Ngày 16.4, Bộ Ngoại giao ra thông cáo cho biết, nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân sẽ thăm cấp nhà nước tới Việt Nam từ ngày 21 – 24.4.
Trước đó, Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung đã chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm nhân dịp được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước. Ông bày tỏ vui mừng về sự phát triển vượt bậc trong quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giao lưu nhân dân kể từ sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Hàn Quốc của Tổng Bí thư Tô Lâm vào tháng 8.2025.
Tổng thống Lee Jae Myung tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển bền vững và khẳng định Hàn Quốc mong muốn tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trên chặng đường phát triển với vai trò là đối tác hợp tác hàng đầu của Việt Nam.
Thời gian qua, Việt Nam và Hàn Quốc duy trì tốt quan hệ trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội. Giao lưu cấp cao tiếp tục được duy trì bằng nhiều hình thức linh hoạt, qua đó không ngừng củng cố lòng tin chính trị.
Cùng đó, quốc phòng, an ninh được đẩy mạnh. Trao đổi đoàn và các cơ chế đối thoại được triển khai thường xuyên, trong đó có Đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng, Đối thoại an ninh cấp thứ trưởng, Đối thoại chiến lược ngoại giao – an ninh – quốc phòng cấp thứ trưởng.
Về hợp tác kinh tế, Hàn Quốc là đối tác đầu tư số 1; thị trường cung cấp khách du lịch số 2; nước cung cấp ODA số 2; đối tác thương mại số 3; thị trường tiếp nhận lao động số 3 của Việt Nam.
Về thương mại, trong năm 2025, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc đạt 89,5 tỉ USD, tăng 9,6% so với năm 2024; trong đó xuất khẩu của Việt Nam tới Hàn Quốc đạt 28,9 tỉ USD, tăng 12,7%, nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 60,5 tỉ USD tăng 8,1%; nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc có giá trị 31,6 tỉ USD, tăng 4,3%.
Trong 3 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam – Hàn Quốc đạt 26,9 tỉ USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 8,1 tỉ USD, tăng 20,4%; nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc đạt 18,7 tỉ USD, tăng 34,7%.
Hai bên hiện đang trao đổi các biện pháp cụ thể triển khai “Kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu kim ngạch thương mại 150 tỉ theo hướng cân bằng hơn vào năm 2030”.
Về đầu tư, tính lũy kế đến hết tháng 3.2026, Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam trong tổng số 154 quốc gia đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 98,9 tỉ USD, với 10.447 dự án, chiếm hơn 23% tổng số dự án và 18% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Chuyện chưa kể về chuyến bay bí mật đưa Hồ Chủ tịch tới Vinh và Đồng Hới

21 giờ ngày 14.6.1957, đồng chí Đặng Đình Ninh - khi đó là quyền Trưởng ban Cơ vụ Không quân nhân dân Việt Nam - lên gặp Cục trưởng Cục Không quân Đặng Tính để nhận nhiệm vụ đặc biệt. Trong bối cảnh lực lượng Không quân của ta còn non trẻ, trang thiết bị thiếu thốn, trước khi giao nhiệm vụ, Cục trưởng Đặng Tính đã hỏi rất kỹ về tình trạng kỹ thuật của cả 6 chiếc máy bay hiện có.
Sau khi nghe quyền Trưởng ban Cơ vụ Đặng Đình Ninh báo cáo, Cục trưởng Đặng Tính cho biết nhiệm vụ được giao là đưa một đồng chí cán bộ cao cấp vào Vinh và Đồng Hới trên chiếc máy bay Li-2 số hiệu 203.
Thời kỳ này, ngành kỹ thuật hàng không Việt Nam hầu như chưa có gì. Mọi nội dung kiểm tra chuyên cơ đều do chuyên gia bạn thực hiện, thợ máy ta quan sát, sau đó cùng tiến hành kiểm tra. Sau khi kiểm tra xong, theo lệnh của Cục trưởng Đặng Tính, tổ thợ máy không được rời khỏi máy bay cho đến khi cất cánh.
Từ chỉ thị đặc biệt này, tổ bay đã đoán được vị "cán bộ cấp cao" chỉ có thể là Bác Hồ. Vinh dự được thực hiện nhiệm vụ có các đồng chí: Đặng Đình Ninh, Địch Thanh, Trần Tê và Nguyễn Thế Tài. Đêm trước ngày bay, cả tổ trải bạt nằm ngay dưới cánh máy bay, lòng hồi hộp, thao thức không sao ngủ được trước vinh dự lớn lao.
