Theo các bác sĩ tại Viện Sức khỏe tâm thần, đây là một dạng rối loạn tâm thần khiến người bệnh luôn ám ảnh mình đang mắc bệnh hiểm nghèo.
Bác sĩ Phạm Thanh Tùng, Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, chia sẻ vừa tiếp nhận điều trị bệnh nhân nam 27 tuổi nhập viện trong tình trạng lo lắng kéo dài, thường xuyên khó thở, co quắp tay chân.
Khoảng hơn 1 năm trước, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện cảm giác khó thở, tức ngực, đi khám nhiều nơi và được chẩn đoán viêm mũi xoang cấp và điều trị bằng kháng sinh, rửa mũi, súc họng. Sau điều trị, triệu chứng giảm và bệnh nhân quay lại làm việc bình thường.
Tuy nhiên sau đó, các triệu chứng tái diễn nhiều lần. Bệnh nhân luôn có cảm giác khó hít vào, vướng trong mũi và nặng ngực nên liên tục đi khám tại nhiều bệnh viện lớn tuyến trung ương.
Bệnh nhân được chẩn đoán nhiều bệnh lý khác nhau như viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm mũi xoang…
Nam thanh niên điều trị nhiều thuốc không rõ loại, bệnh không thuyên giảm, bệnh nhân nghĩ rằng các triệu chứng khó thở, khó hít vào, cảm giác tức nặng ngực là các triệu chứng của một bệnh lý nghiêm trọng. Không tin mình mắc những bệnh đơn giản như đã được chẩn đoán.
Sau đó, các cơn khó thở và tức ngực ngày càng xuất hiện dày hơn và nặng hơn. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung làm việc, giảm năng lượng, tự ti và cho rằng bản thân vô dụng.
“Cuối tháng 10-2025, bệnh nhân xuất hiện cơn khó thở dữ dội, co quắp tay chân, cứng người. Gia đình đưa bệnh nhân cấp cứu tại Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai.
Tại đây, bệnh nhân được thở oxy, làm khí máu, chụp X-quang ngực nhưng không phát hiện bất thường, nên được chuyển sang Viện Sức khỏe tâm thần điều trị tiếp.
Các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân mắc các rối loạn lo âu hỗn hợp khác. Thậm chí, trong quá trình điều trị, dù được tư vấn và trấn an, bệnh nhân vẫn ám ảnh mình có polyp hoặc khối u trong mũi gây khó thở. Người bệnh thường xuyên soi gương kiểm tra mũi họng, quan sát màu sắc dịch mũi, đờm họng và nhiều lần yêu cầu nội soi tai mũi họng hoặc dùng kháng sinh.
“Sau gần 40 ngày điều trị nội trú bằng liệu pháp tâm lý, thuốc và điều biến não, tình trạng bệnh nhân cải thiện rõ rệt. Các cơn khó thở, co quắp tay chân giảm nhiều, bệnh nhân hiểu được bản chất tâm lý của các triệu chứng và được xuất viện”, bác sĩ Tùng cho hay.
Theo BS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, rối loạn lo âu bệnh tật (Illness Anxiety Disorder – IAD) là một rối loạn tâm thần đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức về việc bản thân đang mắc hoặc sẽ mắc một bệnh lý nghiêm trọng, dù kết quả khám và xét nghiệm hoàn toàn bình thường.
Ví dụ, người bệnh luôn nghĩ mình bị ung thư, bệnh tim mạch hay bệnh gan dù bác sĩ đã nhiều lần khẳng định không có bệnh lý nguy hiểm.
Nỗi sợ này kéo dài dai dẳng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, công việc và các mối quan hệ xã hội.
Bác sĩ Dương Minh Tâm, Viện Sức khỏe tâm thần, cho hay theo thống kê, tỉ lệ lo âu bệnh tật ở người trưởng thành dao động từ 2,1-13,1%. Tại các cơ sở khám chữa bệnh, tỉ lệ này cao hơn, khoảng 7-19,9%.
