Tin Gốc: Thanh Niên

Phóng viên Thanh Niên có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đình Vĩnh, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Đà Nẵng, để hiểu hơn về vấn đề này.
* Thưa ông, sau gần 30 năm chia tách hành chính, đâu là những giá trị văn hóa cốt lõi vẫn kết nối Đà Nẵng và Quảng Nam trong cùng một "căn tính xứ Quảng"?
- Ông Nguyễn Đình Vĩnh: Nếu nhìn từ góc độ văn hóa, Đà Nẵng và Quảng Nam chưa bao giờ là hai thực thể tách rời. Việc phân chia địa giới là yêu cầu quản trị ở từng giai đoạn, nhưng về lịch sử, ký ức cộng đồng và tâm thức cư dân, đây vẫn là một không gian Quảng Đà thống nhất.
Điều gắn kết hai vùng đất trước hết là tinh thần yêu nước, nghĩa tình, thủy chung và sự gắn bó sâu sắc với quê hương. Bên cạnh đó là đức tính cần cù, hiếu học, thẳng thắn, trọng nghĩa và trọng thực chất. Người xứ Quảng còn nổi bật bởi bản lĩnh khai mở, dám nghĩ, dám làm, luôn thích ứng trước những biến động của thời cuộc.
Một đặc trưng quan trọng khác là khả năng dung hợp văn hóa. Qua nhiều thế kỷ, vùng đất này đã tiếp nhận và hòa quyện các yếu tố văn hóa Việt, Chăm Pa, Hoa, Nhật cùng những sắc thái văn hóa biển, miền núi và đô thị để tạo nên bản sắc riêng, vừa bền vững vừa cởi mở.
Ngày nay, Đà Nẵng mang diện mạo của một đô thị hiện đại, năng động, còn Quảng Nam lưu giữ chiều sâu di sản và truyền thống. Tuy nhiên, phía dưới những khác biệt ấy vẫn là chung một mạch nguồn văn hóa xứ Quảng. Đây chính là nguồn lực nội sinh cần được nhận diện, phát huy và tổ chức hiệu quả trong không gian phát triển mới.
* Làm thế nào để những khác biệt giữa Đà Nẵng và Quảng Nam trở thành lợi thế bổ trợ thay vì tạo khoảng cách trong liên kết phát triển?
- Tôi cho rằng cần nhìn sự khác biệt giữa Đà Nẵng và Quảng Nam không phải như một khoảng cách, mà như một lợi thế bổ sung cho nhau. Đà Nẵng có thế mạnh về hạ tầng đô thị, dịch vụ, logistics, du lịch biển, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, Quảng Nam sở hữu hệ thống di sản phong phú, các làng nghề truyền thống, chiều sâu lịch sử và hệ sinh thái văn hóa đa dạng. Khi được kết nối bằng một tầm nhìn chung, những lợi thế này sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng.
Nói cách khác, đô thị hiện đại cần di sản để có chiều sâu và bản sắc; còn di sản cần công nghệ và đổi mới để có sức sống mới. Nếu phát triển theo hướng cộng hưởng thay vì đồng nhất hóa, Đà Nẵng và Quảng Nam sẽ tạo nên một không gian phát triển hài hòa, giàu bản sắc và bền vững.
* Ông nhìn nhận vai trò của văn hóa như thế nào trong chiến lược phát triển liên kết Đà Nẵng - Quảng Nam thời gian tới?
- Hạ tầng có thể rút ngắn khoảng cách địa lý, cơ chế có thể tạo điều kiện cho nguồn lực vận động, nhưng văn hóa mới là yếu tố tạo nên sự đồng thuận lâu dài giữa con người với con người. Văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh và cũng là hệ điều tiết của phát triển. Vì vậy, trong chiến lược liên kết vùng, văn hóa cần được đặt ở vị trí trung tâm. Mọi chính sách phát triển phải hướng đến việc làm giàu đời sống tinh thần, tôn trọng ký ức cộng đồng, nâng cao phẩm giá con người và bảo đảm cơ hội thụ hưởng văn hóa cho mọi tầng lớp dân cư.
