Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 vừa công bố, trong năm, Công ty CP Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam ghi nhận khó khăn trong hoạt động kinh doanh khi doanh thu giảm, tuy nhiên lợi nhuận của tập đoàn vẫn ghi nhận tăng trưởng.
Theo đó, năm 2025, doanh thu của TKV đạt 137.000 tỷ đồng, giảm hơn 8.000 tỷ đồng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế vẫn biến động trái chiều khi ghi nhận hơn 6.689 tỷ đồng, tăng khoảng 1.200 tỷ đồng so với năm trước.
Một trong những yếu tố góp phần lớn vào sự tăng trưởng lợi nhuận tới từ sự tiết giảm của giá vốn hàng bán, giúp lợi nhuận gộp đạt hơn 22.500 tỷ đồng, tăng gần 1.900 tỷ đồng so với năm trước trong bối cảnh doanh thu giảm sút.
Mặc dù vậy, trái ngược với giảm mạnh giá vốn, một trong những khoản chỉ phí lớn mang tính chất thường xuyên của tập đoàn là chi phí quản lý doanh nghiệp lại có mức tăng mạnh trong năm 2025. Theo đó, khoản chi phí quản lý doanh nghiệp của tập đoàn ghi nhận 8.085 tỷ đồng, đã tăng hơn 800 tỷ đồng trong năm 2025. Trong đó, một số cơ cấu chi phí lớn như: chi phí nhân viên ghi nhận hơn 4.235 tỷ đồng, tăng hơn 1.000 tỷ đồng; chi phí khác dịch vụ mua ngoài hơn 585 tỷ đồng, tăng hơn 140 tỷ đồng; đáng chú ý khoản chi phí khác bằng tiền không được ghi rõ trong báo cáo ghi nhận hơn 2.401 tỷ đồng.
Chi tiết một số đơn vị có khoản chi chiếm tỉ trọng lớn có thể kể tới bao gồm: Cơ quan tập đoàn ghi nhận hơn 1.825 tỷ đồng, tăng 460 tỷ đồng so với năm trước. Tương tự Tổng Công ty Khoáng sản TKV ghi nhận hơn 742 tỷ đồng, tăng 200 tỷ đồng; Tổng công ty Công nghiệp hóa chất mỏ ghi nhận hơn 456 tỷ đồng, tăng hơn 100 tỷ đồng; Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc ghi nhận hơn 376 tỷ đồng, tăng hơn 25 tỷ đồng; Tổng Công ty Điện lực ghi nhận hơn 447 tỷ đồng, tăng hơn 50 tỷ đồng… Trong đó, Công ty TNHH Nhôm Lâm Đồng ghi nhận hơn 102 tỷ đồng, tăng hơn 10 tỷ đồng và Công ty TNHH Môi trường TKV ghi nhận hơn 71,8 tỷ đồng, tăng hơn 14 tỷ đồng, đây là 2 đơn vị mới chuyển cơ cấu từ công ty TNHH 100% vốn trở thành chi nhánh của công ty mẹ.
Bên cạnh đó, có nhiều công ty trong tập đoàn cùng có hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có chi phí quản lý tăng trong năm, tiêu biểu như: Than Vàng Danh ghi nhận hơn 212 tỷ đồng, tăng 1 tỷ đồng; Than Hạ Long ghi nhận hơn 144 tỷ đồng, tăng hơn 20 tỷ đồng; Than Hà Lầm ghi nhận hơn 167 tỷ đồng, tăng hơn 10 tỷ đồng; Than Núi Béo ghi nhận hơn 157 tỷ đồng, tăng 6 tỷ đồng… Song song, cũng có một số ít đơn vị lớn ghi nhận sụt giảm tiêu biểu như: Than Cao Sơn ghi nhận hơn 230 tỷ đồng, giảm gần 100 tỷ đồng; Than Nam Mẫu từ 180 tỷ đồng về mức 178 tỷ đồng trong năm 2025…
Cũng theo BCTC hợp nhất năm 2025 của TKV, tập đoàn ghi nhận khoản chi phí tài chính hơn 2.336 tỷ đồng, trong đó, chi phí lãi vay hơn 1,874 tỷ đồng, giảm 160 tỷ đồng so với năm 2024. Ngoài ra, tập đoàn cũng ghi nhận hơn 1.432 tỷ đồng, nguyên giá các tài sản là bất động sản cho thuê, trong đó tài sản nhà cửa, vật kiến trúc hơn 1.194 tỷ đồng. Các khoản mục tài sản này ghi nhận “hao mòn” trong năm 2025 số tiền của TKV hơn 178 tỷ đồng.