Sáng 16.6, chiếc Li-2 cất cánh hướng về Nghệ An. Trên chuyến bay lúc này chỉ có tổ bay và Cục trưởng Đặng Tính, không thấy vị "cán bộ cấp cao" xuất hiện. Mãi đến khi bay qua Phủ Lý, Cục trưởng Đặng Tính mới tiết lộ: Bác Hồ đã vào Vinh từ hôm trước bằng đường bộ; chuyến bay này vào để đón Bác, chờ đến hôm sau thì đưa Người vào Đồng Hới.
Sáng hôm sau, 17.6, tổ bay có mặt từ sớm để chuẩn bị khởi hành bay Đồng Hới. Khoảng hơn 6 giờ, một chiếc com-măng-ca tiến vào sân bay. Trên xe có lái xe và 1 người mặc bộ đồ kaki, đầu đội mũ cát-két. Đoán đó là người lính cận vệ của Bác, cả tổ bay đều hướng ánh mắt về đoàn 6 chiếc xe đang nối đuôi nhau tiến về phía nhà khách sân bay. "Căng mắt" quan sát, anh em tổ bay vẫn không thấy Bác đâu. Hóa ra, người vận bộ đồ kaki kia mới chính là Bác Hồ. Bác đã có mặt trong nhà khách của sân bay từ trước đó.
Nhận ra Bác, các cán bộ chiến sĩ vui mừng khôn xiết, vây quanh vị lãnh tụ kính yêu trong không khí đầm ấm, thân tình. Đến giờ máy bay cất cánh, các nhân viên trong tổ bay đã về đúng vị trí. Đồng chí Đặng Đình Ninh đón Bác ở cửa máy bay. Bác tươi cười hỏi: "Các chú đã chuẩn bị xong rồi chứ?".
"Thưa Bác , xong rồi ạ, mời Bác lên!", đồng chí Ninh lễ phép đáp.
Đi theo Bác có đồng chí Vũ Kỳ, bác sĩ bảo vệ sức khỏe, 1 đồng chí bảo vệ, 1 cần vụ và 2 người quay phim. Bác ngồi ở hàng ghế đầu, phía trước là 1 chiếc bàn nhỏ trên có đặt mấy tờ họa báo. Cục trưởng Đặng Tính ngồi ngay sau Bác.
Trên chuyến bay, khi qua vùng biển Hà Tĩnh, Bác nhìn xuống và đọc những câu thơ trong truyện Kiều: "Buồn trông cửa bể chiều hôm/Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa". Thấy Bác lảy Kiều, Cục trưởng Đặng Tính vội ứng khẩu: "Bác về thăm lại quê nhà /Năm mươi năm trước nay đà đổi thay".
Đến lúc này, tổ công tác mới biết lần thăm quê hương Nam Đàn vừa rồi của Người là sau đúng 50 năm xa cách (Bác xa nhà từ năm 1907). Bất giác, tất cả cùng im lặng và ai cũng bồi hồi thương Bác.
Chuyến bay từ Vinh vào Đồng Hới kéo dài 40 phút. Khi đến đầu thị xã Đồng Hới, Cục trưởng Đặng Tính yêu cầu tổ lái cho máy bay lượn một vòng quanh thị xã để Bác quan sát cảnh quan phía dưới. Chiều hôm đó, Bác dự mít tinh và nói chuyện với cán bộ, nhân dân Quảng Bình ở sân vận động thị xã Đồng Hới. Buổi tối, Bác làm việc với Tỉnh ủy Quảng Bình và gặp mặt các vị lão thành cách mạng của tỉnh.
Theo kế hoạch, tổ cơ vụ chuẩn bị máy bay để 7 giờ sáng 18.6 sẽ đưa Bác về Hà Nội. Thế nhưng, chuyến bay phải đẩy lên lúc 4 giờ 30 để tránh một cơn giông. Đúng giờ, ô tô đưa Bác đến sân bay. Bác không vào nhà khách mà quyết định ngồi ngay xuống bên vạt cỏ gần máy bay đậu để trò chuyện với các phi công và thợ máy.
Bác hỏi tỉ mỉ về công việc, quê quán của từng người và ân cần dặn dò: "Nước ta còn nghèo, kỹ thuật của ta còn kém, các chú phải nhớ cố gắng học tập và làm việc cho tốt để sau này làm chủ những sân bay hiện đại hơn...".
