Ngày 16.5, bác sĩ chuyên khoa 2 Trần Văn Thiện Em, Trưởng khoa Mắt – hệ thống Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, cho biết tiêu chuẩn chất lượng đối với dược phẩm nhãn khoa (như thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ tra mắt) được Bộ Y tế Việt Nam quy định rất nghiêm ngặt nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho mắt. Các chỉ tiêu kỹ thuật chính cần đạt được bao gồm độ vô khuẩn, độ trong suốt và kích thước tiểu phân, đẳng trương và độ pH, giới hạn thể tích, chất bảo quản, đồ đựng và bao bì.
“Thuốc nhỏ mắt Natri clorid 0.9% không đạt ‘độ trong’ nghĩa là dung dịch không hoàn toàn trong suốt”, bác sĩ Thiện Em chia sẻ.
Theo bác sĩ Thiện Em, thuốc có thể không đạt chất lượng do nhiều nguyên nhân trong quá trình sản xuất và bảo quản, phổ biến gồm:
Có tạp chất cơ học, bụi bẩn lọt vào trong quá trình sản xuất hoặc vi hạt từ bao bì nhựa.
Kết tủa hóa học, do nguồn nước, nguyên liệu pha chế hoặc điều kiện bảo quản không đảm bảo khiến muối bị kết tinh thành cặn.
Nhiễm vi sinh vật, là trường hợp nguy hiểm nhất.
Dung dịch bị nhiễm vi khuẩn, nấm men hoặc nấm mốc trong quá trình chiết rót, khiến thuốc không còn vô trùng.
Kích ứng mắt: Các hạt lạ dù rất nhỏ cũng có thể cọ xát liên tục vào bề mặt mắt, gây cảm giác cộm xốn, rát đỏ và chảy nước mắt.
Xước giác mạc: Việc cọ xát lặp đi lặp lại có thể làm trầy xước giác mạc, lâu dài để lại sẹo.
Nhiễm trùng mắt: Nếu dung dịch bị nhiễm khuẩn, người dùng rất dễ mắc bệnh viêm kết mạc (đỏ mắt, ra nhiều ghèn) hoặc viêm loét giác mạc – biến chứng nặng ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực.
Kiểm tra trước khi dùng: Trước khi nhỏ mắt, bạn luôn phải soi chai thuốc dưới ánh sáng. Dung dịch đạt chuẩn phải trong suốt, không màu, không có lợn cợn. Nếu thấy chai đục hoặc có cặn, hãy ngừng sử dụng ngay lập tức.
Ngày 24.5, đại diện Bệnh viện đa khoa Bà Rịa (TP.HCM) cho biết các bác sĩ của bệnh viện vừa phẫu thuật thành công, cứu sống 1 nữ bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch do bị thủng tim, mất máu nặng.
Theo thông tin từ bệnh viện, khoảng 1 giờ ngày 19.5, nữ bệnh nhân được đưa vào cấp cứu trong tình trạng lơ mơ, không tiếp xúc, da niêm mạc nhợt nhạt. Các chỉ số sinh tồn đều ở mức báo động đỏ với mạch nhanh, nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt sâu chỉ còn 70/40 mmHg.
Qua thăm khám và thực hiện các cận lâm sàng khẩn cấp, các bác sĩ xác định bệnh nhân rơi vào tình trạng sốc mất máu nguy kịch do chèn ép tim cấp, tràn máu màng ngoài tim lượng nhiều. Đáng lo ngại, người bệnh có một vết thương thấu tim, đe dọa trực tiếp tính mạng nếu không được can thiệp ngay lập tức.
Bác sĩ Ngô Tuấn An, Khoa Ngoại tổng hợp, cho biết thời điểm nhập viện, nữ bệnh nhân không có người thân đi cùng. Người đưa bệnh nhân đến chỉ là người quen và không đủ thẩm quyền ký giấy cam đoan phẫu thuật.
"Nhận được báo cáo khẩn cấp của ê kíp trực, lãnh đạo bệnh viện đã chỉ đạo bỏ qua các thủ tục hành chính, ưu tiên cứu người trước. Đây là tình huống không thể chậm trễ dù chỉ vài phút", bác sĩ An chia sẻ.
