“Kinh doanh gì cũng phải có cái gọi là chi phí vận hành, thế mà tôi thấy nhiều chủ trọ lại cho rằng việc họ thu giá điện cao là để bù vào ‘phần hao hụt từ công tơ tổng xuống từng phòng và chi phí điện dùng chung như hành lang, bơm nước, camera’. Thử hỏi một phòng trọ không có điện, không có nước thì có ai thuê không? Cái này là chi phí vận hành mà chủ trọ phải tự bỏ ra để kinh doanh, chứ làm sao có thể tính vào tiền điện của người thuê trọ được?
Thực tế hiện nay có rất nhiều khu trọ đang áp dụng phí quản lý khoảng 100.000 đến 200.000 đồng một phòng, nhưng tiền điện, nước vẫn cao ngất ngưởng. Tôi nhớ thời sinh viên mình có thuê một phòng trọ cùng nhà với chủ. Họ cho thuê tổng cộng bốn phòng, tiền điện 3.000 đồng một kW, tiền nước 100.000 đồng một người.
Vào một ngày nọ, khi dắt xe ra khỏi nhà, tôi vô tình thấy hóa đơn tiền điện, nước của nhà chủ. Lúc đó tôi mới phát hiện ra mức phí chủ trọ thu của chúng tôi cao hơn nhiều số tiền thực tế phải trả cho bên điện lực. Chủ trọ không những thu được tiền lời từ việc cho thuê phòng, mà họ còn thu được một khoản lớn tiền điện, nước của khách trọ.
Thực sự, tôi đã rất sốc khi biết được chuyện này. Thật bất công khi trời tối tôi cũng không dám mở cái đèn tuýp 0.8 m cho sáng cái phòng để ăn cơm, chỉ dám bật đèn học vì giá tiền điện quá cao. Vậy mà chủ trọ mở máy lạnh cả ngày, vì tiền điện đã có những người đi thuê trọ như chúng tôi gánh hộ”.
Đó là chia sẻ của độc giả Caolinh về thực trạng nhiều chủ nhà trọ thu tiền điện của người thuê cao hơn mức quy định khi mua điện theo giá bán lẻ sinh hoạt. Theo Nghị định 133, từ ngày 25/5, chủ nhà trọ thu tiền điện của người thuê không đúng mức giá quy định sẽ bị phạt 20-30 triệu đồng. Mức phạt này cao gấp ba lần mức hiện hành, vốn chỉ 7-10 triệu đồng. Dẫu vậy, thực tế hiện nay tình trạng chủ trọ thu tiền điện cao hơn mức quy định vẫn xảy ra khá phổ biến. Quy định này nhận được nhiều sự đồng tình từ phía người thuê trọ, tuy nhiên không ít chủ nhà trọ lại lo lỗ.
>> Nỗi lo đánh thuế nhà cho thuê, người thuê nhà gánh hết
Ủng hộ quy định mới, bạn đọc Truongnv.cland bày tỏ quan điểm: “Tôi có chơi với một chị cho thuê nhà trọ. Chị tâm sự rằng tiền điện nước nhà mình dùng thoải mái, hầu như không phải mất tiền, vì cho thuê phòng trọ lấy giá cao. Người thuê trọ gánh hết. Thực tế, nhiều người cho thuê trọ cứ kêu chi phí tiêu hao này kia nhưng phần lớn họ đều thu thêm tiền của người thuê.
Ngoài tiền dùng điện theo công tơ phải trả giá cao ra, không ít chủ nhà trọ còn thu thêm tiền điện hành lang, thang máy, bơm nước, điện cầu thang, nhà để xe, tiền điện khấu hao… Họ chia theo phòng hoặc theo đầu người. Tóm lại, chủ trọ vẽ đủ kiểu để tận thu của người thuê, hầu như không bao giờ thiệt cả, thậm chí còn có lãi. Chỉ khổ những người đi thuê trọ”.
