ThS.BS.CKII Dương Quang Huy, Trưởng đơn vị Nam học, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh – Quận 8, cho biết vùng quy đầu của anh Quân mọc chi chít các nốt sùi kết thành chùm khiến người bệnh nhầm lẫn với chuỗi hạt ngọc dương vật hay mụn thịt dư – một tình trạng lành tính, các nốt mụn nhỏ nổi thành hàng. Bác sĩ chẩn đoán anh bị sùi mào gà do nhiễm HPV (virus u nhú ở người).
Bác sĩ Huy sử dụng dòng điện cao tần từ dao điện đơn cực đốt trực tiếp vào những nốt sùi trên da để phá hủy mô sùi, ngăn HPV phát triển tại vị trí tổn thương. Sau hơn 10 phút, các nốt sùi được loại bỏ, anh Quân xuất viện trong ngày. Người bệnh được hướng dẫn cách chăm sóc vết thương tại nhà, tránh tiếp xúc và quan hệ tình dục để hạn chế nhiễm trùng.
Ở tuổi anh Quân, sức đề kháng bắt đầu giảm, HPV có điều kiện phát triển nhanh hơn nên cần điều trị kết hợp giữa can thiệp ngoại khoa và nội khoa. Bác sĩ Huy kê thêm thuốc kháng sinh chống nhiễm trùng tại chỗ và các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch, giúp cơ thể tự ức chế virus từ bên trong, hẹn tái khám định kỳ. Để hệ miễn dịch khỏe mạnh tự nhiên, anh cũng cần bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, nghỉ ngơi điều độ, tránh stress.
Bác sĩ khuyến cáo người bệnh xét nghiệm thêm các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV, lậu, giang mai, viêm gan B, C…, tránh bỏ sót nguy cơ tiềm ẩn.
Sùi mào gà là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu do quan hệ tình dục không an toàn, tiếp xúc trực tiếp da kề da ở vùng sinh dục hay sử dụng chung đồ dùng cá nhân như khăn tắm hoặc đồ lót có chứa dịch tiết của người bệnh và có vết thương hở.
Thời gian ủ bệnh của sùi mào gà có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, thậm chí nhiều năm. Biểu hiện của bệnh là các nốt sùi nhỏ, mềm, màu hồng hoặc xám, nhô cao giống như nhú gai. Ban đầu các nốt mọc riêng lẻ, sau đó liên kết thành từng mảng lớn có hình dạng giống mào gà hoặc hoa súp lơ. Đa số trường hợp không gây đau, nhưng người bệnh có thể cảm thấy ngứa, khó chịu hoặc chảy máu nhẹ sau khi quan hệ.
Nếu không được điều trị kịp thời, sùi mào gà gây tổn thương da kết hợp HPV nguy cơ cao (chủng 16 và 18) có thể dẫn đến ung thư dương vật, ung thư hậu môn và ung thư vòm họng.
Hiện chưa có phương pháp loại bỏ hoàn toàn HPV khỏi cơ thể. Tùy tình trạng, bác sĩ chỉ định bôi thuốc, can thiệp bằng áp lạnh bằng nitơ lỏng, đốt điện, laser CO2 hoặc phẫu thuật nhằm loại bỏ các nốt sùi và giảm triệu chứng.
Bác sĩ Huy khuyến nghị tiêm vaccine HPV là biện pháp hiệu quả để phòng bệnh. Quan hệ tình dục an toàn và khám sức khỏe định kỳ. Khi có dấu hiệu bệnh, cần đến khám tại bệnh viện để được điều trị đúng cách, không tự mua thuốc điều trị vì có thể gây loét và nhiễm trùng nặng hơn.
Một nghiên cứu dài hạn quy mô lớn vừa được công bố trên tạp chí khoa học European Journal of Epidemiology đã mang đến tin vui khi cho thấy một số loại rau quen thuộc có thể góp phần bảo vệ sức khỏe tim mạch.
Các nhà khoa học tại Đại học Edith Cowan và Đại học Tây Úc (Úc), phối hợp với các chuyên gia tại Bệnh viện Đại học Herlev và Gentofte, Đại học Nam Đan Mạch, Viện Y tế Công cộng Quốc gia Đan Mạch, cùng với Quỹ Tim mạch Đan Mạch theo dõi 53.150 người tham gia nhằm tìm hiểu liệu nguồn nitrat trong rau có giúp hạ huyết áp cao và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch hay không.
Trong thời gian theo dõi 23 năm, có 14.088 biến cố tim mạch.
Kết quả cho thấy tiêu thụ nitrat từ rau củ ở mức vừa phải giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch quan trọng.
