Tại hội đàm, Thủ tướng Narendra Modi nhấn mạnh Ấn Độ luôn coi Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu trong chính sách “Hành động hướng Đông”, bày tỏ tin tưởng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh hai nước vẫn còn rất nhiều tiềm năng và lợi thế to lớn để mở rộng hợp tác, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị hai bên tiếp tục tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp hai bên mở rộng hiện diện tại thị trường của nhau. Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí nâng tầm quan hệ lên “Đối tác Chiến lược toàn diện tăng cường” trên tinh thần “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất”, mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ song phương.
Để cụ thể hóa mối quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện tăng cường, hai nhà lãnh đạo đã trao đổi chân thành và thống nhất những định hướng chiến lược nhằm tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa các mặt hợp tác.
Theo đó, hai bên khẳng định tăng cường mạnh mẽ sự tin cậy chính trị trên cơ sở tương đồng về tầm nhìn, làm nền tảng cốt lõi và định hướng quan hệ song phương. Hai bên nhất trí duy trì trao đổi đoàn cấp cao và tiếp xúc thường xuyên; phát huy hơn nữa hiệu quả các cơ chế hợp tác, trong đó có Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam – Ấn Độ.
Hai bên nhấn mạnh vai trò trụ cột quan trọng của hợp tác quốc phòng – an ninh và khẳng định mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, an ninh hàng hải, an ninh mạng, trao đổi thông tin và chống khủng bố. Phía Ấn Độ cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo, huấn luyện và nâng cao năng lực quốc phòng, an ninh.
Trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, hai nhà lãnh đạo nhất trí tạo đột phá, gia tăng tính bổ trợ lẫn nhau theo phương châm cùng thắng, đôi bên cùng có lợi, nhất là trong tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.
Hai bên phấn đấu đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 25 tỉ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng, bền vững; tháo gỡ rào cản thương mại để tạo thuận lợi cho hàng hóa của nhau vào thị trường mỗi nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam sẵn sàng gia tăng nhập khẩu từ Ấn Độ để đa dạng hóa đầu vào cho sản xuất; đề nghị Ấn Độ xem xét từng bước gỡ bỏ các quy định liên quan đến tiêu chuẩn của Cơ quan Tiêu chuẩn Ấn Độ (BIS) với hàng hóa Việt Nam.
Hai bên khuyến khích thúc đẩy đầu tư hai chiều theo hướng chất lượng cao; tạo điều kiện thuận lợi để các tập đoàn lớn của nước này đầu tư vào nước kia với các dự án quy mô lớn, mang tính biểu tượng, nhất là trong các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng tái tạo, dược phẩm, công nghệ cao…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Narendra Modi cũng nhất trí lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cho giai đoạn phát triển mới của quan hệ hai nước.
Hai bên nhất trí mở rộng và thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ lõi như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, 6G, y tế, hợp tác khai thác, chế biến khoáng sản thiết yếu, năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái hợp tác giữa các doanh nghiệp công nghệ hai nước, hướng tới thành lập các liên doanh, trung tâm nghiên cứu phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo chung.
Hai bên cũng nhất trí củng cố nền tảng xã hội của quan hệ thông qua việc tăng cường hợp tác văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân; phát huy các giá trị tương đồng về văn hóa, lịch sử và tôn giáo; thúc đẩy kết nối hàng không, logistics và hợp tác giữa các địa phương, trung tâm kinh tế, công nghệ của hai nước.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên khẳng định tiếp tục tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, nhất là Liên Hiệp Quốc, Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đánh giá cao vai trò trung tâm của ASEAN. Hai bên cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) 1982.
Sau cuộc hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Narendra Modi đã chứng kiến lễ ký kết và trao nhiều văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, khoáng sản thiết yếu, y tế, du lịch và văn hóa, tài chính, an ninh mạng, hợp tác địa phương, kiểm toán.
Tin Gốc: Thanh Niên

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố:
1. Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 đến ngày 8.52026. Ngày 8.5.2026, tại Phủ Tổng thống, Thủ đô Colombo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón trọng thể với 21 loạt đại bác chào mừng và hội đàm với Tổng thống Sri Lanka. Hai nhà lãnh đạo cũng đồng chủ trì gặp gỡ báo chí chung, dâng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Thư viện Công cộng Colombo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến và cùng Thủ tướng Harini Amarasuriya dự lễ khai mạc Diễn đàn Thương mại - Đầu tư - Du lịch Việt Nam - Sri Lanka tại Colombo; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Jagath Wickramaratne và phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka.
2. Chuyến thăm tái khẳng định tình hữu nghị truyền thống và sự tin cậy hơn 55 năm qua được vun đắp dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, các giá trị và cam kết chung vì hòa bình, ổn định và phát triển. Quan hệ song phương càng được thúc đẩy bởi khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường, bởi tầm nhìn chung về an ninh, thịnh vượng kinh tế, phát triển bền vững, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
3. Tại hội đàm, Tổng thống Dissanayake gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhân dịp đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sự tin tưởng và tín nhiệm sâu sắc. Tổng thống Dissanayake bày tỏ tin tưởng chắc chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những thành tựu to lớn và phát triển bền vững hơn nữa.
Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi toàn diện và thực chất về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hài lòng trước sự phát triển của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện.
Với việc nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện, Hai nhà lãnh đạo cam kết tiếp tục củng cố và tăng cường hợp tác hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Việc nâng cấp này cũng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
4. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, trong đó có giao lưu nhân dân để làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có.
5. Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng và nhu cầu thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhất là giữa nhóm nữ đại biểu quốc hội, nhóm đại biểu quốc hội trẻ; thúc đẩy thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka.
6. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011; khuyến khích các hoạt động hợp tác thực chất hơn, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc; nhất trí hợp tác trong các lĩnh vực như dịch vụ sửa chữa và mua sắm thiết bị quốc phòng; đẩy nhanh đàm phán, hướng tới ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng để tạo cơ sở hợp tác; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng.
7. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh và nhất trí triển khai hiệu quả cơ chế đối thoại an ninh; rà soát, cập nhật Thỏa thuận hợp tác về đấu tranh, phòng chống tội phạm ký năm 2009; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, khủng bố, nhập cư bất hợp pháp; mở rộng hợp tác an ninh hàng hải, cảnh sát và an ninh mạng.
8. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa hai nước thông qua việc đàm phán và ký kết bản ghi nhớ hợp tác mới giữa hai Bộ Tư pháp để thay thế bản ghi nhớ ký năm 2013 đã hết hiệu lực.
9. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác thương mại và đầu tư song phương. Hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả thực chất cơ chế Tiểu ban Thương mại hỗn hợp và thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường hợp tác thương mại, bao gồm tạo thuận lợi về thương mại, trao đổi thông tin và thúc đẩy doanh nghiệp. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng to lớn của việc mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế và nhất trí đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỷ USD vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, phía Việt Nam ghi nhận mong muốn của Sri Lanka về việc sớm trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
10. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Phía Việt Nam đánh giá cao đầu tư của Sri Lanka tại Việt Nam; phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn thu hút thêm đầu tư từ Việt Nam. Hai bên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hướng đến một số dự án mang tính biểu tượng trong các lĩnh vực như hạ tầng, viễn thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, bán lẻ, logistics, hạ tầng du lịch và năng lượng tái tạo.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; thúc đẩy ký kết văn kiện hợp tác về chuyển đổi số; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin.
12. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực. Hai bên cũng nhất trí tích cực triển khai kế hoạch công tác giai đoạn 2024 - 2026 trên cơ sở Bản ghi nhớ năm 2009 về Hợp tác phát triển nông nghiệp và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.
13. Phía Sri Lanka đề nghị Việt Nam cung cấp phân bón phục vụ canh tác lúa gạo theo thỏa thuận cấp Chính phủ. Xét tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với cả hai nước và những thách thức hiện tại về nguồn cung, phía Việt Nam xem xét tích cực đề nghị này.
14. Ghi nhận mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tình hữu nghị lâu đời, các hoạt động giao lưu Phật giáo trải dài qua nhiều thế kỷ và bắt nguồn từ những giá trị chung cũng như di sản văn hóa phong phú, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình giao lưu, quảng bá văn hóa, lịch sử và thể thao; tăng cường kết nối giữa các tổ chức Phật giáo; thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nghiên cứu tổ chức các diễn đàn, hoạt động hành hương và tiến tới đồng đăng cai các sự kiện Phật giáo khu vực và quốc tế.
15. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm triển khai hiệu quả các cơ chế song phương hiện có trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nhất trí hợp tác sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình giới thiệu về văn hóa, con người và lịch sử của hai nước.
16. Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác giáo dục, hai bên nhất trí khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai bên, triển khai việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh hai nước.
17. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những chuyển biến trong nỗ lực sớm đưa vào vận hành các đường bay thẳng giữa hai nước ngay trong năm nay, nhằm tăng cường kết nối, thúc đẩy hiệu quả hợp tác du lịch, thương mại và giao lưu nhân dân.
18. Sri Lanka và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác giữa các hội hữu nghị, hội đoàn kết hai nước; nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, trong đó có giao lưu thanh niên, phụ nữ và mở rộng hơn nữa giao lưu nhân dân.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác khu vực và đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), coi đây là nền tảng quan trọng cho đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực chất về các vấn đề cùng quan tâm. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, bao gồm việc đồng chủ trì cuộc họp giữa kỳ của ARF về cứu trợ thiên tai gần đây và nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo. Phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn trở thành Đối tác Đối thoại theo Lĩnh vực của ASEAN và cảm ơn sự ủng hộ liên tục của Việt Nam về vấn đề này.
20. Sri Lanka và Việt Nam tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế ổn định và hòa bình.
21. Hai bên nhất trí ủng hộ chủ nghĩa đa phương với vai trò trung tâm của Liên Hiệp Quốc; nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết (NAM), Hợp tác Nam - Nam, Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
22. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chung, đặc biệt là hỗ trợ các nước đang phát triển thông qua khả năng tiếp cận tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng. Sri Lanka bày tỏ ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm khu vực về chống tội phạm mạng của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) tại Hà Nội.
23. Nhân chuyến thăm, hai nước đã ký một số văn kiện hợp tác về an ninh, khoa học và công nghệ, tôn giáo, văn hóa, thông tin và truyền thông.
24. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Sri Lanka về sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu dành cho đoàn trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka.
1. Bản ghi nhớ giữa Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an Việt Nam và Học viện Cảnh sát quốc gia, Bộ Công an và các vấn đề Nghị viện Sri Lanka.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ Sri Lanka về các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
3. Bản ghi nhớ giữa Bộ Dân tộc - Tôn giáo Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
5. Bản ghi nhớ hợp tác về hợp tác trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Y tế - Truyền thông đại chúng Sri Lanka.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 19.5.2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.
Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ 20, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ 21. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.
Trước hết, tư tưởng "dân là gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với nhân dân.
Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.
Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống nhân dân.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân.
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.
Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo công việc của mình.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.
Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của nhân dân.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp - Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 - 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 - 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) - Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Tin Gốc: Thanh Niên

