Tin Gốc: Thanh Niên

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 13/4 tuyên bố đã "xóa sổ" hải quân Iran, đánh chìm 158 tàu chiến, nhưng thừa nhận Tehran vẫn sở hữu các "xuồng tấn công nhanh", dù ông không cho rằng đây là mối đe dọa lớn.
Xuồng tấn công nhanh là những phương tiện cỡ nhỏ có thể di chuyển với tốc độ cao, trang bị súng máy và một số loại tên lửa chống hạm. Đây được coi là vũ khí chính được lực lượng hải quân thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) dùng để tuần tra hoặc rải thủy lôi ở eo biển Hormuz, theo Chris Long, cựu sĩ quan hải quân Anh từng làm nhiệm vụ ở vịnh Ba Tư.
Trước chiến sự, IRGC được cho là sở hữu 3.000-5.000 xuồng tấn công nhanh. Báo WSJ của Mỹ dẫn các nguồn tin cho hay hơn 60% xuồng tấn công nhanh thuộc biên chế của IRGC vẫn nguyên vẹn sau gần hai tháng chiến sự với Mỹ - Israel. Các xuồng này thường được cất giấu trong các hang ngầm dọc bờ biển Iran và tận dụng tốc độ cao, khả năng cơ động linh hoạt để né tránh vệ tinh do thám.
Saeid Golkar, chuyên gia về IRGC kiêm giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Tennessee, Mỹ, gọi đây là "hạm đội muỗi" của Iran, do những xuồng này có kích thước nhỏ, chạy nhanh và linh hoạt, có thể tiến hành các đòn tấn công quấy nhiễu bằng súng máy, tên lửa và máy bay không người lái (UAV) mang theo. Chúng là lực lượng nòng cốt của hải quân thuộc IRGC, lực lượng độc lập với hải quân chính quy.
"Hải quân IRGC hoạt động giống như một lực lượng du kích trên biển", Golkar cho hay. "Họ tập trung vào lối đánh bất đối xứng, ưu tiên chiến thuật tấn công chớp nhoáng, đánh nhanh rút gọn, đặc biệt là tại vịnh Ba Tư và eo biển Hormuz".
Lực lượng hải quân thuộc IRGC được thành lập vào khoảng năm 1986. Theo chuyên gia Farzin Nadimi từ Viện Washington, Mỹ, trong cuộc chiến Iran - Iraq, hải quân chính quy Iran từng do dự khi tấn công tàu dầu của Kuwait và Arab Saudi, những quốc gia tài trợ cho Iraq lúc bấy giờ.
Vì vậy, IRGC đã nhập cuộc và đẩy mạnh các vụ tập kích, khiến Mỹ phải điều tàu chiến đến hộ tống các đoàn tàu dầu đi qua khu vực. Trong giai đoạn này, tàu USS Samuel B. Roberts của Mỹ từng suýt chìm vì trúng thủy lôi do Iran rải. Hải quân Mỹ đáp trả bằng cách phá hủy hai tàu hộ vệ cùng hàng loạt tàu quân sự khác của Iran trong một trận đối đầu sau đó.
3 năm sau, chứng kiến lực lượng Mỹ áp đảo quân đội Iraq trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất, Iran tin rằng họ khó lòng giành chiến thắng nếu đối đầu trực diện quân đội Mỹ. Do đó, theo Nadimi, nước này đã phát triển một lực lượng tinh nhuệ chuyên tấn công kiểu du kích tại vùng Vịnh.
Hải quân IRGC có khoảng 50.000 thành viên, chia làm 5 khu vực tác chiến dọc theo vùng Vịnh. Lực lượng này cũng duy trì hiện diện trên nhiều đảo trong tổng số 38 hòn đảo mà Iran kiểm soát tại đây.
IRGC đã xây dựng ít nhất 10 căn cứ kiên cố và được ngụy trang kỹ lưỡng để che giấu đội xuồng tấn công nhanh. Một trong số đó là Farur, trung tâm điều hành của lực lượng đặc nhiệm hải quân Iran.
Ban đầu, Iran sử dụng các loại xuồng hoán cải có gắn súng máy hoặc súng phóng lựu. IRGC sau đó chế tạo hàng loạt xuồng nhỏ chuyên dụng, cùng với các loại tàu ngầm mini và xuồng không người lái. Lực lượng này tuyên bố một số mẫu xuồng của họ có thể đạt tốc độ hơn 185 km/h.