Cụ thể, người trưởng thành tiêu thụ khoảng 60 mg nitrat từ rau củ mỗi ngày - tương đương với 1 chén rau chân vịt, mang lại những tác dụng đáng chú ý sau đây:
Lượng nitrat này cũng tương đương khoảng nửa chén củ dền nấu chín hoặc 2 chén rau diếp, mở ra một hướng tiếp cận đơn giản nhưng đầy hứa hẹn trong phòng ngừa bệnh tim mạch.
Các tác giả cho biết đây là một trong những bằng chứng quan sát dài hạn mạnh mẽ nhất chỉ ra lượng rau cụ thể giúp giảm các biến cố tim mạch.
Điều đáng chú ý là lợi ích này đến từ rau củ, không phải từ các chất bổ sung nitrat hay thịt chế biến sẵn.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng khi ăn các loại rau giàu nitrat, vi khuẩn trong miệng sẽ chuyển nitrat thành nitrit. Sau đó cơ thể tiếp tục chuyển nitrit thành nitric oxide. Phân tử này giúp làm giãn và mở rộng mạch máu, hạ huyết áp, giảm khả năng hình thành cục máu đông, ngăn sự tích tụ mảng bám trên thành động mạch và cải thiện việc vận chuyển oxy đến cơ tim cũng như các mô khác.
Nhóm nghiên cứu kết luận rằng lợi ích lớn nhất đạt được ở mức tiêu thụ vừa phải, nghĩa là không cần ăn quá nhiều rau. Chỉ khoảng 60 mg nitrat mỗi ngày, tương đương 1 chén rau chân vịt, là tối ưu để bảo vệ tim mạch tối đa.
Các loại rau giàu nitrat khác gồm củ dền, xà lách cần tây, củ cải và cải cầu vồng. Đồng thời, Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến nghị tiêu thụ ít nhất 4 - 5 phần trái cây và rau củ mỗi ngày để bảo vệ tim mạch.
Chuyên gia dinh dưỡng người Mỹ, cô Johannah Katz, cho biết: Xào nhanh hoặc chần là cách tốt nhất để nấu rau bina.
Xào nhanh trong chảo nóng giúp rút ngắn thời gian nấu và bổ sung chất béo. Xào nhanh rau chân vịt với một ít dầu ô liu cũng là một lựa chọn tuyệt vời, giúp cơ thể hấp thụ carotenoid tan trong chất béo.
Cô Johannah Katz gợi ý công thức: Rau chân vịt xào sơ với dầu ô liu, tỏi và vắt thêm một ít chanh, theo Eating Well.
Người bệnh nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, nấc cụt liên tục, khó thở nặng và nôn sau uống rượu.
Ban đầu, các triệu chứng dễ nhầm lẫn với bệnh lý tim mạch hoặc hô hấp, tuy nhiên qua thăm khám lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và nội soi, các bác sĩ xác định đây là trường hợp vỡ thực quản tự phát, một cấp cứu ngoại khoa cực kỳ nguy hiểm.
Theo TS.BS Nguyễn Xuân Hòa - Phó giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Tiêu hóa và Bệnh lý sàn chậu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức - người trực tiếp tham gia phẫu thuật - cho hay ca bệnh đặc biệt phức tạp do tổn thương nằm ở 1/3 dưới thực quản. Đây là vị trí khó tiếp cận.
Ê kíp phải cân nhắc giữa phẫu thuật đường ngực hay đường bụng để xử trí. Sau hội chẩn chuyên sâu và đánh giá kỹ lưỡng qua nội soi, các bác sĩ quyết định lựa chọn tiếp cận qua đường bụng để phẫu tích và khâu lại thực quản.
Trong phẫu thuật, kỹ thuật này đòi hỏi kinh nghiệm cao bởi đường bụng chỉ cho phép tiếp cận thực quản trong phạm vi khoảng 8 - 10cm. Nếu đánh giá sai vị trí tổn thương, phẫu thuật viên có thể gặp rất nhiều khó khăn trong xử trí.
"Điều quan trọng nhất với hội chứng Boerhaave là thời gian. Nếu được chẩn đoán trong vòng 24 giờ đầu, khả năng khâu bảo tồn thực quản và cứu sống người bệnh sẽ cao hơn rất nhiều", bác sĩ Hòa nhấn mạnh.
Sau phẫu thuật 5 ngày, người bệnh đã có thể ngồi dậy, được rút dẫn lưu màng phổi. Kết quả chụp kiểm tra cho thấy thực quản liền tốt, không còn rò dịch. Người bệnh được rút ống thông dạ dày và tập ăn qua đường miệng, sau 3 - 4 tuần có thể ăn uống bình thường.
Theo các bác sĩ, trước đây khi phương tiện chẩn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức và kỹ thuật ngoại khoa còn hạn chế, nhiều bệnh nhân tử vong hoặc để lại biến chứng nặng nề.