Ngay sau đó, bệnh nhân được chuyển thẳng vào phòng mổ. Khi ê kíp tiến hành mở ngực cấp cứu, máu từ màng ngoài tim trào ra ồ ạt. Qua kiểm tra, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân có một vết thương ở vùng tâm nhĩ phải, kích thước khoảng 0,5 cm, đang phun máu dữ dội theo từng nhịp tim.
Trước tình huống đặc biệt nguy cấp, ê kíp phẫu thuật đã khẩn trương phối hợp xử lý, vừa hồi sức tích cực vừa tiến hành khâu vá vết thương tim. Sau khoảng 3 giờ, các bác sĩ đã khâu vá thành công vị trí thủng tim, kiểm soát được tình trạng mất máu và duy trì ổn định tuần hoàn cho bệnh nhân.
Sau phẫu thuật, các chỉ số sinh tồn của nữ bệnh nhân dần hồi phục. Hiện bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và chăm sóc tích cực tại bệnh viện.
Theo các bác sĩ, tổn thương tim là một trong những chấn thương nguy hiểm nhất, tỷ lệ tử vong rất cao nếu không được cấp cứu kịp thời. Việc nhanh chóng đưa ra quyết định mổ khẩn cấp đã giúp giành lại sự sống cho nữ bệnh nhân trong gang tấc.
PGS.TS Nguyễn Huy Thắng - Trưởng khoa bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân dân 115 - cho biết tình trạng nắng nóng kéo dài và gay gắt có thể làm gia tăng nguy cơ đột quỵ trong cộng đồng.
Hiện khoa đang điều trị khoảng 200 bệnh nhân đột quỵ, phần lớn trong độ tuổi từ 50 đến 70. Tuy nhiên đáng chú ý là ngày càng xuất hiện nhiều ca bệnh ở người trẻ, thậm chí mới ngoài 30 tuổi.
Theo ông Thắng, thời tiết nóng ẩm khiến cơ thể mất nước nhanh chóng. Khi cơ thể thiếu nước, máu trở nên cô đặc hơn, làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối trong lòng mạch, đặc biệt là hệ tĩnh mạch. Nguy cơ này càng cao nếu con người phải tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng trong thời gian dài, hoặc khi thân nhiệt tăng cao vượt ngưỡng 40 độ C.
Không chỉ thời tiết nóng, trời lạnh giá cũng có thể gây tác động tương tự. Khi trời lạnh, nhiều người có xu hướng uống ít nước hơn, dẫn đến tình trạng mất nước tiềm ẩn. Đồng thời sự thay đổi nhiệt độ đột ngột nóng hay lạnh đều có thể ảnh hưởng đến sự co giãn của hệ mạch máu, làm tăng huyết áp và gia tăng gánh nặng cho tim.
Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với người lớn tuổi hoặc những người có bệnh nền như tăng huyết áp nhưng chưa được kiểm soát tốt.
Các nghiên cứu quốc tế gần đây cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa thời tiết và nguy cơ đột quỵ. Tại hội nghị của Hội Tim mạch châu Âu năm 2022, một nghiên cứu tại Nhật Bản trên 3.367 người từ 65 tuổi trở lên ở thành phố Okayama cho thấy nguy cơ đột quỵ tăng rõ rệt vào khoảng một tháng sau mùa mưa.
Cứ mỗi 1 độ C nhiệt độ tăng thêm, nguy cơ đột quỵ xuất huyết não tăng 24% và nguy cơ đột quỵ thiếu máu não tăng 36%.
Một nghiên cứu khác tại 8 thành phố lớn ở Trung Quốc với quy mô dân số lên tới 48 triệu người cũng ghi nhận cả thời tiết quá nóng (28-34 độ C) lẫn quá lạnh (4-23 độ C) đều làm tăng nguy cơ đột quỵ.
Tuy nhiên tác động của thời tiết nóng thường xảy ra trong 3 ngày đầu tiếp xúc, trong khi ảnh hưởng của thời tiết lạnh có thể kéo dài khoảng 2 tuần.