Đề xuất giải pháp để ngăn chặn tình trạng chủ nhà trọ thu tiền điện của người thuê không đúng giá quy định, độc giả Phanhongdaklak bình luận: “Một việc tưởng như đơn giản là mua bán điện giữa ngành điện với chủ nhà trọ, và giữa chủ nhà trọ với người thuê trọ, lại nảy sinh nhiều vướng mắc. Để tháo gỡ những vấn đề này, phải có sự vào cuộc của nhiều ngành, nhiều cấp.
Trước hết, về thủ tục tạm trú của người thuê, không cần được xem là điều kiện để tính giá điện theo hộ. Việc đăng ký tạm trú chỉ để quản lý về trật tự xã hội, ai không đăng ký tạm trú thì phải chịu chế tài của pháp luật về hành vi này.
Việc bán điện từ công tơ tổng của chủ nhà trọ theo cách chia bình quân số lượng điện tiêu thụ cho từng phòng là không hợp lý. Chủ trọ cần mắc các công tơ phụ ở từng phòng, ai dùng nhiều trả tiền nhiều, ai dùng ít trả tiền ít. Số điện năng hao hụt được cộng vào để tình bình quân giá điện phải thu, điện khu vực chung do chủ cơ sở tính chung vào giá thuê phòng. Để hạn chế việc xử dụng điện quá mức giá ưu đãi, chủ phòng trọ có thể quy định lượng điện tối đa được xử dụng của mỗi phòng.
Mỗi địa phương cần có văn bản nhắc nhở chính quyền cấp cơ sở phải thực hiện trách nhiệm xử lý các trường hợp vi phạm về giá bán điện theo quy định, không né tránh. Trên thực tế, vẫn có nhiều cơ sở cho thuê trọ thu tiền điện theo giá quy định. Đây chính là những bài học sống động cần được cơ quan chức năng, cơ quan truyền thông lan tỏa để nhân rộng. Người lao động phải thuê nhà trọ là những người có nhiều khó khăn. Mong rằng các cấp, các ngành quan tâm giải quyết việc dùng điện của họ một cách hợp lý nhất”.
Trước cách thức, kết quả hoạt động của hệ thống bảo tàng tại Hà Nội hiện nay, cùng góc nhìn của một cựu sinh viên Đại học Dược Hà Nội, việc chuyển đổi một không gian đào tạo để đổi lấy một không gian trưng bày là thiếu thuyết phục.
Thứ nhất, có nên xây mới khi những bảo tàng cũ vẫn đang loay hoay tìm hướng đi?
Tôi quan sát trên mạng xã hội, cánh cửa khổng lồ để tiếp cận du khách hiện đại, sự hiện diện của nhiều bảo tàng còn rất mờ nhạt. Trong khi Di tích Nhà tù Hỏa Lò luôn duy trì sức nóng, những đêm tour cháy vé thì các bảo tàng khác vẫn giữ lối đăng tin hời hợt trên Facebook, gần như không xuất hiện trên các nền tảng Tiktok, Instagram.
Đồng thời, với chủ trương quy hoạch đô thị mở rộng, việc thêm một bảo tàng mới vào trung tâm thành phố có hợp lý? Lẽ nào cư dân khu vực ngoài không cần những bảo tàng?
Như vậy, có nên chăng việc đổ nguồn lực vào việc cải tạo một bảo tàng mới, hay chúng ta nên tập trung đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ của những bảo tàng hiện có, hay tìm những địa điểm mới hơn để phục vụ được nhiều người hơn? Bởi lẽ, một bảo tàng thu hút khách không chỉ nằm ở địa điểm, mà nằm ở cách kể câu chuyện lịch sử sao cho sống động, hấp dẫn.
Thứ hai, từ lâu, mỗi khi vấn đề ùn tắc giao thông, áp lực hạ tầng được xới lên, các trường đại học nội đô luôn trở thành tâm điểm của những yêu cầu di dời. Tuy nhiên, áp đặt định kiến này lên Đại học Dược Hà Nội là một sự thiếu công bằng lẫn căn cứ thực tiễn.