Hải quân IRGC gần đây còn phát triển các loại tàu lớn và hiện đại hơn, nhiều chiếc trong số đó đã trở thành mục tiêu tấn công của Mỹ - Israel, theo Alex Pape, chuyên gia hàng hải hàng đầu tại nền tảng phân tích quốc phòng mã nguồn mở Janes. Trong số những tàu bị hư hại trong đòn tập kích của Mỹ có cả tàu sân bay UAV Shahid Bagheri, một tàu container được hoán cải có khả năng phóng cả tên lửa chống hạm.
Để đối phó chiến thuật "bầy đàn" từ các đội xuồng nhỏ của Iran, chiến hạm Mỹ đã được trang bị pháo hạng nặng và nhiều loại khí tài hiện đại khác. Song các tàu thương mại lại hoàn toàn không có khả năng tự vệ trước những cuộc tấn công kiểu này.
Xuồng cao tốc của IRGC hôm 18/4 đã áp sát hai tàu thương mại hoạt động gần eo biển Hormuz, nổ súng ngăn chặn một tàu dầu và dường như đã phóng UAV đánh trúng, gây hư hại một tàu container. Cả hai sự cố đều không ghi nhận thương vong về người.
Nicholas Carl, chuyên gia về Iran tại Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) ở Washington, cho rằng những sự việc như vậy thể hiện mối đe dọa thường trực mà "hạm đội muỗi" Iran có thể gây ra với các tàu thương mại đi qua eo biển Hormuz, ngay cả khi hải quân Mỹ đang hiện diện đông đảo gần đó để thực thi lệnh phong tỏa.
Các chiến hạm cỡ lớn của Mỹ đến nay vẫn tránh tuần tra tại khu vực eo biển Hormuz, bởi eo biển chật hẹp này không đủ chỗ cho tàu chiến xoay xở và gần như không có thời gian để kịp phản ứng nếu bị xuồng cao tốc Iran tấn công từ cự ly gần bằng UAV hay tên lửa.
Những tàu chiến Mỹ thực thi lệnh phong tỏa có thể đóng quân chủ yếu ngoài eo biển, tại vịnh Oman hoặc xa hơn nữa là biển Arab. Tại các vị trí này, họ vẫn có thể kiểm soát những tuyến vận tải hàng hải nhưng IRGC khó tấn công hơn nhiều.
Chuyên gia Carl chỉ ra rằng đây mới là những vụ tấn công đơn lẻ, nguy cơ với hải quân Mỹ và tàu thương mại sẽ cao hơn nhiều nếu Iran thực sự thử nghiệm chiến thuật bầy đàn, sử dụng hàng chục xuồng cao tốc cùng áp sát từ nhiều hướng để tung đòn tập kích trong các tình huống thực chiến.
Hải quân IRGC từ lâu đã áp dụng chiến thuật "mèo vờn chuột" với quân đội Mỹ ngay tại vịnh Ba Tư. Đô đốc Gary Roughead, cựu tư lệnh hải quân Mỹ, nhớ lại trong những năm 1990 và 2000, các xuồng tấn công cỡ nhỏ Iran thường lao thẳng về phía chiến hạm Mỹ với tốc độ cao rồi bất ngờ chuyển hướng khi chỉ còn cách khoảng một km.
"Chúng là lực lượng quấy nhiễu đầy khó chịu", đô đốc Roughead nói. "Bạn không bao giờ biết họ đang tính toán điều gì hay ý đồ thực sự của họ là gì".
Tác chiến UAV đã đẩy mức độ nguy hiểm của "hạm đội muỗi" lên tầm cao mới, Roughead cho hay. Những thiết bị này có giá thành rẻ và đôi khi rất khó phát hiện cũng như ngăn chặn, nhưng lại có khả năng gây thiệt hại nặng nề cho một chiến hạm trị giá hàng tỷ USD, đô đốc này nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Chuyến thăm lần này đánh dấu Singapore là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á mà ông đến thăm cấp nhà nước trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước.