Định hướng phát triển của Đà Nẵng hiện nay không chỉ dừng ở mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn hướng tới xây dựng thành phố trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo của khu vực, từng bước hình thành "Thành phố di sản - sáng tạo - giàu bản sắc".
Từ góc độ quản trị, tôi cho rằng phát triển chỉ bền vững khi được kết nối bằng niềm tin, hệ giá trị chung và sự đồng thuận xã hội. Đà Nẵng và Quảng Nam có thể liên kết bằng các tuyến giao thông, cảng biển, sân bay hay các khu công nghiệp; nhưng sâu xa hơn, sự gắn kết phải được nuôi dưỡng từ ký ức xứ Quảng, tinh thần Quảng Đà và trách nhiệm gìn giữ các giá trị chung cho các thế hệ mai sau.
* Đà Nẵng cần làm gì để giữ được "hồn cốt xứ Quảng" trong bối cảnh đô thị hóa, toàn cầu hóa và kinh tế số?
- Giữ gìn "hồn cốt xứ Quảng" không có nghĩa là bảo tồn nguyên trạng mọi giá trị cũ, mà là bảo vệ và phát huy những giá trị cốt lõi như nhân nghĩa, hiếu học, nghĩa tình, trọng danh dự, tinh thần đổi mới và trách nhiệm với cộng đồng. Để làm được điều đó, trước hết cần đưa văn hóa vào quy hoạch và quản trị đô thị. Một thành phố hiện đại không chỉ có hạ tầng tốt mà còn phải có bản sắc, có ký ức và những không gian công cộng để cộng đồng gặp gỡ, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa.
Thứ hai, cần đổi mới công tác giáo dục văn hóa địa phương cho thế hệ trẻ bằng những phương thức phù hợp với môi trường số. Điều quan trọng không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn bồi đắp tình yêu quê hương, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm đối với di sản.
Thứ ba, tập trung xây dựng con người Đà Nẵng nhân văn, sáng tạo, văn minh và nghĩa tình. Một đô thị đáng sống không chỉ được đánh giá qua các chỉ số kinh tế hay công nghệ mà còn qua cách con người ứng xử với nhau, với thiên nhiên, với di sản và với cộng đồng. Cuối cùng, cần phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo dựa trên bản sắc địa phương.
Tôi cho rằng, toàn cầu hóa và kinh tế số vừa đặt ra thách thức vừa mở ra cơ hội lớn. Nếu biết số hóa di sản, kể những câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ hiện đại và đưa giá trị địa phương tham gia vào chuỗi giá trị sáng tạo toàn cầu, thì bản sắc xứ Quảng sẽ được lan tỏa mạnh mẽ hơn.
* Ông kỳ vọng điều gì sẽ trở thành "dòng chảy văn hóa" của không gian phát triển Đà Nẵng - Quảng Nam trong tương lai?
- Tôi kỳ vọng đó sẽ là dòng chảy của di sản, sáng tạo và phát triển bền vững. Dòng chảy ấy bắt nguồn từ chiều sâu lịch sử xứ Quảng, từ truyền thống yêu nước, tinh thần nghĩa tình, hiếu học và bản lĩnh của con người nơi đây; đồng thời được nuôi dưỡng bởi hệ thống di sản đặc sắc cùng các giá trị văn hóa biển, văn hóa miền núi và văn hóa cộng đồng các dân tộc. Đó phải là dòng chảy đủ rộng để dung hòa giữa đô thị và nông thôn, giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc địa phương và hội nhập quốc tế; nhưng cũng đủ sâu để giữ gìn những giá trị cốt lõi của con người xứ Quảng.
Trong tương lai, tôi mong muốn Đà Nẵng không chỉ là trung tâm kinh tế, du lịch, dịch vụ và công nghệ của miền Trung mà còn là trung tâm văn hóa và sáng tạo của khu vực. Một nơi mà di sản trở thành nguồn cảm hứng cho đổi mới, cộng đồng được tôn trọng bản sắc, người dân được thụ hưởng đời sống văn hóa phong phú và văn hóa thực sự trở thành sức mạnh mềm của phát triển.