Là một cựu sinh viên từng gắn bó với ngôi trường này, tôi hiểu rõ nhịp sống và lưu lượng giao thông tại đây. Khác với các đại học đa ngành có quy mô lên đến hàng vạn người, Đại học Dược Hà Nội có đặc thù đào tạo chuyên sâu ngành Dược, Công Nghệ Sinh Học với tổng học viên, sinh viên khoảng 3000-4000 người. Đây là một con số rất khiêm tốn, không đủ để tạo ra những áp lực hạ tầng cho khu vực.
Hơn nữa, về vị trí địa lý, trường nằm biệt lập tại quận Hoàn Kiếm cũ, không nằm trong các cụm trường đại học san sát nhau nên không tạo ra hiệu ứng cộng hưởng gây quá tải hạ tầng.
Thực tế cho thấy, phố Lê Thánh Tông hay các trục đường quanh trường chưa bao giờ là "điểm nóng" ùn tắc, ngay cả trong giờ cao điểm. Việc di dời một ngôi trường có mật độ thấp như vậy để giải quyết áp lực đô thị là một lập luận không thuyết phục, nếu không muốn nói là đi ngược lại thực tế hiện hữu.
Tôi hoàn toàn đồng tình với phương án của lãnh đạo ĐH Dược Hà Nội: "Giữ lại cơ sở này làm nơi đào tạo sau đại học và nghiên cứu chuyên sâu", nghĩa là chuyển sinh viên sang cơ sở mới, cơ sở 13-15 Lê Thánh Tông đào tạo hệ sau đại học, nghiên cứu khoa học, các nghi lễ học thuật...
Bảo tồn giá trị nguyên bản: Cảnh quan, cơ sở Lê Thánh Tông đã có tuổi đời hơn 120 năm. Ngay từ khi người Pháp xây dựng, mục tiêu của nó đã là một học viện đào tạo con người. Di sản sẽ sống mãi và được nhớ đến khi nó được thực hiện đúng sứ mệnh nguyên bản của mình.
Một giảng đường có tiếng thầy giảng bài, có bóng dáng những dược sĩ, nhà khoa học tương lai sẽ giá trị hơn nhiều.
- Học tập kinh nghiệm quốc tế: Các thành phố lớn trên thế giới như Paris, London hay Cambridge luôn trân trọng và giữ lại các ngôi trường cổ kính ngay trong lòng trung tâm để làm biểu tượng trí tuệ.
- Giá trị lớn nhất của một công trình không chỉ nằm ở vị trí, những viên gạch, mà nằm ở những con người đã trưởng thành từ đó. Đại học Dược Hà Nội không đơn thuần là một địa chỉ trên bản đồ, mà là "thánh đường" tri thức của hơn 80 thế hệ sinh viên, học viên Dược sĩ cả nước.
Sự nhỏ nhắn, yên bình của mái trường này giữa lòng đô thị náo nhiệt đã tạc sâu vào tâm trí bao người. Đó là những giờ thực hành miệt mài trong phòng thí nghiệm cổ kính, là những buổi lên lớp dưới giảng đường trăm năm mang đậm hơi thở lịch sử.
Suốt hơn 80 năm qua, mảnh ký ức ấy vẫn đang được bồi đắp hằng ngày. Một ngôi trường cổ kính vẫn đang hằng ngày đào tạo ra những dược sĩ, những nhà khoa học chính là một di sản đang sống.
Vào các group xe buýt trên Facebook, nhiều người cũng như tác giả bài "Xe buýt, vấn đề không ở giá vé" lo ngại đi xe buýt trả tiền thỉnh thoảng còn gặp rắc rối, xe buýt miễn phí thì liệu sẽ như thế nào đây?
Theo kinh nghiệm đi xe buýt thường xuyên của tôi thì giá vé không phải là lý do quan trọng để người dân chọn đi xe buýt hay phương tiện cá nhân bởi hiện giờ mức giá vé thường hiện nay 5.000-7.000 đồng mỗi lượt; học sinh sinh viên còn 3.000 đồng, người trên 60 tuổi miễn phí vé.
Mỗi ngày tôi đi ít nhất hai tuyến xe buýt, thường là tôi đi 4 chuyến, bởi qua hai chặng xe mới về tới nhà. Còn hôm nào đi lên xuống trung tâm thành phố hai lần thì tôi sẽ đi 6 chuyến, bởi nhà tôi ở ngoại thành cách trung tâm 14 km.
