Tuy nhiên, giữa thời tiết oi bức, thực phẩm phơi ngoài trời liệu có thực sự an toàn? Việc chế biến, bảo quản thịt một nắng không đúng cách có thể tiềm ẩn những nguy cơ nào đối với sức khỏe?
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, bác sĩ Lê Văn Thiệu – Trung tâm Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương – cho hay thịt một nắng thực chất là thịt chưa được làm khô hoàn toàn.
Sau vài giờ phơi nắng, lớp ngoài có thể se lại nhưng bên trong vẫn còn độ ẩm cao. Trong điều kiện nhiệt độ môi trường 35 – 40 độ C kèm độ ẩm không khí lớn như hiện nay, đây lại là môi trường rất thuận lợi để vi khuẩn phát triển mạnh.
Các vi khuẩn gây bệnh như Salmonella, E.coli, Campylobacter hay tụ cầu vàng có thể tồn tại sẵn trong thịt sống từ khâu giết mổ và bảo quản ban đầu.
Trong quá trình phơi ngoài trời, thực phẩm còn tiếp tục bị nhiễm thêm vi khuẩn từ bụi không khí, côn trùng, ruồi nhặng, tay người chế biến hoặc dụng cụ không đảm bảo vệ sinh.
“Nhiều người lầm tưởng ánh nắng có thể “diệt khuẩn”, nhưng thực tế ánh nắng thông thường không đủ khả năng tiệt trùng thực phẩm như các quy trình xử lý nhiệt đạt chuẩn trong công nghiệp thực phẩm.
Đặc biệt nguy hiểm là tình trạng “ngoài khô – trong ẩm”. Khi đó vi khuẩn vẫn có thể sinh sôi mạnh bên trong khối thịt dù bề mặt nhìn có vẻ khô ráo. Một số vi khuẩn như tụ cầu vàng còn sinh độc tố trong quá trình phát triển.
Những độc tố này có khả năng chịu nhiệt tương đối tốt, nghĩa là ngay cả khi thịt được nướng hoặc chiên lại, nguy cơ nhiễm độc thực phẩm vẫn tồn tại.
Người ăn phải thực phẩm nhiễm khuẩn có thể xuất hiện đau bụng, tiêu chảy, nôn ói, sốt, mất nước, thậm chí nhiễm trùng nặng ở người già, trẻ nhỏ hoặc người có bệnh nền”, bác sĩ Thiệu cho hay.
Ngoài vi khuẩn, theo bác sĩ Thiệu thực phẩm phơi thủ công còn tiềm ẩn nguy cơ nấm mốc và độc tố nấm. Thời tiết miền Bắc hiện thường nóng gay gắt ban ngày nhưng độ ẩm tăng cao về chiều tối và ban đêm.
Nếu thịt không được bảo quản lạnh ngay sau khi phơi, thực phẩm dễ hút ẩm trở lại và tạo điều kiện cho nấm phát triển. Một số loại nấm có thể sinh độc tố ảnh hưởng lâu dài đến gan, hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch.
Bên cạnh đó, nguy cơ ký sinh trùng và giun sán cũng không thể xem nhẹ. Nếu nguồn thịt không được kiểm dịch đầy đủ, trong thịt có thể tồn tại nang sán, ấu trùng giun xoắn hoặc các loại ký sinh trùng khác.
Việc phơi nắng vài giờ hoàn toàn không đủ để tiêu diệt các tác nhân này. Nếu thịt sau đó được chế biến chưa chín kỹ, người sử dụng có nguy cơ nhiễm ký sinh trùng qua đường tiêu hóa, gây đau bụng, rối loạn tiêu hóa, đau cơ, sốt, dị ứng, thậm chí biến chứng tim mạch và thần kinh trong trường hợp nặng.
Ngoài ra, quá trình phơi ngoài trời tại sân thượng, ban công hoặc khu vực gần đường giao thông còn khiến thực phẩm dễ nhiễm bụi mịn, khí thải, kim loại nặng và vi sinh vật trong môi trường. Ruồi nhặng đậu vào thực phẩm cũng có thể mang theo vi khuẩn đường ruột và trứng giun sán.
“Vì vậy, người dân không nên chạy theo các trào lưu chế biến thực phẩm tự phát trên mạng xã hội, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nắng nóng cực đoan hiện nay.
