Bộ GD-ĐT cần chủ động xây dựng lộ trình chuyển đổi này ngay từ bây giờ. Một hệ thống tuyển sinh nhân văn hơn, công bằng hơn và phù hợp hơn với mục tiêu phát triển năng lực người học sẽ là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của giáo dục VN trong tương lai.
Tại buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có nói “kỳ thi lớp 10 nhưng căng thẳng hơn cả thi đại học, tại sao lại tạo tâm lý bất an như vậy, không những nặng nề cho học sinh (HS), phụ huynh mà còn gây khó khăn cho thầy, cô”. Đây là thực trạng bức xúc và là mệnh lệnh cao nhất của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 khép lại cũng là thời điểm kết thúc gần 2 tháng diễn ra các kỳ thi tuyển sinh quan trọng nhất trong năm, từ tuyển sinh lớp 10 đến thi tốt nghiệp THPT lấy kết quả xét tuyển ĐH.
Thi cử vốn chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Với nhiều HS, kỳ thi không đơn thuần là cuộc kiểm tra kiến thức. Nó là điểm kết của 9 năm hoặc 12 năm học tập miệt mài, của những ngày học chính khóa nối tiếp học thêm, của những lịch trình kín đặc từ sáng đến tối. Trong nhận thức của không ít gia đình, thành bại của một chặng đường học tập dường như được đặt cả vào vài ngày thi ngắn ngủi.
Chính vì vậy, áp lực mùa thi không chỉ đến từ đề thi hay điểm số. Đằng sau mỗi thí sinh còn là kỳ vọng của cha mẹ, sự so sánh từ xã hội, nỗi lo về tương lai và đôi khi là cảm giác không được phép thất bại. Khi thành tích học tập trở thành thước đo gần như duy nhất để đánh giá năng lực và triển vọng của người trẻ, áp lực tâm lý là điều khó tránh khỏi.
Không ít gia đình còn phải gồng gánh những khoản chi phí đáng kể cho việc học thêm, ôn luyện và luyện thi kéo dài nhiều năm. Áp lực vì thế không dừng lại ở cổng trường thi mà lan rộng đến từng nhà. Không khí cả năm trong các nhà trường là lo “thi và thi”.
Một nền giáo dục không thể chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng HS đỗ vào các trường danh tiếng. Giá trị của giáo dục còn nằm ở việc giúp người học phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần và nhân cách. Khi mỗi mùa thi vẫn còn để lại quá nhiều nước mắt, lo âu và kiệt sức, đó là lúc xã hội cần tiếp tục đặt câu hỏi: liệu áp lực mà HS đang gánh chịu có thực sự tương xứng với những gì các em nhận được hay không?
Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt trọng tâm vào phát triển phẩm chất và năng lực người học. Vì vậy, công tác đánh giá cũng phải thay đổi tương ứng. Hiện nay, trên lớp đã kết hợp giữa đánh giá tổng kết thông qua điểm số và đánh giá quá trình thông qua nhận xét, sản phẩm học tập, hoạt động trải nghiệm.
Tuy nhiên, khi tuyển sinh, chúng ta vẫn đặt quá nhiều trọng trách vào kỳ thi duy nhất. Điều này khiến kết quả học tập nhiều năm của HS bị thu hẹp vào vài bài thi diễn ra trong một thời gian ngắn.
Nếu đánh giá hàng ngày ở hiện trường giáo dục đã chuyển sang coi trọng quá trình, thì tuyển sinh cũng cần chuyển đổi theo hướng tương tự. Việc kết hợp xét tuyển với thi tuyển không chỉ phản ánh đầy đủ hơn năng lực của người học mà còn góp phần giảm áp lực tâm lý, giảm học thêm và tạo động lực học tập thực chất. Vì vậy, Bộ GD-ĐT cần xây dựng lộ trình chuyển đổi từ mô hình tuyển sinh nặng về thi tuyển sang mô hình kết hợp giữa xét tuyển và thi tuyển, phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại.