Tôi có vài ý kiến sau đây:Thứ nhất, cần tiến hành khảo sát thực tế hệ thống điểm dừng xe buýt, do hiện nay vẫn tồn tại nhiều vị trí đón trả khách đặt trên các khu đất trống, không có địa chỉ xác định và thiếu trụ biển báo cho người dân nhận biết.
Tên các trạm không khớp với vị trí thực tế thí dụ như trạm đường 655 thực ra ở mặt tiền đường Đỗ Xuân Hợp, trạm khu quản lý giao thông đô thị số 2 thực ra là metro Bình Thái và gần trạm xe buýt 163, 162. Trạm xe 172 thì ghi là tên trạm là chung cư New City với địa chỉ gốc cây số 372 thì làm sao người dân tìm ra trong khi địa chỉ chính xác là số 388 Mai Chí Thọ không phải là chung cư.
Đa số các trạm khu vực ngoài thành ở nơi trống, người dân đứng đón xe chờ 5 đến 20 phút dưới ánh nắng gay gắt. Trong nội thành, bởi tuyến đường một chiều nhiều, thí dụ xuống trạm ở đường Nguyễn Đình Chiểu nhưng về phải đến trạm ở đường Điện Biên Phủ cách rất xa.
Thứ hai, cần phá vỡ mạng lưới hướng tâm mà đa số tuyến xe đều tập trung về Bến Thành. Mở rộng mạng lưới xe buýt linh hoạt, giảm bớt nhiều tuyến chồng chéo, thiếu trung chuyển liên kết giữa các trạm xe và tuyến xe.
Thí dụ như Trạm ngã tư Bình Thái là trạm lớn mà rất nhiều tuyến xe đi qua nếu người dân cần vào trung tâm, tuy nhiên, không có xe trung chuyển tới trạm này mà chỉ dừng bên kia đường, người dân không thể băng qua xa lộ (đường Võ Nguyên Giáp trước đây là Xa lộ Hà Nội) rất nguy hiểm mà đa số phải nhờ người thân chở ra hoặc đi xe công nghệ ra.
Tuyến xe đi từ Thủ Đức sang Tân Phú, Bình Tân (cũ) không có, phải đi 2-3 chặng. Hoàn toàn không có tuyến đi sang Phú Mỹ Hưng mà bắt buộc phải đi xe buýt tới Bến Thành rồi mới có xe sang quận 7 cũ.
Một người bạn của tôi thường mỗi tuần vài lần phải chạy xe máy khoảng một tiếng rưỡi từ Phú Mỹ Hưng đến Lê Văn Việt (quận 9 cũ), nếu đi phương tiện công cộng thì bạn ấy phải đi xe máy hoặc bắt xe buýt đến metro Bến Thành, đi Metro đến ngã tư Thủ Đức, rồi đi xe buýt 172 mới đến nơi.
Thứ ba, cần tăng cường tuyến xe buýt và trạm dừng ở những địa điểm quan trọng cần thu hút người dân như đường sách Thủ Đức, đường sách TP HCM, các bảo tàng, trung tâm triển lãm...
Tăng thêm nhiều tuyến xe buýt phủ các tuyến đường bởi vì có rất nhiều điểm đến không có tuyến xe buýt hoặc đi mất thời gian vì phải đổi 3-4 chuyến mới tới nơi.
Nếu đi xe máy chỉ tốn khoảng 20-30 phút thì đổi vài chuyến xe lòng vòng mất hơn một tiếng đồng hồ, lại phải đi bộ tìm trạm xe.
Một số tuyến thì ngắn quá, cần mở rộng hơn như tuyến 163, 162 lộ trình chưa bao phủ hết các phường do đó thường xuyên xe chạy không có khách. Những tuyến này cần ghé các khu chung cư để người dân thuận tiện đón xe.
Thứ tư, cần dán đầy đủ lộ trình tuyến và danh sách cụ thể các điểm dừng (kèm địa chỉ rõ ràng) bên trong xe buýt, đồng thời hiển thị cả ở bên ngoài xe để người dân dễ nhận biết.