Bệnh có thể gặp ở cả nam và nữ như nhau, thường khởi phát ở giai đoạn trưởng thành sớm, khoảng 20-30 tuổi, nhưng có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào.
Theo các bác sĩ chia rối loạn lo âu bệnh tật thành hai nhóm chính:
Loại tìm kiếm chăm sóc y tế: liên tục đi khám, yêu cầu xét nghiệm, đổi bác sĩ nhiều lần để tìm kiếm sự xác nhận rằng mình mắc bệnh.
Loại né tránh chăm sóc y tế: quá sợ phát hiện bệnh nặng nên tránh đi khám bệnh.
Theo đó, nhiều yếu tố có thể góp phần hình thành rối loạn lo âu bệnh tật. Những người từng trải qua mất mát, bạo hành tinh thần, gia đình căng thẳng hoặc có người thân mắc bệnh nặng dễ hình thành lo âu sức khỏe kéo dài.
Ở trường hợp này, việc lớn lên trong môi trường có người cha nghiện rượu, thường xuyên quát mắng và mất cha từ sớm được xem là yếu tố nguy cơ đáng chú ý. Hay những người hướng nội, cầu toàn, hay suy nghĩ, nhạy cảm với cảm giác cơ thể có nguy cơ mắc cao hơn.
Những người có tiền sử lo âu, trầm cảm hoặc gia đình có người mắc các rối loạn tâm thần liên quan sẽ dễ bị ảnh hưởng hơn.
Việc tìm kiếm quá mức thông tin bệnh tật trên internet có thể khiến nỗi lo bị khuếch đại. Nhiều người đọc các triệu chứng trên mạng rồi quy kết bản thân mắc bệnh nặng, từ đó hình thành vòng xoáy lo âu kéo dài.
Rau luộc là một trong những món ăn đơn giản và dễ thực hiện nhất. Tuy nhiên, để luộc rau xanh mướt, giòn ngon và đẹp mắt như ngoài hàng thì không phải ai cũng nắm được bí quyết.
-Thêm vài hạt muối: Để rau luộc giữ được vị ngọt tự nhiên và màu xanh tươi, bạn có thể cho thêm một chút muối vào nồi nước luộc. Nhiều người thường dùng cách luộc rau với nhiều nước, thêm xíu muối và đun lửa lớn để rau nhanh chín. Cách này giúp rau giữ được màu xanh, hạn chế mất vitamin và làm nước luộc cũng đậm đà hơn. Lưu ý, luộc rau quá lâu sẽ khiến vitamin bị hao hụt, rau dễ bị vàng và kém ngon.
- Nhỏ vài giọt dầu ăn: Một bí quyết khác để rau luộc bóng đẹp hơn là thêm vài giọt dầu ăn vào nồi nước luộc. Cách này giúp rau sau khi chín có màu xanh tươi, mềm mượt và hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, nếu gia đình có người không thích món ăn nhiều dầu mỡ thì có thể bỏ qua bước này.
- Lưu ý khi vớt rau: Sau khi luộc, nên đảo nhẹ rồi vớt rau ra đĩa lớn, dàn mỏng để rau nhanh nguội. Nếu để rau chồng quá dày hoặc còn giữ nhiệt lâu, rau dễ bị xuống màu, ngả vàng hoặc "chín tiếp" làm giảm độ ngon.
Rau xanh là nhóm thực phẩm rất quan trọng trong bữa ăn hằng ngày. Việc ăn đủ rau mang lại nhiều lợi ích như:
Cung cấp vitamin và khoáng chất: Rau xanh giàu vitamin A, C, K, folate cùng nhiều khoáng chất giúp cơ thể khỏe mạnh và tăng sức đề kháng.
Hỗ trợ tiêu hóa: Lượng chất xơ dồi dào giúp cải thiện hệ tiêu hóa, giảm táo bón và tốt cho đường ruột.
Hỗ trợ kiểm soát cân nặng: Rau xanh ít calo nhưng giàu dinh dưỡng, giúp tạo cảm giác no lâu, phù hợp cho người muốn giữ dáng.