Đà Nẵng cần phát triển nhanh nhưng không đánh mất chiều sâu văn hóa; hội nhập mạnh mẽ nhưng không xa rời căn tính xứ Quảng; hiện đại hóa nhưng vẫn đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó cũng là con đường để xây dựng một thành phố hiện đại, giàu bản sắc, sáng tạo và đáng sống trong tương lai.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hôm nay là ngày cuối cùng của kỳ nghỉ Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 kéo dài 3 ngày. Dương lịch hôm nay là ngày thứ hai đầu tuần, đánh dấu năm 2026 trải qua ngày thứ 116. Theo lịch âm hôm nay 27.4 là ngày 11 tháng 3, theo cách gọi can chi là ngày Tân Mùi, tháng Nhâm Thìn, năm Bính Ngọ.
Thông tin từ lịch vạn niên, hôm nay là ngày Bạch Hổ Kiếp. Dân gian quan niệm đây là ngày đẹp để khởi sự, xuất hành khi "cầu tài được như ý muốn, đi hướng nam và bắc rất thuận lợi".
Dưới góc độ tiết khí, hôm nay là ngày thứ 8 người Việt đón tiết Cốc vũ 2026, tiết khí thứ 6 trong 24 tiết khí trong năm. Cả kỳ nghỉ Giỗ tổ Hùng Vương kéo dài 3 ngày, từ thứ bảy 25.4 đến hết thứ hai 27.4 hôm nay đều nằm trong tiết khí này.
Tại Việt Nam, hôm nay được nhiều người quan tâm vì là ngày cuối của kỳ nghỉ Giỗ tổ Hùng Vương. Ngày 27.4 hằng năm cũng là ngày Kiến trúc Việt Nam theo Quyết định số 2008/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 4.11.2010.
Đây là một ngày đặc biệt đối với ngành kiến trúc, tôn vinh những đóng góp quan trọng của đội ngũ kiến trúc sư đối với sự phát triển của đất nước. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các kiến trúc sư gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau lan tỏa niềm đam mê về kiến trúc.
Ngày Kiến trúc Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt, giúp nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của ngành kiến trúc trong đời sống con người. Ngày 27.4.1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên các kiến trúc sư nhân Đại hội lần thứ I thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam - tiền thân của Hội Kiến trúc sư Việt Nam.
Trên thế giới, 27.4 được chú ý vì là ngày Thiết kế đồ họa thế giới (World Design Day). Theo chuyên trang nationaltoday.com, ngày này được tổ chức hằng năm vào ngày 27.4. Ý tưởng về ngày Thiết kế đồ họa thế giới xuất phát từ Kim Paulsen, Phó chủ tịch Hội đồng quốc tế các Hiệp hội Thiết kế đồ họa (ico-D).
Ngày này lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 27.4.1995, nhưng khi đó nó được đặt tên là ngày Đồ họa thế giới. Sáng kiến này ghi nhận cách thiết kế làm cho cuộc sống thường nhật trở nên đẹp đẽ và ý nghĩa hơn.
Ngày này tôn vinh tất cả các khía cạnh của thiết kế, thẩm mỹ, hình thức và chức năng. Nó cũng thúc đẩy một số lĩnh vực thiết kế như truyền thông thị giác, thiết kế đồ họa, nâng cao nhận thức, quảng bá, quản lý và đào tạo trên toàn thế giới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Đời Sống
Lần đầu có căn cước công dân, người đàn ông bật khóc: 'Tôi sẽ cưới vợ'

Bà Thạch Thị Út là người dân tộc Khmer, quê gốc ở Trà Vinh. Bà chỉ nhớ mình năm nay khoảng 56 tuổi. Từ nhỏ, bà đã theo cha mẹ rời quê lên vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nay thuộc TP.HCM, để mưu sinh. Cả gia đình sống cuộc đời làm thuê, ở trọ khắp nơi, nay đây mai đó, không nơi ổn định.
