu đời và di sản phong phú của y học cổ truyền tại hai nước, hai bên nhất trí thúc đẩy trao đổi kiến thức, tăng cường hợp tác nghiên cứu và chia sẻ thực hành, khuyến khích liên kết giữa các cơ quan, tổ chức liên quan. Hai bên hoan nghênh tiến triển trong việc hoàn thiện Bản ghi nhớ về y học cổ truyền và đề xuất Bản ghi nhớ về việc thành lập Trưởng Bộ môn Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) tại Việt Nam.
18. Hai bên tái khẳng định hợp tác quốc phòng và an ninh là trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ; ghi nhận việc triển khai hiệu quả Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Đối tác Quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2030, cho đây là cơ sở định hướng hợp tác quốc phòng hai nước thời gian tới.
19. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác và mở rộng các hoạt động trong các lĩnh vực quốc phòng truyền thống và mới nổi, bao gồm đối thoại chính sách quốc phòng, diễn tập chung, tham vấn giữa các cơ quan tham mưu, nghiên cứu chung và đồng sản xuất các công nghệ quốc phòng mới, tăng cường các chuyến thăm của tàu hải quân và máy bay không quân, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, chia sẻ thông tin, hợp tác thủy đạc, tổ chức triển lãm quốc phòng, xây dựng năng lực, thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng, tăng cường an ninh và an toàn hàng hải, phối hợp trong các hoạt động tìm kiếm cứu nạn, trên cơ sở lợi ích và ưu tiên chung, đóng góp cho ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên nhất trí tăng cường mua sắm quốc phòng giữa hai nước.
20. Hai bên hoan nghênh việc triển khai ổn định các khoản tín dụng quốc phòng Ấn Độ dành cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam và thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.
21. Hai bên tỏ hài lòng về việc triển khai các thỏa thuận quốc phòng song phương, bao gồm Thỏa thuận Tương trợ Hậu cần, Bản ghi nhớ về Hỗ trợ và Hợp tác Tìm kiếm Cứu nạn Tàu ngầm, và Ý định thư về tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng.
22. Hai bên hoan nghênh lực lượng hải quân hai nước tiến hành thành công khảo sát thủy đạc chung vào tháng 5 năm 2025 ngoài khơi bờ biển Việt Nam, nhất trí thường xuyên tiến hành các hoạt động tương tự thời gian tới.
23. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ đào tạo cán bộ, nhân viên quốc phòng Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Kỹ thuật và Kinh tế Ấn Độ (ITEC), nâng cao năng lực thông qua các đội huấn luyện lục quân, hải quân và không quân Ấn Độ tại Đại học Thông tin liên lạc (TCU), Học viện Hải quân,
Trường Sĩ quan Không quân tại Nha Trang; hỗ trợ Việt Nam thành lập Công viên Phần mềm Lục quân tại Đại học Thông tin liên lạc, Nha Trang. Hai bên hoan nghênh đồng chủ trì Nhóm Công tác Chuyên gia về An ninh mạng trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM-Plus EWG) giai đoạn 2027 - 2030.
24. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác pháp luật và tư pháp, triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Luật pháp và Tư pháp Ấn Độ.
25. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Hội đồng An ninh Quốc gia Ấn Độ nhằm thực hiện các mục tiêu chung. Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chia sẻ thông tin, an ninh mạng, chống khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, rửa tiền và lừa đảo trực tuyến. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, bao gồm Đối thoại An ninh Việt Nam - Ấn Độ.
26. Hai bên hoan nghênh tổ chức thành công Đối thoại Chính sách Không gian mạng Việt Nam - Ấn Độ lần thứ nhất để trao đổi về những diễn biến gần đây trong chính sách không gian mạng, đánh giá tình hình rủi ro mạng, xác định lĩnh vực hợp tác song phương, thảo luận các hoạt động xây dựng năng lực chung và phối hợp tại các diễn đàn đa phương về công nghệ thông tin và truyền thông.
27. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi kinh nghiệm và mở rộng hợp tác trong lĩnh vực an ninh, bao gồm thúc đẩy hợp tác đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ đào tạo chuyên môn, đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng ứng phó sự cố an ninh mạng, các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các hoạt động hợp tác khác trên cơ sở thống nhất chung.