Tốt cho tim mạch: Chất xơ và các chất chống oxy hóa trong rau giúp giảm cholesterol xấu, hỗ trợ bảo vệ tim mạch.
Làm đẹp da và chống lão hóa: Các chất chống oxy hóa giúp làm chậm quá trình lão hóa, hỗ trợ da khỏe và sáng hơn.
Ăn rau xanh thường xuyên kết hợp với cách chế biến đúng sẽ giúp bữa ăn vừa ngon miệng vừa tốt cho sức khỏe.
Sự kiện Future Fest 2026 do Tập đoàn giáo dục Văn Lang tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 24 và 25-4. Ngày hội quy tụ 100 chuyên gia, doanh nghiệp, diễn giả đến từ nhiều lĩnh vực, giúp các bạn học sinh khám phá hơn 60 ngành học và định hướng nghề nghiệp cho tương lai.
Tập đoàn giáo dục Văn Lang cho biết các thông tin nghiên cứu của Gallup, Vietnamworks, McKinsey, PWC và nhiều tổ chức khác cho thấy mỗi năm có hơn 1 triệu học sinh tốt nghiệp THPT, trong đó 80% lựa chọn học đại học, nhưng chỉ khoảng 50% trong số đó đỗ và nhập học.
Thống kê cũng cho thấy 50% học sinh THPT cảm thấy lựa chọn ngành học chưa đúng hoặc chưa phù hợp với định hướng nghề nghiệp tương lai; 36% sinh viên mong muốn được chọn lại ngành học khác. Trong khi đó, 70% lao động trẻ chưa hiểu rõ các kỹ năng cần thiết cho công việc.
Chia sẻ tại sự kiện, PGS.TS Nguyễn Hữu Cương - Hiệu trưởng Trường đại học Phương Đông - cho rằng hiện có một thực tế khiến nhiều sinh viên đang lãng phí cả thời gian và tiền bạc. Đó là có nhiều sinh viên học hết năm nhất và thấy không phù hợp, lại phải nghỉ học, thi lại, chuyển sang ngành mới.
Nguyên nhân là nhiều bạn trẻ chưa được định hướng nghề nghiệp tốt, hoặc tiếp nhận thông tin sai lệch, dẫn đến quyết định chọn ngành mang tính cảm tính, một chiều.
Dấu hiệu sinh viên chọn sai ngành gồm: không hứng thú với bài giảng, cảm thấy kiến thức quá nặng so với khả năng. Khi đó, sinh viên cần chủ động trao đổi với giáo viên và gia đình để được tư vấn, xem xét lộ trình chuyển ngành phù hợp.
"Các phụ huynh cũng cần thay đổi tâm lý "chọn nghề thay con", "chọn theo gia đình, dòng họ" phổ biến ở miền Bắc. Thay vào đó, các gia đình cần tôn trọng thiên hướng cá nhân của học sinh", ông Cương nói.
PGS.TS Đặng Thị Ngọc Dung (Viện Karolinska, Thụy Điển), với 40 năm kinh nghiệm trong ngành y và nhiều năm giảng dạy tại Đại học Y Hà Nội, cho biết bà từng chứng kiến không ít sinh viên không yêu thích ngành y nhưng vẫn lựa chọn theo định hướng gia đình hoặc tác động từ xã hội.
"Tôi nhớ mãi về một sinh viên học y đã bật khóc khi nợ tới 5 môn chuyên ngành. Khi tôi hỏi, em nói không thích học ngành y mà muốn làm nhà văn vì em viết văn rất giỏi. Nhưng bố mẹ không cho em vào trường văn mà bắt phải thi y", bà Dung nhớ lại và cho biết vì áp lực gia đình, sinh viên này cũng không dám tự chuyển trường, thường xuyên trong trạng thái tinh thần mệt mỏi.
Theo bà Dung, một sinh viên không có đủ sự bản lĩnh và đam mê thực sự với ngành nghề sẽ rất khó theo đuổi, dễ rơi vào tình trạng kiệt sức, tâm lý bất công.