"Ba mẹ tôi làm được gì thì làm nấy để nuôi con. Chúng tôi cứ đi hết nơi này đến nơi khác. Sau này mới về xã Châu Pha sinh sống đến giờ", bà Út kể.
Cuộc sống nghèo khó, di chuyển liên tục khiến giấy tờ tùy thân của gia đình bà dần thất lạc. Khi cha mẹ mất đi, những đứa con cũng không còn biết bắt đầu từ đâu để tìm lại danh tính pháp lý của mình bởi... không giấy khai sinh, không chứng minh nhân dân, không hộ khẩu.
Dù không có bất kỳ giấy tờ nào, bà Út vẫn lập gia đình, sinh con, rồi có cháu ngoại. Con gái bà nay gần 30 tuổi nhưng cũng chưa từng có giấy khai sinh. Cháu ngoại lớn lên trong cảnh tương tự.
Suốt nhiều năm, gia đình bà sống bằng lao động phổ thông, làm thuê đủ nghề để tồn tại. Họ ít khi dám đi xa, không dám tiếp xúc nhiều với cơ quan hành chính vì mặc cảm không có giấy tờ tùy thân. Những điều tưởng như bình thường với nhiều người như đi làm ở công ty, mua bán tài sản, khám chữa bệnh hay đăng ký kết hôn… với họ lại là điều vô cùng xa vời.
Ngày Công an xã Châu Pha thông báo bà được đến làm căn cước công dân theo chương trình cấp căn cước cho nhân khẩu đặc biệt, bà Út gần như không tin vào tai mình. "Tôi vui quá, cả đêm không ngủ được", bà xúc động nói.
Niềm vui ấy không chỉ dành cho riêng bà, mà còn cho cả gia đình khi nhiều người thân của bà cũng được hỗ trợ làm giấy khai sinh và căn cước công dân. Sau hàng chục năm sống trong cảnh không giấy tờ, cuối cùng họ cũng có cơ hội được công nhận là một công dân đúng nghĩa.
Ngồi cạnh bà Út là bà Thạch Thị Liên, chị ruột của bà, năm nay đã 74 tuổi. Ở tuổi gần đất xa trời, bà Liên cũng lần đầu tiên được gọi đi làm căn cước công dân.
Bà kể khi còn nhỏ từng có chứng minh nhân dân, nhưng cuộc sống lang bạt cùng gia đình khiến giấy tờ thất lạc hết. Sau khi cha mẹ qua đời, chị em bà sống nương tựa lẫn nhau, đi đâu cũng có nhau nhưng chẳng ai có nổi một giấy tờ tùy thân.
"Không có giấy tờ, cuộc sống khó khăn lắm, kể không hết được. Bao nhiêu quyền lợi của một công dân bình thường mình đều không có", bà Liên chia sẻ.
Lời nói của người phụ nữ già nua khiến nhiều người lặng đi. Bởi đằng sau câu chuyện ấy là cả một quãng đời dài sống trong thiệt thòi, mặc cảm và bị từ chối nhiều cơ hội chỉ vì không thể chứng minh mình là ai.
Không có giấy tờ tùy thân đồng nghĩa với việc không thể tiếp cận nhiều quyền lợi cơ bản của xã hội. Người không căn cước khó xin việc ổn định, khó vay vốn, khó khám chữa bệnh theo bảo hiểm, không thể đăng ký kết hôn hay làm giấy khai sinh cho con.
Vui hơn trúng số độc đắc
Những thiệt thòi ấy hiện rõ nhất trong câu chuyện của anh Thạch Văn Hậu, cháu của bà Liên và bà Út. Năm nay 44 tuổi, có vợ và con trai đã 20 tuổi, nhưng anh vẫn chưa từng có căn cước công dân.
Anh Hậu kể mình từng nhiều lần xin vào công ty làm việc nhưng đều không thể gắn bó lâu dài vì không có giấy tờ tùy thân. "Tôi nói giấy tờ đang làm, nhưng nói dối hoài đâu có được. Cuối cùng cũng phải nghỉ việc", anh buồn bã nói.