Những thông tin này sẽ giúp hành khách chủ động theo dõi hành trình, lên xuống đúng trạm, hạn chế tình trạng xuống nhầm điểm hoặc phải hỏi tài xế, tiếp viên.
Hiện nay, nhiều xe buýt chưa thực hiện tốt việc hiển thị lộ trình cả bên trong lẫn bên ngoài, gây bất tiện cho người sử dụng, đặc biệt là người mới đi lần đầu hoặc khách vãng lai.Thứ năm, tăng cường số chuyến xe nhiều hơn đảm bảo đúng lịch trình, chúng tôi từng đứng chờ hơn một tiếng đồng hồ chuyến xe mà theo tổng đài và thông tin ở trạm là sẽ có mà đợi hoài do không đủ xe buýt để chạy quay vòng.
Nếu như mạng lưới xe buýt phủ đa dạng hơn khắp thành phố đã mở rộng và có sự liên kết cho người dân thuận tiện đón xe, sang xe thì tạo nên thói quen sử dụng xe công cộng.
Tôi nghĩ với kinh phí ngân sách nghìn tỷ đồng tập trung để cải thiện, nâng cấp tốt hơn chất lượng dịch vụ thì tự nhiên sẽ có nhiều khách tin cậy chọn xe buýt.
Nhiều người cho rằng Gen Z đang khiến môi trường công sở trở nên "độc hại" hơn: dễ nhảy việc, thiếu kiên nhẫn, thích "chữa lành", ngại áp lực và thiếu trách nhiệm. Nhưng với cá nhân tôi, sau 20 năm đi làm và khoảng 10 năm ở vị trí điều hành dự án cũng như vận hành doanh nghiệp, tôi cho rằng nhận định đó khá chủ quan và chưa phản ánh đúng thực tế.
Tôi thuộc thế hệ 8X. Khoảng 20 năm trước, khi mới bước chân vào thị trường lao động, môi trường công sở cũng đã có sự phân hóa rất rõ về trình độ và thái độ làm việc. Chỉ khác ở chỗ, thời điểm đó nền kinh tế còn phát triển chậm hơn bây giờ, số lượng doanh nghiệp Việt Nam lẫn doanh nghiệp nước ngoài đều ít hơn rất nhiều nên mức độ cạnh tranh khi xin việc cực kỳ cao.
Chính vì cạnh tranh lớn, những người được tuyển dụng thời ấy phần nhiều đều thuộc nhóm nhân sự khá, giỏi. Tôi còn nhớ khi học năm nhất Cao đẳng, mình may mắn được nhận vào làm tại một công ty bán linh kiện máy tính. Nhưng tuổi trẻ lúc đó khiến tôi thiếu kiên nhẫn và chưa đủ chịu khó. Tôi nghỉ việc chỉ sau sáu tháng.
Nhìn lại, tôi nhận ra ở thế hệ nào cũng luôn tồn tại đủ kiểu nhân sự: xuất sắc, giỏi, khá và trung bình. Chỉ là vào thời của chúng tôi, áp lực cạnh tranh lớn đến mức những nhân sự trung bình thường bị đào thải rất nhanh. Vì vậy, nhiều người có cảm giác thế hệ trước "chất lượng đồng đều" hơn.
>> Kiệt sức vì 7 giờ tối vẫn phải ở lại văn phòng 'chạy deadline'
Nếu lấy bối cảnh 20 năm trước để so với hiện tại sẽ thấy thị trường lao động đã thay đổi rất nhiều. Theo quan sát của tôi, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam hiện nay lớn hơn gấp nhiều lần so với khoảng năm 2006. Các công ty FDI, startup và doanh nghiệp mới xuất hiện liên tục, trong khi tốc độ tăng dân số không tương ứng. Điều đó dẫn tới một thực tế: doanh nghiệp ngày càng nhiều nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao không tăng đủ nhanh.