Việc sử dụng thực phẩm vẫn cần tuân thủ nguyên tắc cơ bản của an toàn thực phẩm là ‘ăn chín, uống sôi’, đảm bảo thực phẩm được nấu chín kỹ, bảo quản đúng nhiệt độ và chế biến trong điều kiện vệ sinh an toàn.
Đây vẫn là biện pháp quan trọng nhất để phòng tránh ngộ độc thực phẩm, nhiễm khuẩn và các bệnh lý do ký sinh trùng gây ra”, bác sĩ Thiệu khuyến cáo.
ThS.BS Võ Thị Tố Hi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Gia An 115, cho biết bữa sáng thường được xem là "bữa ăn quan trọng nhất trong ngày", song hiện nay quan điểm này được nhìn nhận linh hoạt hơn. Việc có ăn sáng hay không không phải yếu tố duy nhất quyết định sức khỏe, mà cần đặt trong tổng thể chế độ ăn, lối sống và tình trạng chuyển hóa của từng người.
Theo bác sĩ Hi, người có chế độ ăn cân đối, kiểm soát tốt tổng năng lượng nạp vào vẫn có thể duy trì sức khỏe ổn định dù không ăn sáng. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn người bỏ bữa sáng lại không bù đắp dinh dưỡng hợp lý ở các bữa còn lại. Họ dễ ăn lệch nhịp sinh học, ăn nhiều vào buổi tối hoặc lựa chọn thực phẩm giàu năng lượng nhưng nghèo vi chất.
"Bỏ bữa sáng không phải là 'độc', nhưng rất dễ trở thành điểm khởi đầu của một chuỗi lựa chọn ăn uống kém lành mạnh trong ngày", bác sĩ nói.
Sau giấc ngủ qua đêm, cơ thể đã tiêu hao một phần glycogen dự trữ và bước vào trạng thái nhịn ăn sinh lý. Bữa sáng có vai trò cung cấp năng lượng để kích hoạt lại các hoạt động chuyển hóa, đặc biệt cho não bộ - cơ quan sử dụng glucose chính.
Khi thường xuyên bỏ bữa sáng, cơ thể không "tiết kiệm năng lượng" như nhiều người nghĩ. Ngược lại, nồng độ hormone gây đói ghrelin tăng cao hơn, trong khi tín hiệu tạo cảm giác no suy giảm. Điều này khiến nhiều người có xu hướng ăn nhiều hơn vào các bữa sau, nhất là cuối ngày.
Ngoài ra, việc dồn phần lớn năng lượng vào buổi tối - thời điểm cơ thể giảm nhạy cảm insulin - có thể làm tăng nguy cơ rối loạn đường huyết và tích lũy mỡ thừa. Một số nghiên cứu quan sát cũng ghi nhận thói quen bỏ bữa sáng liên quan nguy cơ thừa cân, hội chứng chuyển hóa và bệnh tim mạch, dù kết quả còn chịu tác động của nhiều yếu tố lối sống khác. Cơ thể không "quên" phần năng lượng bị bỏ qua, mà thường sẽ "đòi lại" vào thời điểm ít có lợi hơn cho chuyển hóa.
Những ai không nên nhịn ăn sáng?
Việc bỏ bữa sáng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nhiều người. Chẳng hạn, người mắc đái tháo đường hoặc tiền đái tháo đường cần duy trì đường huyết ổn định trong ngày, bỏ bữa sáng dễ làm tăng dao động glucose và ảnh hưởng kiểm soát bệnh.
Trẻ em, thanh thiếu niên đang trong giai đoạn phát triển cần nguồn năng lượng liên tục cho học tập và tăng trưởng thể chất. Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú cũng có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn bình thường, nên dễ thiếu vi chất nếu thường xuyên nhịn ăn.
Ngoài ra, người làm việc trí óc cường độ cao vào buổi sáng hoặc có bệnh lý dạ dày cũng không nên bỏ bữa. Nhịn ăn kéo dài có thể làm tăng tiết acid dịch vị, gây khó chịu hoặc khiến triệu chứng tiêu hóa nặng hơn.
Nhịn ăn sáng để giảm cân có hiệu quả?
Nhiều người hiện áp dụng nhịn ăn gián đoạn với mục tiêu giảm cân. Tuy nhiên, theo bác sĩ Hi, hiệu quả của phương pháp này chủ yếu đến từ việc giảm tổng năng lượng nạp vào trong ngày, chứ không phải do riêng hành động bỏ bữa sáng.