Tuy nhiên, đây không phải là sự thay đổi có thể thực hiện ngay lập tức. Muốn thành công, cần xây dựng một “hệ sinh thái chuyển đổi thi” với lộ trình rõ ràng và các giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, thay đổi nhận thức và phương thức quản trị giáo dục. Mọi cải cách đều bắt đầu từ nhận thức. Bộ GD-ĐT cần tạo sự đồng thuận trong nhà trường và xã hội về việc giảm phụ thuộc vào các kỳ thi tuyển sinh. Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới quản trị nhà trường, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá HS. Việc đánh giá cũng cần tập trung nhiều hơn vào sự tiến bộ thường xuyên của người học thay vì chỉ chú trọng một kỳ thi quy mô lớn.
Khi chất lượng đánh giá quá trình được bảo đảm, xét tuyển sẽ trở thành công cụ đáng tin cậy, tạo tiền đề cho đổi mới tuyển sinh.
Thứ hai, đầu tư cơ sở vật chất và mở rộng cơ hội học tập sau phổ thông. Một trong những nguyên nhân tạo ra áp lực thi cử là tình trạng cung không đáp ứng đủ cầu. Khi số lượng chỗ học hạn chế, kỳ thi trở thành cuộc cạnh tranh khốc liệt. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư xây dựng trường lớp, mở rộng mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, nâng cấp hạ tầng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục. Đặc biệt, cần thay đổi tư duy xã hội về giáo dục nghề nghiệp, coi đây là một lựa chọn có giá trị ngang với giáo dục phổ thông và đại học. Khi mọi HS đều có cơ hội tiếp tục học tập theo năng lực và nguyện vọng của mình, áp lực phải vượt qua một kỳ thi để giành suất học sẽ giảm đáng kể.
Thứ ba, tăng cường hướng nghiệp từ sớm. Ở nhiều nền giáo dục tiên tiến, hướng nghiệp được triển khai xuyên suốt quá trình học tập. Từ bậc tiểu học, HS được làm quen với các ngành nghề thông qua trải nghiệm thực tế. Đến THCS, các em khám phá sở thích, năng lực và giá trị cá nhân. Khi bước vào THPT, HS đã có định hướng tương đối rõ ràng về con đường học tập và nghề nghiệp tương lai.
Ngược lại, tại VN, nhiều HS đến cuối cấp vẫn chưa xác định được hướng đi cho bản thân. Điều này khiến kỳ thi tuyển sinh trở thành cuộc cạnh tranh mang tính may rủi hơn là sự lựa chọn phù hợp với năng lực.
Do đó, Bộ GD-ĐT cần xem hướng nghiệp là một trụ cột của cải cách giáo dục, góp phần làm giảm áp lực thi cử và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ tư, xây dựng hệ thống dữ liệu học tập đáng tin cậy. Xét tuyển chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dữ liệu học tập được quản lý minh bạch, chính xác và lâu dài. Cần xây dựng hệ thống hồ sơ học tập điện tử thống nhất, lưu giữ đầy đủ kết quả học tập, quá trình rèn luyện và các sản phẩm năng lực của HS. Dữ liệu này cần được quản lý liên thông giữa nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục các cấp. Khi có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, các cơ sở giáo dục có thể sử dụng kết quả học tập nhiều năm làm căn cứ tuyển sinh thay vì phụ thuộc quá mức vào kỳ thi duy nhất.
Giảm áp lực thi cử không đồng nghĩa với hạ thấp chất lượng giáo dục. Ngược lại, đó là bước đi cần thiết để xây dựng một nền giáo dục hiện đại, coi trọng năng lực thực chất của người học.
Nghị quyết áp dụng với nhiều kỳ thi như tuyển sinh lớp 10 THPT, tuyển sinh lớp 10 chuyên, thi tốt nghiệp THPT, thi học sinh giỏi cấp thành phố và cấp quốc gia.