Các bác sĩ cho biết cơ chế thường gặp của hội chứng Boerhaave là sau khi uống nhiều rượu, người bệnh nôn dữ dội làm áp lực trong thực quản tăng đột ngột dẫn tới rách, vỡ thực quản. Điều nguy hiểm là triệu chứng ban đầu có thể chỉ là đau ngực, khó thở hoặc nấc cụt nên nhiều người chủ quan.
Từ trường hợp này, các chuyên gia khuyến cáo người dân không nên lạm dụng rượu bia. Nếu sau uống rượu xuất hiện nôn liên tục, đau ngực, khó thở hoặc nấc cụt kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế có chuyên khoa sâu về tiêu hóa và thực quản để được chẩn đoán, xử trí kịp thời, tránh nguy cơ tử vong.
Khi nhắc đến thực phẩm tốt cho tim mạch, cá hồi thường là lựa chọn quen thuộc. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều loại cá phổ biến trong bữa cơm hằng ngày lại có giá trị dinh dưỡng không hề thua kém.
Cá là nguồn protein chất lượng cao, đồng thời cung cấp nhiều vitamin, khoáng chất và chất béo có lợi. Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh, mỗi người nên ăn ít nhất hai khẩu phần cá mỗi tuần, trong đó có một khẩu phần là cá béo. Nhóm cá này giàu omega-3, có vai trò quan trọng với tim mạch, não bộ và điều hòa tâm trạng.
Cá hồi thường được xem là “chuẩn mực” của thực phẩm giàu omega-3. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng nhiều loại cá nhỏ như cá mòi, cá trích hay cá cơm hoàn toàn không kém cạnh về giá trị dinh dưỡng, thậm chí có lợi thế về độ an toàn và khả năng dễ tiếp cận trong bữa ăn hàng ngày.
Cá mòi
Dù có kích thước nhỏ, cá mòi lại chứa lượng dinh dưỡng đáng kể. Loài cá này nằm thấp trong chuỗi thức ăn nên tích lũy rất ít thủy ngân, trong khi lại giàu omega-3, vitamin D, B12, canxi và selen.
Một khẩu phần khoảng 85g cá mòi có thể cung cấp gần 2g omega-3, thuộc nhóm cao nhất trong các loại cá. Khi ăn cả xương mềm, cá mòi còn bổ sung thêm canxi, hỗ trợ sức khỏe xương và hệ miễn dịch.
Với đặc điểm ít nhiễm kim loại nặng, cá mòi cũng được xem là lựa chọn phù hợp cho phụ nữ mang thai và cho con bú.
Cá trích
Cá trích là loại cá béo quen thuộc, có hàm lượng omega-3 khoảng 1,5g trong mỗi khẩu phần 85g. Ngoài ra, loại cá này còn chứa lượng vitamin B12 rất cao, có thể đáp ứng hơn 400% nhu cầu hàng ngày.
Vitamin B12 đóng vai trò quan trọng với hệ thần kinh và quá trình sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin hay dopamine, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm trạng.
Cá trích cũng cung cấp protein và axit amin cần thiết cho quá trình tạo hemoglobin, góp phần duy trì sức khỏe hồng cầu. So với nhiều loại cá lớn, cá trích có mức thủy ngân thấp hơn, phù hợp để sử dụng thường xuyên.
Cá thu
Cá thu là nguồn cung cấp omega-3, protein và selen dồi dào, hỗ trợ hệ miễn dịch và chức năng tuyến giáp.
Một số loài cá thu như cá thu Đại Tây Dương hoặc cá thu Atka (Alaska) được đánh giá cao nhờ hàm lượng omega-3 chống viêm và ít thủy ngân. Tuy nhiên, không phải loại cá thu nào cũng an toàn.
Một số loại như cá thu vua có thể chứa hàm lượng thủy ngân cao, vì vậy người tiêu dùng cần lưu ý lựa chọn nguồn cá phù hợp và hạn chế sử dụng thường xuyên.
Cá cơm
Cá cơm là thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn của nhiều gia đình Việt. Loại cá nhỏ này không chỉ giàu omega-3 mà còn cung cấp lượng canxi đáng kể, khoảng 15% nhu cầu hàng ngày trong mỗi khẩu phần 85g.
Ngoài ra, cá cơm còn chứa nhiều sắt, hỗ trợ quá trình vận chuyển oxy, sản xuất năng lượng và duy trì hoạt động của hệ thần kinh.
Nhờ kích thước nhỏ và vòng đời ngắn, cá cơm ít tích lũy thủy ngân, phù hợp để sử dụng thường xuyên trong các món ăn hàng ngày.