Bà cho biết các trường có thể chưa có những thống kê chính thức về tỉ lệ chọn ngành theo ý muốn cha mẹ, nhưng những số liệu khảo sát từ các đơn vị độc lập cho thấy đây là một thực trạng đáng báo động.
Tiến sĩ Lê Nguyên Phương - nhà sáng lập Liên hiệp Phát triển tâm lý học đường (CASP-V) tại Việt Nam - cho rằng xã hội đang đặt ra một thách thức với những học sinh tuổi 17, 18. Ở tuổi này, các em phải chọn một quyết định đúng nhất, quyết định hay nhất về ngành học, nghề nghiệp cho tương lai.
"Tuổi 18, khi mà hệ thần kinh chưa phát triển đầy đủ, nỗi sợ còn quá lớn. Vì sợ không được yêu thương, sợ bị tẩy chay, mà các em phải buộc chọn một quyết định - nếu sai sẽ mất tất cả. Điều này quá bất công với các em", ông Phương nói.
Ông Phương khuyên các bạn học sinh hãy luôn cân nhắc quyết định "lựa chọn vì nỗi sợ tác động từ bên ngoài" hay "chọn lựa với giá trị thực sự của bản thân". Đặc biệt không nên lựa chọn khi đang sợ hãi, bấn loạn, vì không ai có thể đưa ra quyết định sáng suốt trong lúc này.
"Hãy lắng nghe tiếng nói trong thâm tâm của mình. Đừng nghe theo những tiếng nói do mình nhập tâm từ nỗi sợ của người khác vào, rồi lại nghĩ đây là tiếng nói của chính mình", ông nói.
Ông Hoàng Cao Chung, Giám đốc nhân sự FPT Retail, cũng cho rằng việc buộc học sinh 17-18 tuổi phải chọn ngành học gắn với tương lai là chưa công bằng với các em.
Theo ông, về mặt sinh học và tâm lý, học sinh chưa đủ độ trưởng thành để đưa ra lựa chọn dài hạn, nhưng lại phải quyết định trong tâm thế lo lắng, áp lực nhiều hơn là tin tưởng.
Từ trải nghiệm cá nhân từng định hướng học y nhưng chuyển sang ngành kinh tế, ông Chung cho rằng học sinh nên vững với lựa chọn của mình sau khi đã cân nhắc kỹ, đồng thời chủ động lên kế hoạch phát triển bản thân. Nếu chọn sai, vẫn có thể điều chỉnh khi có sự bình tĩnh và định hướng rõ ràng hơn.
Chống viêm: Khoai tây chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C và quercetin, giúp cơ thể chống lại các gốc tự do và giảm tình trạng viêm. Bên cạnh đó, khoai tây còn giàu các hợp chất thực vật chống viêm như axit phenolic, flavonoid và anthocyanin, góp phần hỗ trợ tổng thể cho sức khỏe.
Cải thiện tiêu hóa: Khi khoai tây được nấu chín rồi để nguội, một phần tinh bột sẽ chuyển hóa thành tinh bột kháng. Tinh bột kháng đi xuống ruột kết mà không bị tiêu hóa, giúp nuôi dưỡng các vi khuẩn có lợi trong đường ruột.
Một củ khoai tây nướng cỡ vừa có thể cung cấp khoảng 4 gram chất xơ, hỗ trợ tiêu hóa và mang lại cảm giác no lâu.
Hỗ trợ sức khỏe miễn dịch: Khoai tây là nguồn cung cấp vitamin C tự nhiên - một chất chống oxy hóa mạnh giúp giảm viêm và tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch.
Cung cấp chất điện giải tự nhiên: Khoai tây là nguồn cung cấp kali dồi dào. Kali là khoáng chất bị mất đi qua mồ hôi và đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì chức năng cơ bắp cũng như hoạt động tim mạch khỏe mạnh.