Trong đó, mức chi cao nhất dành cho giáo viên tham gia công tác chấm thi thuộc nhóm chấm bài thi tự luận, thi nói, thi thực hành ở kỳ thi chọn học sinh giỏi các môn văn hóa cấp thành phố. Tiền công dành cho đối tượng này là 1,23 triệu đồng/người/ngày.
Đối với kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT chuyên, giáo viên chấm bài thi môn chuyên được hưởng 770.000 đồng/người/ngày. Riêng tổ trưởng tổ chấm thi được nhận thêm 240.000 đồng mỗi đợt chấm ngoài tiền công chấm thi.
Ở kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT không chuyên, tiền công chấm bài thi tự luận và trắc nghiệm là 620.000 đồng/người/ngày. Trưởng ban chấm thi hưởng 790.000 đồng/ngày, phó trưởng ban hưởng 660.000 đồng/ngày.
Với kỳ thi tốt nghiệp THPT, mức chi cho giáo viên chấm bài thi tự luận và trắc nghiệm được nâng lên 770.000 đồng/người/ngày. Trưởng ban chấm thi nhận 990.000 đồng/ngày, phó trưởng ban nhận 820.000 đồng/ngày.
Ngoài công tác chấm thi, nghị quyết cũng quy định chi tiết mức thù lao cho các khâu ra đề, in sao đề thi, coi thi, kiểm tra, phúc khảo và xây dựng ngân hàng câu hỏi thi.
Đáng chú ý, người chủ trì xây dựng ma trận đề thi, bản đặc tả đề thi hoặc ra đề thi trắc nghiệm, tự luận chính thức ở một số kỳ thi có thể được hưởng mức 1,23 triệu đồng/ngày.
Không chỉ giáo viên, lực lượng phục vụ kỳ thi như công an, y tế, bảo vệ, nhân viên phục vụ cũng được quy định mức chi cụ thể. Theo đó, thành viên lực lượng an ninh, y tế tham gia phục vụ các kỳ thi được hưởng từ 300.000 đồng đến gần 700.000 đồng/ngày tùy vị trí và nhiệm vụ.
Theo nghị quyết, các mức chi được tính cho thời gian làm việc 8 giờ/ngày. Trường hợp làm việc ban đêm được hưởng thêm 130% mức lương ngày thường; làm việc vào ngày nghỉ, lễ, Tết có thể được tính từ 150% đến 300% tùy thời điểm và tính chất công việc.
Nghị quyết cũng nêu rõ trường hợp một người thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau trong cùng một ngày thì chỉ được hưởng mức thù lao cao nhất.
Ngày 14-4, qua đường dây nóng Tuổi Trẻ Online, nhiều phụ huynh có con học tại Trường tiểu học Quyết Thắng bày tỏ băn khoăn, bức xúc khi nhà trường triển khai nội dung liên kết giảng dạy kỹ năng công dân số.
Theo phản ánh, từ đầu năm học 2025-2026, nhà trường thông báo triển khai tiết học công dân số do một công ty giáo dục phụ trách, với mức thu 90.000 đồng/học sinh mỗi tháng.
Tuy nhiên khi triển khai thực tế, các tiết học chủ yếu do giáo viên của trường trực tiếp giảng dạy, gồm giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn, không có sự tham gia của giáo viên từ đơn vị liên kết như thông báo ban đầu.
"Chúng tôi đặt câu hỏi việc liên kết có thực hiện đúng không, khoản thu có đúng quy định không. Nếu giáo viên trường dạy thì vai trò của đơn vị liên kết là gì?", một phụ huynh nêu ý kiến.
Ngoài ra, phụ huynh cũng cho biết không tìm thấy thông tin công khai về việc liên kết giảng dạy với đối tác bên ngoài trên website của trường.