Với những người quan sát kỹ quan hệ Việt Nam và Singapore, điểm đáng chú ý nhất lần này, về mặt chính trị, là sự nâng tầm hợp tác chiến lược thông qua thiết lập cơ chế Đối thoại chiến lược giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Hành động nhân dân Singapore.
Trước đây Việt Nam và Singapore chỉ mới có cơ chế gặp thường niên giữa hai Thủ tướng được thiết lập năm 2023 và diễn ra lần đầu tiên năm 2024.
Đại sứ Singapore tại Việt Nam Rajpal Singh cho biết sự gắn kết tốt đẹp ở cấp lãnh đạo đã tạo nên nền tảng cho quan hệ song phương, thể hiện tầm quan trọng mà cả hai bên dành cho mối quan hệ này.
"Điều đó cũng cho thấy đà phát triển mạnh mẽ kể từ khi hai nước nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm ngoái", Đại sứ Rajpal Singh khẳng định trong cuộc phỏng vấn với báo chí Việt Nam.
Việc thiết lập cơ chế đối thoại giữa hai Đảng cầm quyền, do vậy có thể xem là một bước tiến lớn, cho thấy mức độ tin cậy chính trị mức cao hơn giữa hai bên, là nền tảng để các hợp tác thực chất trên những lĩnh vực khác được triển khai mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Đây cũng là dấu hiệu cho thấy cả hai bên đều không muốn quan hệ song phương dừng ở biểu tượng.
Nếu nhìn ở mặt kinh tế, kết quả chuyến thăm cho thấy quan hệ Việt Nam - Singapore đang dần được kéo ra khỏi lối mòn "thương mại tăng, đầu tư lớn".
"Theo đánh giá của nước ngoài, nếu Việt Nam - Singapore gắn kết chiến lược cao về mặt kinh tế, việc Việt Nam tiến rất nhanh từ nước đang phát triển thành nước phát triển trong vòng 20 năm tới là điều chắc chắn", giáo sư Vũ Minh Khương (Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore) nói với Tuổi Trẻ.
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Singapore Lawrence Wong đã cùng chứng kiến việc trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho năm Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) mới tại Huế, Nghệ An, Hải Phòng, Ninh Bình và TP.HCM.
Các dự án này nâng tổng số khu VSIP tại Việt Nam lên 26, gần đạt mục tiêu 30 khu mà lãnh đạo hai bên đã đề ra nhân kỷ niệm 30 năm VSIP đầu tiên được triển khai.
Trong nhiều năm VSIP là biểu tượng thành công của hợp tác song phương với sự hiện diện trên khắp mảnh đất chữ S. Nói như Đại sứ Rajpal Singh thì "nếu muốn đi khắp Việt Nam, chỉ cần đến các khu VSIP là đủ".
Việc trong chuyến thăm lần này hai bên cùng nhất trí thúc đẩy các khu VSIP thế hệ mới gắn với công nghệ cao, xanh hơn, thông minh hơn và gắn với chuyển giao công nghệ là một tín hiệu đáng giá.
Điều đó có nghĩa là Việt Nam không chỉ muốn tiếp tục hút vốn từ Singapore mà muốn đi xa hơn: kéo dòng vốn ấy vào những mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn, tạo hiệu ứng lan tỏa về quản trị, công nghệ và năng lực sản xuất. Đây là chỗ phân biệt giữa tăng trưởng nhờ quy mô và phát triển nhờ chất lượng.
"Cách chúng ta tiếp cận hợp tác với Singapore lần này không chỉ là vấn đề có đất, có nguồn lực nữa mà thực sự chúng ta đang ở một thực lực cao hơn, tức là có thể khai thác sức mạnh của công nghệ, của đổi mới sáng tạo để sức mạnh cộng hưởng của hai nước có thể tạo ra những bước chuyển biến rất quan trọng", giáo sư Vũ Minh Khương khẳng định.
Việc Diễn đàn Kết nối công nghệ Việt Nam và Singapore được tổ chức ngày 29-5 hay việc hai bên thúc đẩy các sáng kiến kết nối hệ sinh thái công nghệ Việt Nam - Singapore, sự hỗ trợ vận hành trung tâm dữ liệu quốc gia, trung tâm tính toán hiệu năng cao và trí tuệ nhân tạo… cũng cho thấy tư duy hợp tác đã dịch chuyển từ "mua công nghệ" sang "cùng xây năng lực công nghệ".