6 giờ 50 ngày 18.6, máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm. Cả tổ bay ai nấy đều rất hạnh phúc vì đã hoàn thành chuyến chuyên cơ đặc biệt chở Bác Hồ. Hai ngày sau, một vinh dự bất ngờ lại đến: cả đội phi công và tổ cơ vụ được mời sang Phủ Chủ tịch gặp Bác. Người dành gần một giờ đồng hồ để tiếp đón đội bay vừa phục vụ mình. Lúc chia tay Bác, đồng chí Ninh xin phép "chúng cháu về để Bác đi nghỉ ạ!". Bác cười đôn hậu và dí dỏm: "Bác cũng còn phải làm việc chứ, giờ này sao lại nghỉ!".
Ít ngày sau, mỗi thành viên trong tổ công tác đều nhận được món quà quý giá từ Bác là tấm ảnh chụp kỷ niệm cùng Người tại Phủ Chủ tịch.
Những người thợ máy trẻ vinh dự được phục vụ Bác năm nào nay đều đã quá cái tuổi "xưa nay hiếm". Mỗi khi gặp lại nhau, họ vẫn thường ôn lại kỷ niệm về chuyến bay đi Vinh, Đồng Hới ngày ấy với tình cảm rất đặc biệt. Chính sự quan tâm và những lời dạy của Bác là nguồn động viên cổ vũ to lớn đối với tổ bay chuyên cơ và đối với ngành Kỹ thuật hàng không quân sự trong quá trình xây dựng và trưởng thành.
Và đồng chí Đặng Đình Ninh, mãi sau này mới "bật mí" thêm, là khi bay đến Đồng Hới, Bác bỗng nảy ra ý định muốn bay tiếp sâu hơn về phía vĩ tuyến 17 để nhìn thêm mảnh đất miền Nam yêu dấu. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn tuyệt đối chuyến bay theo đúng kế hoạch, Cục trưởng Đặng Tính đã xin phép Bác được quay về Hà Nội. Điều này một lần nữa khẳng định lời Người: "Miền Nam luôn trong trái tim tôi".
(Ghi theo hồi tưởng của đại tá Phạm Cơ, nguyên Trưởng bộ phận Lịch sử, Tổng kết kỹ thuật, hậu cần, Ban Tổng kết Quân chủng Phòng không Không quân - người ghi lại lời kể của Trưởng đoàn bay Đặng Đình Ninh)
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường hình thành, lan tỏa và tác động của dư luận xã hội.
Nếu như trước đây, dư luận xã hội chủ yếu được hình thành thông qua các kênh giao tiếp trực tiếp, báo chí truyền thống hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, thì ngày nay, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng sản sinh, tương tác, lan truyền và khuếch đại dư luận.
Trong bối cảnh đó, công tác dư luận xã hội đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đổi mới công tác dư luận xã hội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điểm nổi bật nhất của dư luận xã hội hiện nay là tốc độ hình thành và lan truyền thông tin diễn ra với quy mô rất lớn, cường độ rất nhanh. Chỉ một sự kiện, một phát ngôn, một đoạn video ngắn hoặc một thông tin chưa được kiểm chứng cũng có thể nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ và tạo thành làn sóng dư luận mạnh mẽ trong xã hội.
Không gian mạng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc truyền thông xã hội. Từ chỗ công chúng chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều, ngày nay mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất, bình luận, lan truyền và tác động đến thông tin. Điều này làm cho dư luận xã hội trở nên đa chiều hơn, dân chủ hơn, nhưng cũng phức tạp hơn, khó dự báo hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý là ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin phi chính thống ngày càng trở nên mong manh. Bên cạnh những giá trị tích cực mà môi trường số mang lại, tình trạng tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại, xuyên tạc, kích động vẫn diễn biến phức tạp.
Nhiều vụ việc xã hội cho thấy, nếu thông tin chính thống chậm được cung cấp hoặc thiếu sức thuyết phục thì rất dễ tạo khoảng trống thông tin, làm phát sinh tâm lý hoài nghi, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng số và bám sát đời sống nhân dân.
Những năm qua, công tác dư luận xã hội đã có nhiều đổi mới tích cực. Hệ thống tổ chức, mạng lưới cộng tác viên từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được củng cố; việc nắm bắt, tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng được quan tâm. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được phát hiện sớm, góp phần giúp cấp ủy, chính quyền kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xử lý.
Hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát dư luận từng bước được mở rộng. Một số cơ quan, địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, phân tích thông tin trên báo chí và mạng xã hội. Công tác dư luận xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là kênh tham mưu quan trọng trong công tác tư tưởng, dân vận, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, công tác dư luận xã hội vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Ở nhiều nơi, công tác này vẫn chủ yếu dừng ở việc phản ánh tình hình, chưa chú trọng đúng mức đến phân tích chuyên sâu, dự báo xu hướng và tham mưu chính sách. Không ít báo cáo còn nặng về mô tả hiện tượng, thiếu đánh giá bản chất, nguyên nhân và dự báo tác động.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác dư luận xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, trong khi dư luận trên không gian mạng biến động từng giờ, từng phút.
Cơ chế phối hợp giữa công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách, công tác dân vận, hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ. Nhiều thông tin phản ánh từ cơ sở chưa được xử lý, phản hồi kịp thời, làm giảm hiệu quả tạo đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chưa đồng đều; kỹ năng phân tích dữ liệu, khai thác thông tin số, nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần sớm được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công tác dư luận xã hội cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy, phương thức, công nghệ và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, dân vận, mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 giải pháp cốt lõi sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Cần chuyển từ tư duy "nắm bắt và phản ánh dư luận" sang tư duy "quản trị dư luận xã hội trong môi trường số". Sự chuyển đổi này không có nghĩa là hành chính hóa hay áp đặt đối với dư luận xã hội, mà là nâng cao năng lực lắng nghe, phân tích, dự báo, định hướng và tham mưu xử lý các vấn đề xã hội một cách chủ động, khoa học, thuyết phục.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ nhằm biết nhân dân đang quan tâm điều gì, mà quan trọng hơn là phải nhận diện được vì sao vấn đề đó được quan tâm, nhóm xã hội nào đang chịu tác động, mức độ lan tỏa đến đâu, xu hướng diễn biến ra sao, nguy cơ bị lợi dụng như thế nào và cần tham mưu giải pháp gì để xử lý từ sớm, từ xa.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện tượng, công tác dư luận xã hội sẽ luôn đi sau thực tiễn; nếu có năng lực phân tích và dự báo, công tác này sẽ trở thành công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Do đó, cần coi dư luận xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công. Mỗi chủ trương, chính sách lớn, nhất là những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đều cần được nhìn nhận từ góc độ dư luận xã hội: Nhân dân hiểu thế nào, đồng thuận đến đâu, băn khoăn điều gì, vướng mắc ở khâu nào, cần điều chỉnh ra sao. Đây chính là cơ sở để chính sách đi vào cuộc sống, hạn chế khoảng cách giữa chủ trương đúng với tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công tác dư luận xã hội vì vậy phải trở thành một bộ phận hữu cơ của phương thức lãnh đạo, quản lý hiện đại: lãnh đạo phải dựa vào dân, lắng nghe dân, hiểu dân, thuyết phục dân và tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, giám sát, hoàn thiện chính sách.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính đột phá, quyết định khả năng thích ứng của công tác dư luận xã hội trong bối cảnh mới. Khi dư luận xã hội hình thành và lan truyền chủ yếu trên môi trường số, nếu công tác nắm bắt dư luận vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, phân tán, chậm cập nhật thì sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thực tiễn.
Cần khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dữ liệu chuyên ngành về dư luận xã hội theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng cập nhật, phân tích và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các trung tâm hoặc bộ phận phân tích, dự báo dư luận xã hội trên nền tảng số, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân loại, đánh giá các dòng thông tin lớn trên báo chí, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ phân tích cảm xúc, phân tích xu hướng thông tin, nhận diện chủ đề nóng, phát hiện bất thường trong dòng chảy thông tin. Những công cụ này giúp phát hiện sớm các vấn đề nổi lên, cảnh báo nguy cơ phát sinh điểm nóng, nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng tham mưu giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông và xử lý chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội không chỉ là đầu tư phần mềm, thiết bị hay lập thêm hệ thống kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phương pháp phân tích và năng lực sử dụng dữ liệu. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được phân tích đúng, đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có tính khả thi.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ "đi sau phản ánh" sang "đi trước dự báo"; từ xử lý bị động sang chủ động nhận diện, phòng ngừa rủi ro xã hội; từ báo cáo tình hình sang kiến tạo giải pháp, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong môi trường số.