28. Là các quốc gia ven biển có lịch sử giao lưu lâu đời, Việt Nam và Ấn Độ nhấn mạnh hợp tác hàng hải là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương và nhất trí tăng cường hợp tác hàng hải. Hai bên ghi nhận Đối thoại An ninh Hàng hải đã góp phần củng cố lòng tin và nâng cao hiểu biết về các vấn đề cùng quan tâm và nhấn mạnh cần tổ chức thường xuyên. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ mời Việt Nam cử Sĩ quan liên lạc quốc tế tại Trung tâm Hợp nhất Thông tin khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) tại Gurugram, Ấn Độ, nhằm tăng cường nhận thức tình hình trên biển. Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh Việt Nam tham gia Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPOI) và tỏ mong muốn Việt Nam tăng cường hợp tác trong khuôn khổ sáng kiến này. Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với Ấn Độ và các đối tác khác trong khuôn khổ IPOI, đồng thời thúc đẩy sự bổ trợ giữa IPOI và Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP), và đẩy mạnh hợp tác thực chất trong Năm Hợp tác Hàng hải ASEAN - Ấn Độ 2026.
29. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác hải dương học, bao gồm xây dựng và vận hành các hệ thống quan trắc đại dương, quản lý dữ liệu, dự báo và cung cấp các dịch vụ biển, đào tạo, nâng cao năng lực và thúc đẩy nghiên cứu khoa học biển.
Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh hợp tác với Việt Nam trong xây dựng các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá tra, và tạo điều kiện cho hoạt động nhân giống và thu mua vẹm tại Ấn Độ.
30. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của công nghệ số và hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về đổi mới tài chính và thanh toán số; nhất trí thúc đẩy kết nối các nền tảng thanh toán bán lẻ thông qua mã QR, qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch và giao dịch kinh doanh giữa hai nước.
31. Hai bên nhất trí đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và công nghệ mới nổi, bao gồm hạ tầng số, 6G, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân, khoa học biển, công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu tiên tiến và khoáng sản thiết yếu; tập trung vào các sáng kiến mang tính thực tiễn như nghiên cứu chung, thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển sản phẩm trên cơ sở lợi ích chung.
32. Hai bên ghi nhận các mục tiêu của mỗi nước về khí hậu, phát triển bền vững, các ưu tiên về chuyển đổi năng lượng; nhất trí tăng cường hợp tác năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, các công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai. Hai bên ghi nhận vai trò của Sáng kiến Sứ mệnh Lối sống vì môi trường (Mission LiFE) và Liên minh Năng lượng mặt trời quốc tế (ISA). Ấn Độ hoan nghênh quan tâm của Việt Nam về việc tham gia Liên minh Nhiên liệu Sinh học Toàn cầu (GBA); ghi nhận tầm quan trọng của Liên minh Cơ sở hạ tầng chống chịu thiên tai (CDRI) trong việc tăng cường hợp tác quốc tế về ứng phó và giảm nhẹ thiên tai; khuyến khích tăng cường hợp tác ứng dụng công nghệ số và công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp thông minh, quản lý nguồn nước bền vững và kiểm soát ô nhiễm không khí.
33. Hai bên hài lòng ghi nhận tiến triển trong hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, nhất trí tăng cường triển khai các nội dung hợp tác được xác định tại Kỳ họp lần thứ 4 Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ về năng lượng nguyên tử. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam mời Ấn Độ tham gia vào lĩnh vực điện hạt nhân tại Việt Nam. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ cung cấp Cobalt-60. Hai bên nhất trí xem xét mô hình phù hợp để Ấn Độ tiếp tục cung cấp cho Việt Nam.
34. Hai bên ghi nhận tiến triển trong việc thiết lập Trạm dò tìm, thu nhận và xử lý dữ liệu ASEAN - Ấn Độ tại Việt Nam. Việt Nam nhất trí đẩy nhanh các thủ tục cần thiết để sớm hoàn thiện dự án này.
35. Hai bên hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Công ty Đất hiếm Ấn Độ (IREL) và Viện Công nghệ xạ hiếm thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM) về hợp tác trong lĩnh vực đất hiếm, và nhất trí triển khai sớm và đầy đủ thỏa thuận này.
36. Hai bên đánh giá cao quan hệ đối tác phát triển sâu rộng và có tác động thiết thực giữa hai nước, thông qua các Dự án Tác động Nhanh (QIP) trong khuôn khổ hợp tác Mekong - Sông Hằng, các chương trình học bổng Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Ấn Độ (ITEC) và học bổng giáo dục. Hai bên hài lòng ghi nhận việc triển khai 66 dự án QIP do Ấn Độ tài trợ cho 32 trong tổng số 34 tỉnh thành của Việt Nam, mang lại tác động kinh tế-xã hội thiết thực cho địa phương và cộng đồng.