Chuyến thăm Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến (A*Star Model Factory) - nơi giúp các doanh nghiệp Singapore vượt qua rào cản rủi ro đầu tư, cho phép họ "thử nghiệm trước khi áp dụng" các công nghệ tiên tiến - cũng là một minh chứng cho sự thay đổi này.
Tại nhà máy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ấn tượng với cách Singapore tạo môi trường để doanh nghiệp trực tiếp thử nghiệm công nghệ trước khi đầu tư lớn. Ông khẳng định đây là tư duy kiến tạo rất thực tiễn: Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu, doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, nhà khoa học gắn với nhu cầu sản xuất và năng suất của nền kinh tế.
Theo ông, đây cũng là hướng tư duy mà Việt Nam đang thúc đẩy trong chính sách khoa học công nghệ: nếu chỉ chọn sự an toàn thì sẽ không có đột phá, do đó Việt Nam đang hoàn thiện cơ chế chấp nhận rủi ro hợp lý trong nghiên cứu, khuyến khích thử nghiệm công nghệ mới.
Nói cách khác điều này cho thấy Việt Nam không còn chỉ quan tâm đến công nghệ như một sản phẩm nhập khẩu mà nhìn công nghệ như một hệ sinh thái cần được thiết kế bằng thể chế, vốn mồi, cơ chế chấp nhận rủi ro và đào tạo nhân lực. Đây là khác biệt căn bản giữa một nền kinh tế gia công với một nền kinh tế muốn bước lên nấc thang sáng tạo.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tại phiên điều trần trước quốc hội Mỹ ngày 21/5, quyền Bộ trưởng Hải quân Hùng Cao bị chất vấn về thương vụ bán vũ khí trị giá 14 tỷ USD cho Đài Loan đang bị đình trệ.
Ông cho hay Washington chỉ đang "tạm ngừng" thương vụ để bảo đảm đủ đạn dược cho chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng ở Trung Đông, song khẳng định lực lượng Mỹ vẫn có đủ nguồn dự trữ vũ khí. "Chúng tôi chỉ đang bảo đảm có đầy đủ mọi thứ. Các thương vụ bán khí tài quân sự cho đối tác sẽ tiếp tục khi chính quyền thấy cần thiết", ông nói.
Bộ Ngoại giao Mỹ và Lầu Năm Góc chưa bình luận về phát biểu của quyền Bộ trưởng Hải quân.
Phát biểu làm dấy thêm lo ngại về cam kết của Tổng thống Donald Trump đối với hỗ trợ Đài Loan.
Trung Quốc luôn xem đảo Đài Loan là phần lãnh thổ không thể tách rời và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp để thống nhất. Mỹ cam kết tôn trọng nguyên tắc "Một Trung Quốc" và không ủng hộ Đài Loan độc lập, nhưng cũng thường tránh công khai tuyên bố phản đối sự độc lập của hòn đảo.
Theo Đạo luật Quan hệ với Đài Loan được tổng thống Jimmy Carter ký sau khi Washington thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh năm 1979, Mỹ phải hỗ trợ khả năng phòng thủ cho đảo Đài Loan. Dù vậy, Washington vẫn giữ lập trường mơ hồ về khả năng quân đội nước này can thiệp hỗ trợ hòn đảo nếu xung đột bùng phát.
Tổng thống Mỹ đến nay chưa cam kết thúc đẩy thương vụ bán vũ khí cho hòn đảo. Trước chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu tháng, ông Trump xác nhận sẽ trao đổi với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về vấn đề bán vũ khí cho đảo Đài Loan, khác với lập trường trước đây của Washington rằng họ không cần tham vấn Bắc Kinh về vấn đề này.
Cuối chuyến thăm, ông Trump tuyên bố không đưa ra cam kết nào với ông Tập liên quan đến Đài Loan, song chưa muốn công bố quyết định về thương vụ bán vũ khí.
Trả lời phóng viên sau khi rời Bắc Kinh, Tổng thống Trump xác nhận Chủ tịch Tập đã nêu vấn đề Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Tuy nhiên, ông cho biết không cam kết theo hướng nào và từ chối khẳng định liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan hay không nếu hòn đảo bị tấn công.
Tin Gốc: Vnexpress