Ba là, gắn chặt công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách không phải lúc nào cũng xuất phát từ bản thân chính sách, mà có khi bắt nguồn từ việc thông tin chưa đầy đủ, truyền thông chưa đúng thời điểm, thiếu đối thoại, thiếu giải thích hoặc chậm phản hồi trước những băn khoăn chính đáng của người dân. Trong môi trường số, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, tin giả, thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc.
Vì vậy, công tác dư luận xã hội phải gắn chặt với truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trước khi ban hành những chính sách lớn, có tác động rộng đến đời sống nhân dân, cần coi trọng khảo sát, đánh giá tác động dư luận xã hội, nhận diện các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng, dự báo những vấn đề có thể phát sinh, từ đó có phương án truyền thông, giải thích và tạo đồng thuận phù hợp.
Trong quá trình thực hiện chính sách, cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ nhân dân, nhất là những ý kiến khác biệt, những băn khoăn, vướng mắc từ cơ sở. Thông tin phản ánh từ dư luận xã hội phải được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kịp thời; tránh tình trạng chỉ thu thập thông tin để báo cáo mà chưa gắn với trách nhiệm giải quyết.
Truyền thông chính sách trong thời đại số phải bảo đảm ba yêu cầu: nhanh, đúng và thuyết phục. Nhanh để không tạo khoảng trống thông tin; đúng để bảo đảm tính chính xác, chính thống; thuyết phục để người dân hiểu, chia sẻ và đồng thuận. Chính sách tốt không chỉ đúng về mục tiêu, đúng về pháp lý, mà còn phải được truyền thông đúng cách, được nhân dân hiểu đúng, đồng tình và tích cực tham gia thực hiện.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt, định hướng và tạo đồng thuận xã hội.
Trong công tác dư luận xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận có điều kiện và trách nhiệm trở thành một kênh quan trọng nắm bắt, phản ánh và tham mưu xử lý các vấn đề dư luận xã hội.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt dư luận theo hướng sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe thực chất tiếng nói của nhân dân. Cần kết hợp giữa nắm bắt qua hệ thống tổ chức, qua đội ngũ cán bộ cơ sở, qua tiếp xúc cử tri, giám sát, phản biện xã hội, với việc khai thác các kênh thông tin trên môi trường số. Qua đó, phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thông qua giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận cần góp phần phát hiện sớm những bất cập trong cơ chế, chính sách, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, không để những bức xúc nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, không để các vấn đề dân sinh trở thành điểm nóng xã hội.
Trong thời đại số, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần phát huy vai trò định hướng, lan tỏa thông tin tích cực, củng cố đồng thuận xã hội trên không gian mạng. Mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể, đoàn viên, hội viên cần trở thành một chủ thể tích cực trong tuyên truyền, giải thích chính sách, phản ánh tiếng nói từ cơ sở, đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thời đại số.
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Chất lượng công tác dư luận xã hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh mới, cán bộ làm công tác dư luận xã hội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phân tích sắc bén, năng lực dự báo tốt, am hiểu thực tiễn xã hội và có khả năng sử dụng công nghệ số.
Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực: năng lực chính trị, năng lực xã hội học và năng lực số. Năng lực chính trị để nhận diện đúng tính chất của vấn đề, phân biệt giữa bức xúc chính đáng của nhân dân với hành vi lợi dụng, kích động, chống phá. Năng lực xã hội học để khảo sát, phân tích, đánh giá tâm trạng xã hội một cách khoa học. Năng lực số để khai thác dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích truyền thông, theo dõi xu hướng thông tin và tham mưu trong môi trường số.
Cùng với đội ngũ chuyên trách, cần củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới này phải đa dạng, có chiều sâu, bao gồm cán bộ cơ sở, trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là lực lượng quan trọng giúp công tác dư luận xã hội bám sát đời sống, phản ánh được nhiều chiều cạnh của thực tiễn, nhất là những vấn đề đang hình thành từ cơ sở.