37. Hai bên nhấn mạnh chương trình ITEC là trụ cột quan trọng trong hợp tác phát triển. Việt Nam đánh giá cao Ấn Độ đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam thông qua chương trình ITEC, bao gồm các khoá đào tạo chuyên sâu, cũng như các học bổng của Hội đồng Giao lưu văn hoá Ấn Độ (ICCR).
38. Hai bên khuyến khích tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên và nghiên cứu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức của hai nước; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Đại học Nalanda và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
39. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ rước Xá lợi Đức Phật sang Việt Nam tôn trí từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2025. Hai Lãnh đạo ghi nhận sự hưởng ứng sâu rộng của người dân Việt Nam đối với Xá lợi Đức Phật, phản ánh liên kết văn minh sâu sắc, di sản tinh thần chung và tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước.
40. Hai bên ghi nhận du lịch là động lực quan trọng thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng trưởng kinh tế; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ hợp tác du lịch và nhất trí khuyến khích phát triển du lịch hai chiều bền vững, bao trùm, bao gồm du lịch văn hóa và di sản, du lịch y tế và chăm sóc sức khoẻ và các loại hình khác.
Thủ tướng Modi mời du khách Việt Nam tới thăm Con đường Phật giáo tại Ấn Độ. Hoan nghênh việc tăng cường các chuyến bay thẳng giữa hai nước, hai bên khuyến khích cơ quan hàng không dân dụng của hai nước trao đổi nhằm tăng cường hơn nữa kết nối hàng không.
41. Hai bên hoan nghênh việc ký Chương trình Hợp tác Văn hóa giai đoạn 2026 - 2030; nhất trí tiếp tục thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường kết nối nhân dân.
42. Nhấn mạnh mối liên kết văn minh giữa hai nước, Lãnh đạo hai nước khuyến khích tăng cường trao đổi giữa các học giả Phật học, tăng ni, người hành hương và sinh viên hai nước. Việt Nam đánh giá cao cam kết của Ấn Độ trong việc bảo tồn Di sản Thế giới UNESCO Mỹ Sơn, cũng như các hoạt động trùng tu, bảo tồn do Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ triển khai tại các khu A, H và K, dự án đang thực hiện tại các khu E và F, và tại Tháp Nhạn, tỉnh Đắk Lắk.
43. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam ủng hộ tổ chức Ngày Quốc tế Yoga hằng năm tại nhiều tỉnh, thành phố của Việt Nam. Hai bên ủng hộ tăng cường hợp tác hơn nữa giữa các cơ sở yoga hai nước, và thúc đẩy giao lưu văn hóa; nhất trí tăng cường trao đổi văn hoá giữa hai nước và thiết lập vị trí Giáo sư chuyên ngành Ấn Độ học tại Đại học Đà Nẵng và Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội
44. Hai bên hoan nghênh việc ký Bản ghi nhớ hợp tác giữa TP.HCM và thành phố Mumbai và khuyến khích tăng cường hơn nữa hợp tác và kết nối tương tự.
45. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác về nguồn nhân lực. Hai bên hoan nghênh thiết lập tham vấn lãnh sự nhằm xử lý các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có việc tạo thuận lợi di chuyển thị trường lao động.
46. Ghi nhận bối cảnh địa chính trị và kinh tế thế giới nhiều biến động, hai bên nhấn mạnh sự hội tụ chiến lược ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thúc đẩy một trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế, trên cơ sở hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và thế giới. Hai bên kêu gọi tăng cường tiếng nói và vai trò của các nước phương Nam trong quản trị toàn cầu.
47. Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương, trong đó có Liên hợp quốc. Tái khẳng định cam kết củng cố chủ nghĩa đa phương, hai bên ủng hộ mạnh mẽ cải cách các tổ chức quốc tế, bao gồm Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhằm bảo đảm tính đại diện và phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn hiện nay. Thủ tướng Modi đánh giá cao Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khi cơ quan này được mở rộng.
48. Việt Nam hoan nghênh Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch BRICS năm 2026, Ấn Độ tái khẳng định cam kết ủng hộ Việt Nam trong vai trò đối tác BRICS.
49. Hai bên ghi nhận Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong Chính sách Hành động Hướng Đông, Tầm nhìn MAHASAGAR và Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Ấn Độ, góp phần thúc đẩy sự tham gia của Ấn Độ với Tiểu vùng Mekong, ASEAN và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên tái khẳng định tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và dựa trên luật pháp quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự ủng hộ nhất quán của Ấn Độ đối với đoàn kết ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực. Hai bên ủng hộ việc tiếp tục củng cố Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện ASEAN - Ấn Độ, bổ trợ cho quan hệ song phương của Ấn Độ với các nước thành viên.