Theo đề án cơ cấu lại TKV tới năm 2025, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện cơ cấu về quản trị doanh nghiệp, tập trung hoàn thiện thể chế quản lý, đổi mới, nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên, quản trị đầu tư, quản trị chi phí.
Theo thông tin BCTC hợp nhất năm 2025, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam có 25 đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và 38 đơn vị là công ty con được hợp nhất với công ty mẹ, giảm Công ty Điện Cẩm Phả và Công ty CP Đầu tư phát triển nhà và hạ tầng – TKV sau khi TKV thoái vốn trong năm 2025. Bên cạnh đó là các công ty thuộc hàng “cháu” và các công ty liên danh liên kết, nâng tổng số các công ty “họ TKV” có thể lên tới cả trăm đơn vị liên quan.
Về vị trí địa lý, tại khu vực Tp.Cẩm Phả (trước) có hàng loạt doanh nghiệp với nhiều vụ sản xuất tương đồng là sản xuất than thuộc TKV như: Công ty Than Thống Nhất, Than Cao Sơn, Than Quang Hanh, Than Mông Dương, Than Tây Nam Đá Mài… Tình trạng trên cũng tương tự như tại khu vực Tp.Hạ Long, Tp. Uống Bí trước kia… Đồng thời, tính riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã tập trung hơn 40 đơn vị thành viên là công ty con và hạch toán phụ thuộc của TKV.
Năm 2025 TKV đang thực hiện các biện pháp quyết liệt nhằm tinh gọn bộ máy quản lý, tránh lãng phí,… Sau cơ cấu, TKV được kỳ vọng trở thành tập đoàn sản xuất có công nghệ khai thác hiện đại. Trong đó xây dựng được đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ cao, tăng tỉ trọng lao động trực tiếp, giảm lao động, các khâu trung gian…
Tuy nhiên, hiện TKV vẫn gánh khoản chi phí quản lý lên tới hơn 8.000 tỷ đồng trong năm 2025 với bộ máy hoạt động “khổng lồ”, trong đó duy trì mật độ dày đặc các công ty thành viên đã góp phần gây áp lực lớn lên chi phí quản lý doanh nghiệp và nhiều chi phí khác liên quan.
Ngoài ra, liên quan vấn đề ứ đọng vốn, trong đề án tái cơ cấu, cũng yêu cầu TKV xây dựng cơ chế thanh toán tập trung phù hợp, tránh để tiền ứ đọng ở nhiểu khâu trung gian trong khi vẫn đi vay ngắn hạn phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu. Thực tế trong báo cáo thường niên 2025, Công ty CP Vật tư – TKV cũng đã có đề xuất TKV có cơ chế hỗ trợ trong hoạt động thanh toán bù trừ với các đơn vị trong tập đoàn, giảm áp lực chi phí tài chính cho đơn vị.
Theo báo cáo, ông Ngô Hoàng Ngân, nguyên Phó Bí Thư Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ninh (từ tháng 9/2019 – 4/2023) hiện đang giữ chức Chủ tịch HĐQT của TKV. Trong khi đó, người đại diện pháp luật của tập đoàn là ông Vũ Anh Tuấn, giữ chức Tổng Giám đốc TKV.
Với quy hoạch đồng bộ, hạ tầng hoàn chỉnh và không gian sống chất lượng, dự án được kỳ vọng trở thành biểu tượng đô thị mới, kiến tạo một cộng đồng đáng sống và mở ra tiềm năng gia tăng giá trị bền vững cho các nhà đầu tư.
Như một lời cảm ơn chân thành gửi đến người dân Triệu Sơn đã luôn tin tưởng, đồng hành và ủng hộ Tập đoàn Sao Mai, doanh nghiệp triển khai mở bán đợt 1 gồm 111 lô đất nền với chính sách giá tri ân đặc biệt hấp dẫn nhất kể từ khi dự án ra mắt. Đây là chương trình "tri ân duy nhất, chỉ áp dụng một lần" và kết thúc vào ngày 15/08/2026. Sau thời điểm này, toàn bộ chính sách ưu đãi sẽ chính thức khép lại.