Hệ quả là sự cạnh tranh tuyển dụng không còn giống trước. Nếu ngày xưa ứng viên phải cạnh tranh để vào công ty, thì giờ nhiều doanh nghiệp lại phải cạnh tranh để giữ người giỏi.
Tôi còn nhớ khoảng 14 năm trước, để vào được các công ty truyền thông - Marketing hàng đầu Việt Nam hoặc doanh nghiệp nước ngoài là điều rất khó. Những người được tuyển khi đó thường vừa có năng lực vừa có thái độ làm việc tốt. Nhưng hiện nay, nhiều công ty trong số đó gặp khó khăn trong tuyển dụng vì nhân sự giỏi đã dịch chuyển sang những doanh nghiệp FDI hoặc các môi trường có đãi ngộ tốt hơn.
Vì vậy, phòng nhân sự ở nhiều nơi buộc phải tuyển dụng quy mô lớn để "đãi cát tìm vàng". Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì càng khó hơn khi nguồn lực hạn chế khiến họ chỉ có thể tiếp cận nhóm nhân sự trung bình.
Trong quá trình làm quản lý, tôi cũng từng gặp không ít nhân sự 8X, 9X có năng lực dưới trung bình chứ không riêng gì Gen Z. Vì thế, theo tôi, vấn đề không nằm ở thế hệ nào "tệ hơn", mà là cách doanh nghiệp tuyển dụng, đào tạo và quản trị con người.
Bản thân tôi chọn giải pháp tuyển dụng khắt khe hơn và đưa nhân sự mới vào quy trình đào tạo ngay từ tháng thử việc đầu tiên. Tôi tập trung vào hai yếu tố cốt lõi:
Thứ nhất là quy trình làm việc. Nhân sự cần hiểu rõ cách vận hành công việc, đảm bảo đúng deadline và đúng tiêu chuẩn. Mọi tiêu chí đều minh bạch giữa công ty và người lao động. Làm tốt được ghi nhận, làm sai sẽ bị đánh giá cụ thể. Theo tôi, chính quy trình rõ ràng mới giúp hai bên có tiếng nói chung trong tám tiếng làm việc mỗi ngày.
Thứ hai là chuẩn mực đạo đức trong công sở. Đây là điều tôi đặc biệt coi trọng. Một nhân sự có thể chưa giỏi ngay từ đầu, nhưng nếu thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm hoặc không tôn trọng đồng nghiệp thì rất khó phát triển lâu dài.
Khi mọi quy định đều minh bạch, nhân sự thường sẽ tự nhận ra họ phù hợp hay không chỉ sau một đến ba tháng thử việc. Qua nhiều năm quản lý, tôi nhận thấy sau khi vượt qua vòng phỏng vấn và bước vào môi trường đào tạo thực tế, Gen X, Gen Y hay Gen Z đều có người làm tốt và người làm chưa tốt như nhau. Không có thế hệ nào hoàn toàn ưu tú, cũng không có thế hệ nào "bỏ đi".
Điều khó nhất hiện nay không chỉ là tuyển được người phù hợp mà còn là giữ được người giỏi và đào tạo được những người còn thiếu kinh nghiệm. Đó mới là năng lực thật sự của lãnh đạo và quản lý cấp trung. Doanh nghiệp càng nhiều, sự cạnh tranh giữ nhân sự càng lớn. Một môi trường làm việc thiếu quy trình, thiếu minh bạch hoặc thiếu người dẫn dắt tốt thì rất khó giữ chân nhân viên, bất kể họ thuộc thế hệ nào.
Mỗi thế hệ đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Nếu quy hết những vấn đề công sở hiện nay cho Gen Z thì có phần cực đoan. Gen nào cũng đều có người tốt, người chưa tốt, người chăm chỉ và người thiếu trách nhiệm. Nhìn rộng ra, lao động Việt Nam vẫn rất thông minh, nhanh nhạy và có khả năng thích nghi cao so với nhiều nước trong khu vực. Điều doanh nghiệp cần không phải là than phiền về thế hệ trẻ, mà là xây dựng được hệ thống tuyển dụng, đào tạo và quản trị đủ tốt để giúp người phù hợp phát huy năng lực của họ.