Theo bác sĩ Thắng, những thời điểm chuyển mùa, khi nhiệt độ biến động mạnh, là giai đoạn nguy cơ cao nhất bị đột quỵ. Sau đó cơ thể dần thích nghi nên mức độ ảnh hưởng có thể giảm xuống.
Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu quy mô lớn nào đánh giá cụ thể mối liên hệ giữa thời tiết và đột quỵ.
Theo ghi nhận thực tế trong lâm sàng, mối liên quan này là có cơ sở. Các chuyên gia nhận định thời tiết nên được xem là yếu tố thúc đẩy, chứ không phải nguyên nhân trực tiếp gây đột quỵ, ngoại trừ những trường hợp tăng thân nhiệt nghiêm trọng.
Giá trị dinh dưỡng của cá không chỉ phụ thuộc vào việc chúng được nuôi hay đánh bắt tự nhiên, mà còn liên quan đến loài cá, nguồn thức ăn, vùng đánh bắt, phương pháp nuôi trồng và cách bảo quản sau khi bắt, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong một số trường hợp, cá tự nhiên có tỷ lệ omega-3 cao hơn. Nhưng ở những trường hợp khác, cá nuôi lại có hàm lượng omega-3 tương đương, giá rẻ và đôi khi có mức thủy ngân thấp hơn.
Với protein, một số quan điểm rằng cá tự nhiên giàu protein hơn vì chúng phải bơi nhiều hơn trong môi trường tự nhiên. Điều này có thể đúng ở một số loài nhưng mức chênh lệch thường không đáng kể.
Một nghiên cứu công bố trên chuyên san Current Research in Food Science cho thấy cá hồi tự nhiên có hàm lượng protein và tổng a xít amin cao hơn một chút so với cá hồi nuôi. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy mức khác biệt này không quá lớn.
Trên thực tế, nếu ăn cá đều đặn mỗi tuần, lựa chọn cá nuôi hay cá tự nhiên thường không ảnh hưởng quá nhiều đến tổng lượng protein hấp thụ.
Một trong những khác biệt dễ thấy nhất giữa cá nuôi và cá tự nhiên là tổng lượng mỡ cá. Cá nuôi thường được cho ăn theo chế độ giúp tăng trưởng nhanh hơn, đồng thời mức vận động cũng thấp hơn cá sống ngoài tự nhiên. Điều này khiến nhiều loại cá nuôi có xu hướng có nhiều mỡ hơn.
Ví dụ điển hình là cá hồi nuôi thường có phần thịt béo hơn, mềm hơn và nhiều calo hơn cá hồi tự nhiên. Trong khi đó, cá đánh bắt tự nhiên thường có phần thịt săn chắc hơn, ít mỡ hơn và phù hợp với những người đang muốn kiểm soát calo.
Một quan niệm khá phổ biến là cá sống trong môi trường tự nhiên luôn sạch hơn cá nuôi. Nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Cá tự nhiên có thể tiếp xúc với thủy ngân, vi nhựa và nhiều chất ô nhiễm khác tồn tại trong sông, hồ hoặc đại dương. Đặc biệt, những loài cá lớn sống lâu và đứng cao trong chuỗi thức ăn như cá kiếm, cá mập hoặc cá thu thường có nguy cơ tích lũy thủy ngân cao hơn.
Trong khi đó, một số nghiên cứu cho thấy nhờ thay đổi công thức thức ăn chăn nuôi, nhiều trang trại thủy sản hiện đại đã có thể giảm nồng độ một số chất ô nhiễm hữu cơ trong cá nuôi. Vì vậy, yếu tố quan trọng hơn không nằm ở cá được nuôi hay đánh bắt mà là loài cá và nguồn gốc của chúng.
Bên cạnh yếu tố cá nuôi hay cá tự nhiên, mọi người cũng nên quan tâm nhiều hơn đến loại cá cụ thể và nguồn gốc sản phẩm. Ưu tiên các loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp, nguồn cung rõ ràng và được bảo quản đúng cách, theo Healthline.