Cụ thể, HDBank được xếp hạng Nhà phát hành nợ dài hạn ở mức BB- với Triển vọng "Ổn định". Trong đó, xếp hạng Nhà phát hành nợ dài hạn bằng nội tệ cũng như ngoại tệ đều được đánh giá ở mức BB-. Đáng chú ý, Đánh giá Năng lực Nội tại của HDBank ở mức bb-, mức cao nhất mà Fitch dành cho các ngân hàng Việt Nam.
Đối chiếu theo quy đổi tương đương giữa các thang xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức xếp hạng quốc tế, mức BB- mà Fitch vừa dành cho HDBank cao hơn một bậc so với mức xếp hạng B1 được đưa ra trước đó bởi cơ quan xếp hạng tín nhiệm Moody's, tiếp tục phản ánh những bước tiến vững chắc về năng lực tài chính và chất lượng tín dụng của nhà băng này.
Theo Fitch Ratings, các mức xếp hạng phản ánh khả năng sinh lời cao, nguồn vốn huy động ổn định và vị thế ngày càng vững mạnh của HDBank trong ngành ngân hàng Việt Nam. Tổ chức này cũng đánh giá triển vọng tăng trưởng tích cực của nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngành ngân hàng trong thời gian tới.
Fitch Ratings ghi nhận HDBank duy trì đà tăng trưởng mạnh về quy mô tài sản và tín dụng trong những năm gần đây, đồng thời không ngừng mở rộng hiện diện tại các phân khúc bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Theo đánh giá của tổ chức này, khả năng sinh lời của HDBank tiếp tục ở mức tốt so với nhiều ngân hàng khác, được hỗ trợ bởi biên lãi ròng và hiệu quả hoạt động cao.
Đáng chú ý, Fitch Ratings kỳ vọng năng lực vốn của HDBank sẽ tiếp tục được nâng cao, từ mức cao dẫn đầu thị trường hiện nay, thông qua các kế hoạch tăng vốn đã được cổ đông thông qua, giúp tăng bộ đệm tài chính sẵn sàng ứng phó mọi rủi ro đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng trong trung và dài hạn.
Việc lần đầu được Fitch Ratings xếp hạng cao với Triển vọng "Ổn định không" chỉ ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh và chất lượng quản trị theo các chuẩn mực quốc tế tốt nhất của HDBank, mà còn tạo thêm cơ sở để ngân hàng mở rộng khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế, đa dạng hóa nguồn vốn và giảm chi phí huy động vốn.
Trước đó, vào tháng 04/2026, Moody’s đã nâng Triển vọng xếp hạng tín nhiệm của HDBank từ "Ổn định" lên "Tích cực", với đánh giá cao về năng lực tài chính, chất lượng tài sản và triển vọng phát triển của ngân hàng.
Kết thúc quý 01/2026, HDBank tiếp tục giữ vững quỹ đạo tăng trưởng với lợi nhuận trước thuế đạt 6.107 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. ROE tiếp tục duy trì ở mức cao, đạt 24,29%, thuộc nhóm dẫn đầu toàn ngành. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II đạt đến 16,2%, gấp hơn hai lần mức tối thiểu 8% theo quy định.
Cuối tháng 6 vừa qua, Bộ NN-MT đã đưa vào hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được xây dựng trên nền tảng dữ liệu dùng chung, phục vụ quản lý, sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi. Theo lãnh đạo Bộ NN-MT, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm (ATTP). Vì vậy, việc chính thức đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vào hoạt động sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và người sản xuất chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao giá trị sản phẩm; đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong giám sát, cảnh báo, truy xuất và xử lý khi phát sinh vấn đề về chất lượng, ATTP.
Đánh giá về công cụ truy xuất này, ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng thư ký Hiệp hội Dừa VN, khẳng định truy xuất nguồn gốc là nền tảng của mọi hoạt động phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tới, không chỉ để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu mà còn phục vụ công tác quản lý của ngành nông nghiệp. Việc Chính phủ đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia là bước đi đầu tiên trong lộ trình xây dựng bản đồ nông nghiệp quốc gia do Bộ NN-MT triển khai. Bản đồ này sẽ bao quát toàn bộ lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Muốn xây dựng được hệ thống đó thì trước hết phải có dữ liệu truy xuất nguồn gốc.