Không chỉ khó khăn trong công việc, cuộc sống thường ngày của anh cũng đầy những tình huống éo le. Bạn bè trêu chọc vì không có căn cước công dân, thậm chí nghi ngờ anh là người "trốn trại". Mỗi lần đi xe máy của vợ bị cảnh sát giao thông kiểm tra, anh cũng không thể chứng minh mối quan hệ hôn nhân vì hai người chưa đăng ký kết hôn.
"Tôi và vợ sống với nhau hơn 20 năm mà vẫn chưa có tờ giấy đăng ký kết hôn", anh nghẹn ngào.
Ngồi cầm tờ giấy khai sinh vừa được cấp trên tay, anh Hậu xúc động nhớ lại ngày mới cưới vợ. Khi cha vợ nói sẽ cho hai vợ chồng đất, ông yêu cầu anh đưa chứng minh nhân dân để làm thủ tục. Nhưng anh không có. "Cha vợ tỏ ra khó chịu, bảo gia đình tôi sao kỳ vậy. Nghe buồn lắm", anh kể.
Trong ánh mắt người đàn ông ngoài 40 tuổi là sự mặc cảm kéo dài suốt nhiều năm vì thân phận không giấy tờ của mình. Anh nói điều khiến anh đau nhất không phải là nghèo khó, mà là cảm giác không được công nhận. "Một con người mà đến giấy tờ tùy thân cũng không có thì ai chấp nhận mình được", anh chia sẻ.
Chính vì thế, ngày được thông báo lên làm căn cước công dân, anh Hậu vui mừng đến bật khóc. Vợ anh, chị Nguyễn Thị Hồng, cũng không giấu được xúc động.
"Khi công an xã vào khu trọ báo tin chồng tôi được làm căn cước, tôi muốn khóc luôn. Tôi gọi điện cho chồng, hai vợ chồng cùng khóc", chị Hồng kể.
Có lẽ với nhiều người, khó hiểu vì sao một tấm thẻ căn cước lại khiến cả gia đình xúc động đến vậy. Nhưng với những người đã sống gần nửa đời người không giấy tờ, đó là niềm hạnh phúc quá lớn. Nó không chỉ là một tấm thẻ nhựa, mà là sự công nhận danh tính, là cánh cửa mở ra những quyền lợi mà họ chưa từng được hưởng.
Ánh mắt anh Hậu đỏ hoe khi nói về dự định sau khi có căn cước công dân. "Tôi vui còn hơn trúng số độc đắc. Có căn cước rồi, tôi với vợ sẽ đi đăng ký kết hôn. Tôi nợ vợ tờ giấy đăng ký kết hôn hơn 20 năm rồi".
Câu nói giản dị nhưng khiến nhiều người xúc động. Bởi phía sau nó là sự chờ đợi kéo dài hơn hai thập kỷ của một người phụ nữ và là nỗi day dứt âm thầm của một người đàn ông luôn cảm thấy mình chưa thể cho vợ một danh phận đúng nghĩa.
Chương trình hỗ trợ cấp căn cước công dân cho nhân khẩu đặc biệt không chỉ giúp người dân có giấy tờ tùy thân, mà còn trả lại cho họ quyền được sống bình thường như bao công dân khác. Khi có căn cước, họ có thể đăng ký kết hôn, làm giấy khai sinh cho con cháu, xin việc ổn định, tham gia bảo hiểm y tế, thực hiện các giao dịch dân sự và tiếp cận nhiều chính sách an sinh xã hội.
Những giọt nước mắt của bà Út, bà Liên hay anh Hậu trong ngày đi làm căn cước công dân không chỉ là niềm vui cá nhân. Đó còn là niềm hạnh phúc của những con người lần đầu tiên được gọi tên trong hệ thống quản lý dân cư, lần đầu tiên cảm nhận đầy đủ giá trị của hai chữ "công dân".
Sau hàng chục năm sống không giấy tờ, cuối cùng họ cũng có thể ngẩng cao đầu nói rằng mình có tên tuổi, có thân phận.
Tin Gốc: Thanh Niên