Nếu nhịn ăn sáng nhưng ăn nhiều hơn vào buổi trưa hoặc tối, đặc biệt là thực phẩm giàu năng lượng, lợi ích giảm cân gần như không còn. Ngược lại, với những người kiểm soát tốt khẩu phần ăn, nhịn ăn gián đoạn có thể giúp cải thiện cân nặng và một số chỉ số chuyển hóa.
Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với tất cả mọi người. Người có tiền sử rối loạn ăn uống, bệnh lý chuyển hóa hoặc khó kiểm soát cơn đói thường dễ gặp tác dụng ngược.
"Giảm cân không phụ thuộc vào việc có bỏ bữa sáng hay không, mà phụ thuộc vào tổng thể ăn bao nhiêu, ăn gì và phân bố bữa ăn ra sao trong ngày", bác sĩ Hi phân tích.
Bữa sáng tối thiểu nên ăn gì?
Trong thực tế, nhiều người bỏ bữa sáng đơn giản vì không có thời gian. Tuy nhiên, theo chuyên gia, một bữa sáng đầy đủ dinh dưỡng không nhất thiết phải cầu kỳ.
Về nguyên tắc, bữa sáng nên kết hợp ba nhóm chính gồm tinh bột hấp thu chậm để cung cấp năng lượng ổn định, nguồn đạm giúp duy trì cảm giác no và hỗ trợ khối cơ, cùng chất xơ từ rau hoặc trái cây để hỗ trợ tiêu hóa và điều hòa đường huyết.
Một số lựa chọn đơn giản như trứng luộc kèm bánh mì nguyên cám và trái cây, hoặc sữa chua ăn cùng yến mạch và các loại hạt, đã có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản của cơ thể vào buổi sáng. Điều quan trọng không nằm ở việc bữa sáng phải hoàn hảo, mà là cơ thể cần được cung cấp nguồn năng lượng đủ và cân đối để bắt đầu ngày mới hiệu quả.
Tế bào gốc mở ra nhiều hy vọng trong điều trị bệnh
Trên thế giới, công nghệ tế bào và y học tái tạo đang định nghĩa lại khả năng phục hồi chức năng của cơ thể con người thông qua việc sử dụng các tế bào gốc có khả năng tự làm mới và biệt hóa thành các loại tế bào chuyên biệt.
Nhiều thành tựu đã được ghi nhận, từ các nghiên cứu về tế bào gốc tạo máu trong điều trị ung thư đến những tiến bộ trong nuôi cấy tế bào gốc trung mô từ màng dây rốn để điều trị các bệnh lý tự miễn và thoái hóa.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng và hiệu quả lâm sàng thực tế vẫn là một khoảng cách lớn đòi hỏi sự khắt khe về khoa học. Một liệu pháp chỉ được coi là thành công khi vượt qua được các thử nghiệm nghiêm ngặt về tính an toàn, hiệu quả, và quan trọng nhất là tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức nghiên cứu và quản lý khoa học.
Tại Việt Nam, nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc đã bắt đầu khẳng định vai trò trong các bệnh viện chuyên khoa.
Thông tin được các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo khoa học với chủ đề “Tế bào gốc: Từ nghiên cứu lâm sàng đến ứng dụng thực tiễn” diễn ra ngày 18/7 tại Hà Nội, do Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào phối hợp Báo Sức khỏe và Đời sống tổ chức.
TS.BS Hàn Viết Trung, Trung tâm Huyết học - Truyền máu, Bệnh viện 19-8, cho biết, ghép tế bào gốc tạo máu được đánh giá là một trong những bước tiến quan trọng của y học hiện đại trong điều trị các bệnh lý huyết học, đặc biệt là các bệnh máu ác tính.
Phương pháp này giúp phục hồi chức năng tạo máu cho người bệnh bằng cách truyền các tế bào gốc khỏe mạnh sau khi tủy xương bị phá hủy hoặc suy giảm chức năng do bệnh hay điều trị hóa chất.
Trung tâm thường xuyên điều trị nội trú khoảng 30-50 bệnh nhân mắc các bệnh lý huyết học, trong khi số ca bệnh máu ác tính có xu hướng gia tăng. Việc bổ sung ghép tế bào gốc vào phác đồ điều trị giúp cải thiện đáng kể thời gian sống thêm cũng như thời gian sống toàn bộ so với hóa trị đơn thuần.