Tựu trung lại, 5 giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, đổi mới tư duy là tiền đề; chuyển đổi số là khâu đột phá; truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi là điều kiện bảo đảm hiệu quả; phát huy vai trò Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là nền tảng để bám sát Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố then chốt quyết định chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ là công cụ nắm bắt tâm trạng xã hội mà còn là phương thức quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Ở đâu cấp ủy, chính quyền biết lắng nghe nhân dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề nhân dân quan tâm, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Ngược lại, nếu xa dân, thiếu thông tin, chậm phản hồi hoặc né tránh những vấn đề bức xúc thì rất dễ tạo khoảng trống để thông tin xấu độc len lỏi, tác động tiêu cực đến xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa và lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tăng cường giao lưu nhân dân là cầu nối quan trọng cho quan hệ Việt - Trung

Chương trình do Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam phối hợp Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây tổ chức với sự tham dự của các đại biểu trung ương, địa phương và nhân dân biên giới, thanh niên hai nước.
Phát biểu tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ Liên hoan nhân dân biên giới Việt - Trung được tổ chức tại vùng đất lưu giữ nhiều ký ức lịch sử chung của hai dân tộc. Đó là Di tích cơ quan bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chiến sĩ cách mạng đã sống và làm việc trong vòng tay chở che, yêu thương, đùm bọc của nhân dân Long Châu; là Trường Dục Tài - nơi ươm mầm, đào tạo hàng nghìn thanh niên ưu tú của Việt Nam; là Bệnh viện Nam Khê Sơn - nơi các thương bệnh binh Việt Nam được chăm sóc, điều trị trong những năm tháng đầy khốc liệt của lửa đạn...
Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gửi lời biết ơn chân thành, sâu sắc tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, chính quyền và nhân dân Quảng Tây đã gìn giữ, bảo tồn những di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam và những giá trị hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, sức mạnh và sự bền vững của tình hữu nghị "vừa là đồng chí, vừa là anh em" Việt - Trung được đặt nền móng bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông và những nhà cách mạng tiền bối của hai nước, có cơ sở là quan hệ hữu nghị lâu đời giữa hai dân tộc; được xây dựng dựa trên những định hướng chiến lược của các thế hệ lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước; được triển khai toàn diện, thực chất trên nhiều lĩnh vực và đều in đậm dấu ấn của nhân dân - lực lượng quyết định nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ hai nước. Trong suốt chiều dài lịch sử, chính nhân dân là cầu nối bền bỉ, là "mạch nguồn" nuôi dưỡng và điều hòa, giúp quan hệ Việt Nam - Trung Quốc không ngừng vượt sóng vươn xa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc tăng cường giao lưu nhân dân, nhất là nhân dân biên giới và giữa thế hệ trẻ hai nước có ý nghĩa cầu nối rất quan trọng để thắt chặt tình cảm hữu nghị giữa hai dân tộc, xây dựng một tương lai ngày càng tươi sáng cho quan hệ Việt - Trung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cơ quan, tổ chức nhân dân, địa phương hai nước tiếp tục tổ chức hiệu quả các hoạt động giao lưu đi lại giữa các tầng lớp nhân dân; tăng cường giáo dục truyền thống hữu nghị, biến các "địa chỉ đỏ" ở hai nước thành không gian văn hóa - lịch sử sống động cho thế hệ trẻ, cùng nhau tạo nên những chương mới rạng rỡ cho quan hệ Việt - Trung; chuyển hóa sức mạnh của tình hữu nghị truyền thống thành những kết quả hợp tác cụ thể và hiệu quả, đưa hợp tác đi vào chiều sâu, thực chất.
Thăm di tích Khu học xá Trung ương (còn gọi là Trường Dục Tài Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc) sáng cùng ngày, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đứng tại đây, "chúng ta như sống lại" những năm tháng lịch sử hào hùng và nghĩa tình của giai đoạn những năm 1950, khi dân tộc Việt Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc với tinh thần quốc tế cộng sản trong sáng và tình hữu nghị sâu sắc đã giúp đỡ nuôi dưỡng, đào tạo hàng nghìn học sinh Việt Nam. Những câu chuyện xúc động giữa thầy và trò Trường Dục Tài đã trở thành những giai thoại bất hủ, làm phong phú thêm kho tàng tài sản chung quý báu của tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, khắc ghi sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam trước đây, cũng như công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày nay; chân thành cảm ơn Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây quan tâm, gìn giữ và bảo tồn chu đáo Khu di tích Trường Dục Tài và nhiều di tích khác về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, để những di tích này trở thành "địa chỉ đỏ" tượng trưng cho quan hệ đồng chí, anh em giữa hai Đảng, hai nước.
Cũng trong sáng 17.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thăm Trung tâm hợp tác đổi mới trí tuệ nhân tạo (AI) Trung Quốc - ASEAN.
Tin Gốc: Thanh Niên