50. Nhấn mạnh liên hệ giữa an ninh và thịnh vượng, hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không quân sự hóa và thực hiện tự kiềm chế, không có các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình hoặc gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Hai bên khẳng định UNCLOS là khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh mọi hoạt động trên các vùng biển và đại dương; tiếp tục kêu gọi thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS, không làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các quốc gia, kể cả những quốc gia không phải là bên tham gia đàm phán.
51. Hai bên lên án mạnh mẽ chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện, trong đó có khủng bố xuyên biên giới. Hai bên kêu gọi chính sách không khoan nhượng với khủng bố, thúc đẩy các nỗ lực quốc tế phòng, chống khủng bố toàn diện và duy trì, bao gồm thông qua Liên hợp quốc và Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF). Hai bên kêu gọi việc ngăn chặn các mạng lưới tài trợ và cung cấp nơi trú ẩn cho khủng bố, triệt phá cơ sở hạ tầng khủng bố và nhanh chóng đưa các đối tượng khủng bố ra trước công lý.
52. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Thủ tướng Modi đã đón tiếp nồng hậu và chu đáo, và trân trọng mời Thủ tướng Modi thăm Việt Nam./.
New Delhi, ngày 06 tháng 5 năm 2026
Tin Gốc: Thanh Niên

* Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có cho rằng mối quan hệ "ấm áp" hiện nay với Trung Quốc có thể duy trì trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông, cũng như cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại và an ninh không? Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có tin rằng Việt Nam có thể thúc đẩy tiến triển trong vấn đề tranh chấp Biển Đông mà vẫn duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc không?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ gắn bó lâu đời. Hiện nay, hai nước đang triển khai hợp tác thực chất trên nhiều lĩnh vực quan trọng.
Chủ trương của Việt Nam là tiếp tục phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bởi Trung Quốc hội tụ đầy đủ các yếu tố của một đối tác ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam: là nước láng giềng, là đối tác quan trọng và là quốc gia có nhiều lợi ích chung cũng như những điểm tương đồng với Việt Nam. Việc duy trì quan hệ hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác có trách nhiệm với Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho cả hai nước mà còn đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định của khu vực.
Về vấn đề Biển Đông, lập trường của Việt Nam rất rõ ràng và nhất quán. Chúng tôi kiên quyết bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Chúng tôi không cho rằng việc duy trì và phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc và xử lý các vấn đề trên Biển Đông là mâu thuẫn với nhau. Nếu duy trì được quan hệ tốt đẹp và đối thoại hiệu quả, mọi bất đồng đều có thể được giải quyết. Ngược lại, sự phát triển tích cực của quan hệ song phương cũng tạo nền tảng thuận lợi cho đối thoại. Vì vậy, việc duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền và giải quyết các vấn đề trên Biển Đông là những mục tiêu bổ trợ lẫn nhau, chứ không loại trừ nhau.
Đối với quan hệ Mỹ - Trung Quốc, cạnh tranh giữa các nước lớn là một thực tế khách quan. Việt Nam không tiếp cận quan hệ với các nước lớn từ lăng kính an ninh, cũng không lựa chọn đứng về bên nào. Chúng tôi duy trì quan hệ tốt với các nước lớn để cùng giải quyết những vấn đề quan trọng, thiết yếu; chủ trương của Việt Nam là không hợp tác với nước này để gây tổn hại hoặc tạo khó khăn cho nước khác.
Vì vậy, Việt Nam đã và đang duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Mỹ và Trung Quốc, mang lại lợi ích cho tất cả các bên, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực.
* Xin Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Việt Nam có khả thi hay Đảng và Chính phủ đang xem xét điều chỉnh giảm xuống do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Iran? Trong những năm tới, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là tham vọng hay là mục tiêu khó đạt được trong thực tế?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khát vọng phát triển của Việt Nam là khát vọng chung của toàn dân tộc. Chúng tôi đã xác định mục tiêu rõ ràng, đó là đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Mục tiêu này đã được đề ra từ nhiều năm trước và liên tục được khẳng định, trong đó có trong Báo cáo chính trị của đại hội Đảng. Thế hệ chúng tôi có trách nhiệm tiếp tục sự nghiệp phát triển đất nước và kiên định theo đuổi định hướng đó.