Ghi nhận của Tuổi Trẻ Online cho thấy tại mục tin công khai, thông báo trên website nhà trường chưa có nội dung liên quan đến chương trình liên kết này.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Ngọc Luận - Hiệu trưởng nhà trường - cho biết đầu năm học, trường đã thành lập hội đồng lựa chọn đối tác, đồng thời công khai tại bảng thông tin và trong các cuộc họp với ban đại diện phụ huynh.
Theo ông Luận, trường có 15 lớp và 15 giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy tiết công dân số, mỗi tuần một tiết, với mức thu 90.000 đồng/học sinh/tháng theo quy định chung tại TP.HCM.
"Giáo viên được đơn vị liên kết tập huấn, chương trình do công ty cung cấp và đã được sở phê duyệt. Việc lựa chọn, triển khai đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch", ông Luận nói.
Về việc phụ huynh không tìm thấy thông tin trên website, ông cho biết từ đầu có giao bộ phận công nghệ thông tin triển khai. "Tôi đã giao triển khai, nếu phụ huynh phản ánh là không tìm thấy thông tin, tôi sẽ kiểm tra lại", ông thêm.
Làm bài thi thử môn tiếng Anh của cụm trường THPT số 1 Hà Nội hồi đầu tháng, Đức Dũng, học sinh lớp 12, với 6.5 IELTS (7.0 phần Đọc), thừa nhận khá chật vật.
Dũng kể thường hiểu được 80-85% các bài đọc, nhưng với đề thi này, sau hơn 20 phút (gần một nửa thời gian làm bài), em vẫn chưa hoàn thành một trong hai bài đọc. Ở bài số 1 với 10 câu hỏi, ngay từ đầu đã xuất hiện loạt từ như climatic perturbations (biến động khí hậu), transmuting (biến đổi), terrestrial biotopes (sinh cảnh trên cạn),... mà Dũng nhận xét là "khủng". Nam sinh đành "khoanh lụi" mấy câu.
"Em thấy ngộp và siêu thiếu thời gian", Dũng chia sẻ.
Ở Thanh Hóa, Quỳnh, học sinh lớp 12, với chứng chỉ 7.5 IELTS (tương đương trình độ C1) với kỹ năng Đọc đạt tuyệt đối 9.0, cũng lúng túng với đề thi thử lần 2 của Sở Giáo dục và Đào tạo. Bài đọc có nhiều từ khó, như crystallized (kết tinh), algorithmic sociality (tính xã hội thuật toán), social proofing (bằng chứng xã hội),...
"Nếu không phải học sinh chuyên Anh hoặc chưa từng học IELTS thì khó hiểu được", nữ sinh nhận xét.
Các đề thi này gần đây thu hút nhiều thảo luận trên các diễn đàn, phần lớn e ngại về độ khó. Một số giáo viên và chuyên gia ngôn ngữ đặt câu hỏi về sự cần thiết của việc đưa các thuật ngữ hiếm gặp vào bài ôn tập, kiểm tra dành cho học sinh phổ thông.
Anh Ngô Huy Tú, giảng viên tiếng Anh tại trường Đại học Đại Nam, tác giả sách IELTS Key Writing, đánh giá bài đọc của cụm trường số 1 ở Hà Nội có mức độ từ vựng cực khó, do có những thuật ngữ khoa học, triết học phức tạp, hoặc từ dài, hiếm gặp và có gốc La-tinh, Hy Lạp. Những từ này ở mức C2, cao nhất theo Khung tham chiếu châu Âu (CEFR).
Ngoài ra, các cấu trúc danh từ hóa được sử dụng với tần suất "cực đại", tăng độ nén thông tin và độ khó của văn bản lên hơn nhiều so với các bài đọc hiểu trong kỳ thi IELTS (thường ở mức B2-C1) hoặc với mức B1 ở phổ thông.
Nếu dùng công cụ thống kê của từ điển Oxford, một số từ xuất hiện không tới một lần trên mỗi một triệu từ trong tiếng Anh viết hiện đại, như chimerical (hư không), sequestration (sự cô lập), hyperthermia (tăng thân nhiệt),...