Khoai tây là thực phẩm giàu dinh dưỡng và xuất hiện thường xuyên trong bữa ăn của nhiều gia đình. Tuy nhiên, khi khoai tây mọc mầm hoặc chuyển sang màu xanh, chúng có thể chứa hàm lượng độc tố cao, tiềm ẩn nguy cơ gây ngộ độc nếu tiếp tục sử dụng.
Trong khoai tây tự nhiên có chứa hai hợp chất glycoalkaloid là solanine và chaconine. Đây là những chất giúp cây tự bảo vệ trước sâu bệnh. Ở hàm lượng thấp, chúng không gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe.
Tuy nhiên, khi khoai tây để quá lâu, bắt đầu mọc mầm hoặc phần vỏ chuyển sang màu xanh, lượng glycoalkaloid sẽ tăng lên đáng kể. Nếu ăn phải, người dùng có nguy cơ bị ngộ độc với các biểu hiện như buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, đau đầu, chóng mặt, tim đập nhanh hoặc tụt huyết áp. Trường hợp nặng có thể gây rối loạn thần kinh, hôn mê, thậm chí đe dọa tính mạng.
Đối với phụ nữ mang thai, các chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không nên sử dụng khoai tây đã mọc mầm vì có thể làm tăng nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.
Độc tố trong khoai tây tập trung chủ yếu ở phần mầm, mắt khoai và những vùng chuyển màu xanh. Nếu củ khoai chỉ mới nhú mầm nhỏ, còn cứng, chưa bị xanh hay héo, việc gọt sạch vỏ, loại bỏ hoàn toàn phần mầm và mắt khoai có thể giúp giảm đáng kể lượng độc tố.
Tuy nhiên, với những củ đã mọc nhiều mầm, mềm, nhăn hoặc có nhiều mảng xanh, các chuyên gia khuyến cáo nên bỏ hoàn toàn thay vì cố tận dụng để tránh nguy cơ ngộ độc.
Nhiều người cho rằng chỉ cần luộc hoặc nấu chín là có thể loại bỏ chất độc trong khoai tây mọc mầm. Thực tế, glycoalkaloid khá bền với nhiệt, vì vậy các phương pháp như luộc, hấp, nướng hoặc quay bằng lò vi sóng không làm giảm đáng kể lượng độc tố.
Việc gọt vỏ kết hợp chiên ở nhiệt độ cao có thể làm giảm một phần glycoalkaloid, nhưng không đủ để đảm bảo an toàn nếu khoai đã mọc mầm nhiều hoặc chuyển xanh.
Để kéo dài thời gian sử dụng và hạn chế khoai tây nảy mầm, người tiêu dùng nên:
Chỉ mua lượng vừa đủ sử dụng.
Bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.
Loại bỏ ngay những củ bị dập hoặc hư hỏng.
Không để khoai tây chung với hành tây vì khí ethylene có thể thúc đẩy quá trình nảy mầm.
Thứ nhất, không sử dụng khoai tây đã mọc nhiều mầm, chuyển màu xanh hoặc có dấu hiệu hư hỏng.
Thứ hai, người mắc đái tháo đường nên ăn với lượng vừa phải vì khoai tây có chỉ số đường huyết khá cao.
Thứ ba, nếu sau khi ăn xuất hiện các triệu chứng như nổi mẩn, đau bụng, tiêu chảy hoặc khó tiêu, cần ngừng sử dụng và theo dõi sức khỏe.
Thứ tư, phụ nữ mang thai không nên ăn khoai tây mọc mầm hoặc khoai đã biến chất.
Thứ năm, không nên tự ý sử dụng khoai tây làm thuốc chữa bệnh khi chưa có hướng dẫn của bác sĩ hoặc chuyên gia y tế.
Khoai tây là thực phẩm bổ dưỡng nếu được bảo quản và chế biến đúng cách. Tuy nhiên, khi củ khoai đã mọc mầm, chuyển màu xanh hoặc hư hỏng, lựa chọn an toàn nhất là loại bỏ thay vì tiếp tục sử dụng. Một chút tiết kiệm có thể không đáng để đánh đổi bằng nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của cả gia đình.