Dù vậy, các chuyên gia cũng nhấn mạnh không có liệu pháp nào chữa được mọi bệnh, tế bào gốc cũng vậy. Những tuyên bố vượt quá bằng chứng khoa học có thể gây hiểu nhầm và rủi ro cho người bệnh.
Vì thế, cần có cách nhìn đúng về tế bào gốc, tránh thần thánh hóa như một "phép màu" vạn năng có thể chữa mọi bệnh. Theo đó, tế bào gốc là một công cụ y học hiện đại, chỉ phát huy hiệu quả khi được chỉ định đúng đối tượng và dựa trên các bằng chứng khoa học.
TS.BSCKII Nguyễn Tiến Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào, thừa nhận nhiều người kỳ vọng quá nhiều, coi tế bào gốc như liệu pháp chữa bách bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế việc điều trị cần dựa trên thăm khám, chẩn đoán và chỉ định phù hợp để mang lại hiệu quả cao nhất về sức khỏe và kinh tế.
Bên cạnh đó, để lĩnh vực này phát triển bền vững, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý các ngân hàng tế bào và cơ sở ứng dụng lâm sàng; đồng thời chuẩn hóa quy trình nuôi cấy, lưu trữ và kiểm soát chất lượng tế bào trong các điều kiện khác nhau.
Ngày 22/6, BS.CK2 Dương Duy Trang, Phó giám đốc y khoa, Trưởng khoa Nội Tim mạch - Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Gia An 115, cho biết bệnh nhân đau mỏi dữ dội, tê hai chân và hạn chế vận động. Chụp CT mạch máu phát hiện huyết khối gây tắc hoàn toàn đoạn cuối động mạch chủ bụng dưới thận, lan xuống hai động mạch chậu chung. Đây là những mạch máu chính đưa máu từ tim xuống nuôi hai chân.
Theo bác sĩ Trang, bệnh nhân mắc hội chứng Leriche (tắc động mạch chủ - chậu) trên nền bệnh mạch máu mạn tính, khiến lượng máu xuống hai chi dưới giảm nghiêm trọng. Tình trạng này có thể gây thiếu máu chi nặng, tổn thương mô không hồi phục, thậm chí mất chức năng chi.
Người bệnh đã xuất hiện dấu hiệu cảnh báo từ nhiều tháng trước nhưng không nghĩ đến bệnh lý mạch máu. Đây là biểu hiện điển hình của bệnh động mạch ngoại biên, song nhiều người dễ nhầm với thoái hóa khớp, đau thần kinh tọa hoặc suy giảm sức khỏe do tuổi tác, trì hoãn điều trị.
Bên cạnh các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tăng huyết áp và rối loạn mỡ máu, bệnh nhân còn mắc rung nhĩ mạn tính - một dạng rối loạn nhịp tim làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông trong buồng tim. Rung nhĩ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây thuyên tắc mạch.
"Rung nhĩ có thể gây đột quỵ não, nhưng trên thực tế cục máu đông còn có thể di chuyển đến nhiều vị trí khác trong cơ thể gây tắc mạch cấp ở chi, thận hoặc các động mạch lớn", bác sĩ giải thích.
Kíp tim mạch can thiệp tái thông đoạn mạch bị tắc bằng bóng nong, đặt hai stent tự bung tại hệ động mạch chủ - chậu để khôi phục dòng máu xuống hai chân bệnh nhân, tình trạng tưới máu cải thiện rõ rệt. Sau can thiệp, bệnh nhân phục hồi ổn định và xuất viện sau ba ngày.
Bác sĩ khuyến cáo người trên 50 tuổi, đặc biệt mắc bệnh nền đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá hoặc rung nhĩ, cần cảnh giác khi xuất hiện các dấu hiệu như đau chân khi đi bộ, đi được một đoạn phải dừng nghỉ, tê lạnh bàn chân, chuột rút thường xuyên hoặc vết thương ở chân chậm lành. Đau chân kéo dài có thể liên quan xương khớp, hoặc dấu hiệu bệnh lý mạch máu. Vì vậy người bệnh nên đi khám sớm khi xuất hiện triệu chứng bất thường để tránh biến chứng nặng.