Việc ra bài đọc khó trong các tài liệu ôn tập không phải là hiếm gặp. Cô Trần Hoa, giáo viên tiếng Anh ở Hà Nội, thường chữa đề thi thử ở các tỉnh cho học sinh ôn luyện, không ít lần "nhăn nhó" vì thấy quá rắc rối.
"Quá nhiều từ cấp độ C1-C2, còn cấu trúc câu thì rườm rà không cần thiết. Học sinh có lẽ phải cần tới 60-70 phút mới làm kịp", cô nói.
Các giáo viên nhìn nhận lý do có thể vì đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025 môn tiếng Anh từng gây sốc, cả nước chỉ có 141 em đạt điểm 10, trong hơn 350.000 thí sinh.
Trả lời VnExpress, ông Nguyễn Thế Hải, chuyên viên tiếng Anh của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa, ghi nhận các ý kiến về độ khó. Ông cho hay đề thi thử được chọn từ một bộ đề do các giáo viên cốt cán của tỉnh xây dựng, "bám rất sát cấu trúc của Bộ năm vừa rồi".
"Đề năm ngoái có dung lượng từ vựng lớn và khó. Nên đề thi thử được thiết kế để giúp các em có nhiều va chạm với độ khó của đề thi thật, từ đó điều chỉnh định hướng ôn tập", ông nói.
Do tiếng Anh là môn lựa chọn, theo ông Hải, những học sinh khá, giỏi mới đăng ký. Vì thế, đề thi của Bộ ra như vậy cũng đặt các em theo đúng năng lực, sở trường.
Ở Hà Nội, một số trường thuộc cụm 1 không đưa ra bình luận.
Trong nghiên cứu "Phân tích độ khó và yêu cầu từ vựng của đoạn văn đọc trong bài thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT tại Việt Nam", hồi đầu năm, TS Cao Thị Hồng Phương (trường Đại học Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Thị Mỹ Hằng (Đại học Đà Nẵng), chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa của xu hướng tăng độ khó là kỳ thi tốt nghiệp gánh mục tiêu kép: vừa xét tốt nghiệp THPT, vừa dùng tuyển sinh đại học.
Do đó, nếu đề quá dễ thì không thể phân loại, nhưng nếu quá khó sẽ vượt năng lực trung bình của học sinh phổ thông, gây áp lực tâm lý cho các em.
Cô Hoa đánh giá hướng ra đề mới như hiện nay là tốt, yêu cầu học sinh thực sự hiểu, dịch và suy luận từ bài đọc thay vì dựa vào các mẹo ngữ pháp. Thứ cần điều chỉnh là nội dung của đề.
"Người ra đề cần đặt mình vào vị trí của thí sinh, tự phản biện để điều chỉnh câu hỏi", cô nói. Cô khuyên học sinh muốn bứt phá trong thời điểm nước rút chú trọng vào từ vựng và phần đọc hiểu.
Còn anh Tú tin bài thi thật sẽ không khó như bài thi thử của cụm trường THPT số 1 ở Hà Nội, hy vọng chuyên gia sẽ cân nhắc, đo lường chính xác hơn về độ tin cậy và tính hợp lệ của đề thi.
Với các đề lấy nguồn từ nghiên cứu khoa học, theo anh Tú nên cắt giảm lượng từ vựng chuyên ngành và dùng lối diễn đạt thông dụng. Bởi mục đích của chúng là phổ biến kiến thức, để người đọc có thể hiểu thay vì đánh đố họ.
Quỳnh cho hay yên tâm vì có chứng chỉ IELTS 7.5 để quy đổi điểm khi xét tuyển đại học, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điểm thi. Dũng thì chưa quyết sẽ dùng cách nào, song đang tập trung học từ vựng nhiều hơn để đạt điểm tốt nhất trong kỳ thi tốt nghiệp - diễn ra sau hơn 10 ngày nữa.