"Ở góc độ thị trường, truy xuất nguồn gốc trước hết giúp tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng. Trước đây, phần lớn nông sản bán trên thị trường nội địa chưa có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, trong khi những sản phẩm đạt tiêu chuẩn thường được ưu tiên xuất khẩu. Người tiêu dùng trong nước vì vậy khó biết chính xác sản phẩm mình mua được sản xuất ở đâu hay có đúng xuất xứ được giới thiệu hay không. Ví dụ như cùng một loại nông sản nhưng có thể được đưa từ địa phương này sang địa phương khác rồi gắn tên vùng trồng khác để bán. Điều này làm giảm tính minh bạch của thị trường. Khi có hệ thống truy xuất nguồn gốc, người tiêu dùng có thể xác định được chính xác xuất xứ sản phẩm, còn cơ quan quản lý cũng có thêm công cụ để quản lý vùng trồng trên phạm vi toàn quốc theo chủ trương Chính phủ đã đặt ra từ vài năm trước", ông Cao Bá Đăng Khoa nhận định.
Trả lời PV Thanh Niên, một đại diện Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP) cũng thừa nhận việc truy xuất nguồn gốc xuyên suốt và có khả năng kết nối đang trở thành nền tảng bắt buộc đối với ngành thủy sản. Trước áp lực ngày càng lớn từ nhà đầu tư, cơ quan quản lý và đối tác chuỗi cung ứng, DN buộc phải minh bạch và chứng minh nguồn gốc sản phẩm.
Ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả VN, nhận định việc Chính phủ đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia vào vận hành là bước đi cần thiết và lẽ ra phải được triển khai từ nhiều năm trước, bởi truy xuất nguồn gốc là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp hiện đại. "Nếu không minh bạch được toàn bộ quá trình canh tác thông qua nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc thì rất khó chứng minh sản phẩm được sản xuất theo quy trình an toàn, sạch và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Việc đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia vào vận hành sẽ tạo điều kiện để nông dân, hợp tác xã và DN chứng minh toàn bộ quá trình sản xuất một cách minh bạch. Khi chứng minh được quy trình sản xuất rõ ràng, các đối tác và khách hàng sẽ có thêm cơ sở để tin tưởng, từ đó yên tâm hơn trong quyết định mua hàng cũng như hợp tác lâu dài", ông Nguyễn Văn Mười nói.
Việc Bộ NN-MT chính thức đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nông sản đã thể hiện quyết tâm nâng tầm mức độ quản lý chất lượng, bảo đảm ATTP, phát triển thị trường và nâng cao uy tín, giá trị nông sản VN. Đến nay, hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu truy xuất nguồn gốc của trên 18.500 sản phẩm thuộc 181 nhóm sản phẩm của 170 DN tại 24/34 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, triển khai ở tất cả các ngành hàng, sản phẩm để phủ kín việc truy xuất đòi hỏi có thêm nhiều thời gian và nhiều giải pháp đồng bộ khác. Ông Nguyễn Văn Mười cho rằng công nghệ truy xuất nguồn gốc chỉ là công cụ hỗ trợ minh bạch thông tin chứ không thể tự nâng cao chất lượng nông sản. Yếu tố quyết định chất lượng vẫn là quy trình sản xuất.
"Nếu chỉ đưa công nghệ vào mà quy trình sản xuất chưa được chuẩn hóa thì việc truy xuất nguồn gốc cũng không thể làm thay đổi chất lượng nông sản. Điều quan trọng nhất hiện nay là phải giúp nông dân chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật. Khi đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc mới phát huy đầy đủ giá trị", ông Nguyễn Văn Mười nhấn mạnh.
Đối với ngành khai thác biển, việc truy xuất nguồn gốc còn khó khăn hơn. Theo VASEP, trong khi các DN nuôi trồng, chế biến nỗ lực khép kín chuỗi sản xuất, xây dựng được thương hiệu và uy tín đối với khách hàng quốc tế thì thực trạng hiện nay trong việc khai thác biển vẫn còn nhiều khoảng trống khiến quá trình truy xuất gặp khó khăn. Đơn cử các sản phẩm như ruốc biển, ghẹ và một số nguồn lợi khai thác ven bờ có giá trị kinh tế, sinh kế và xuất khẩu, nhưng với hiện trạng tàu nhỏ, nghề nhỏ, chuỗi thu mua nhỏ lẻ thì vẫn có nguy cơ khó đáp ứng yêu cầu hồ sơ, truy xuất và chứng nhận xuất khẩu.
Lãnh đạo Bộ NN-MT cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, DN và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai hệ thống; ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, ATTP và minh bạch nguồn gốc. Song song đó, Bộ cũng sẽ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương, DN, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật, khai thác, sử dụng hệ thống một cách hiệu quả, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, bền vững và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.