Để trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, kinh nghiệm quốc tế cũng như quy luật phát triển cho thấy Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hai con số, tức tối thiểu từ 10% trở lên. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu và cân nhắc rất kỹ lưỡng. Chúng tôi hoàn toàn nhận thức được rằng đây là một mục tiêu đầy tham vọng và rất thách thức. Tuy nhiên, vì quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, chúng tôi đã và đang triển khai nhiều giải pháp thực tiễn quan trọng.
Chúng tôi đã đánh giá lại năng lực quốc gia và xác định lại mô hình phát triển, tăng trưởng của đất nước. Mô hình này phải được xây dựng trên nền tảng tự lực, tự cường và tự chủ chiến lược. Chúng tôi đã rà soát toàn bộ các nguồn lực dành cho phát triển, và điều đó cho chúng tôi cơ sở vững chắc để lạc quan.
Điều mang lại cho chúng tôi niềm tin chính là quyết tâm rất cao của toàn bộ hệ thống chính trị: sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, sự đồng thuận rộng rãi của nhân dân, cũng như sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà sản xuất, khu vực kinh tế tư nhân, người lao động và nông dân. Chúng tôi có sự đồng thuận lớn của toàn xã hội đối với mục tiêu đầy tham vọng này.
Chúng tôi tin rằng không có con đường nào khác. Nếu không đạt được mục tiêu này, Việt Nam sẽ không thể hiện thực hóa những khát vọng phát triển lớn hơn mà đất nước đã đặt ra.
Đúng là khi mục tiêu này được đề ra, chúng tôi chưa phải đối mặt với một số khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, nhiều thách thức đã được dự liệu từ trước, bao gồm bất ổn chính trị thế giới, những khó khăn của kinh tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng, áp lực về năng lượng và biến động của thị trường quốc tế. Dù vậy, dựa trên quỹ đạo phát triển trong những năm gần đây, chúng tôi vẫn duy trì sự lạc quan.
Chúng tôi đã triển khai nhiều biện pháp mới và đang xây dựng một mô hình phát triển, tăng trưởng mới cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - một mô hình dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh của con người Việt Nam, tinh thần tự lực, tự cường, tư duy đổi mới sáng tạo, cùng với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ kinh nghiệm phát triển của các quốc gia thành công và chuyển hóa những bài học đó thành các chính sách cụ thể.
Đồng thời, chúng tôi cũng rà soát lại hệ thống thể chế, xác định các điểm nghẽn và đang tiến hành những cải cách cần thiết nhằm tháo gỡ các rào cản đối với tăng trưởng, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển dài hạn.
Trên thực tế, kết quả đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy mặc dù vẫn còn những khó khăn và cần có những điều chỉnh nhất định, các mục tiêu cốt lõi vẫn nằm trong tầm tay. Điều này càng củng cố niềm tin của chúng tôi.
Đối với câu hỏi liệu Việt Nam có điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng hay không, câu trả lời của chúng tôi là rất rõ ràng: chúng tôi sẽ không điều chỉnh mục tiêu này theo hướng giảm xuống. Chúng tôi kiên định không chỉ với mục tiêu tăng trưởng của năm 2026 mà còn với việc duy trì quỹ đạo tăng trưởng đó trong những năm tiếp theo, bởi chỉ có như vậy mới có thể đạt được các mốc phát triển mà đất nước đã đề ra.
Và tham vọng của chúng tôi còn vượt xa hơn thế. Tầm nhìn của Việt Nam không chỉ dừng lại ở năm 2045. Chúng tôi đang hoạch định cho cả dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước cũng như cho thế kỷ phát triển tiếp theo của Việt Nam, với những khát vọng còn lớn lao hơn nữa trong tương lai.
* Xin trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã dành thời gian quý báu sau một ngày làm việc với lịch trình hết sức bận rộn để trả lời cho hãng Reuters hôm nay.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Cảm ơn các phóng viên. Chúng tôi hy vọng phóng viên đưa tin khách quan, đúng thực tế, đúng hình ảnh và sự phát triển của đất nước Việt Nam. Chúng tôi không né tránh nhìn vào khó khăn, thách thức cũng như những hạn chế, tồn tại. Tuy nhiên, chúng tôi đề nghị phóng viên phản ánh chân thực thực tế, đúng theo nguyện vọng, đúng theo yêu cầu, đúng với sự phát triển của đất nước chúng tôi. Xin cảm ơn!
Tin Gốc: Thanh Niên

