Trong lịch sử thiết giáp thế giới, hiếm có dòng xe tăng nào đạt mức độ phổ biến như T-54/55 của Liên Xô. Với hơn 100.000 chiếc được sản xuất và phục vụ trong quân đội hơn 50 quốc gia, dòng tăng này thường được ví như “AK-47 của xe tăng”.
Ngay cả khi nhiều mẫu tăng hiện đại đã xuất hiện, T-54/55 vẫn tiếp tục tham chiến tại một số khu vực trên thế giới. Đáng chú ý, Nga đã tái triển khai loại xe tăng có nguồn gốc từ thập niên 1950 này trong xung đột Ukraine kể từ năm 2023.
Sự xuất hiện của T-54/55 từng khiến nhiều nhà phân tích phương Tây cho rằng Nga đang cạn kiệt lực lượng tăng thiết giáp hiện đại như T-72 hay T-80. Tuy nhiên, thực tế sau đó cho thấy Moskva nhiều khả năng chỉ sử dụng các mẫu tăng cũ như giải pháp tạm thời trong lúc mở rộng năng lực sản xuất quốc phòng.
Trong giai đoạn đầu xung đột, ngành công nghiệp quân sự Nga gặp nhiều áp lực trong việc đáp ứng nhu cầu chiến trường. Việc đưa các xe tăng thời Liên Xô trở lại hoạt động giúp quân đội Nga duy trì hỏa lực và bổ sung khí tài trong thời gian các dây chuyền sản xuất mới được nâng cấp.
T-54/55 đang được Nga sử dụng ra sao?
Khác với các xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại, T-54/55 hiện không đảm nhiệm vai trò đột kích cơ động tuyến đầu. Thay vào đó, chúng chủ yếu được dùng như pháo tự hành hỗ trợ hỏa lực tầm xa.
Dù lớp giáp và hệ thống điều khiển hỏa lực đã lạc hậu, pháo cỡ nòng 100 mm của T-54/55 vẫn đủ khả năng hỗ trợ bộ binh hoặc tấn công các vị trí phòng thủ từ khoảng cách an toàn.
Một số chuyên gia cho rằng với tầm quan sát và hỏa lực mạnh hơn các xe chiến đấu bộ binh như BMP-2, T-54/55 vẫn có giá trị nhất định trong tác chiến hỗ trợ gián tiếp.
Theo dữ liệu từ các nhóm theo dõi nguồn mở như Oryx, kể từ đầu năm 2026 mới chỉ ghi nhận khoảng 26 xe T-54/55 bị phá hủy tại Ukraine. Tuy nhiên, số lượng thực tế Nga triển khai vẫn chưa được xác nhận.
Trước khi xung đột nổ ra, Moskva được cho là còn lưu kho từ vài nghìn tới hàng chục nghìn xe T-54/55. Vì vậy, tổn thất vài chục chiếc gần như không ảnh hưởng đáng kể tới nguồn dự trữ khổng lồ này.
Nga cũng từng thử nghiệm nhiều cách sử dụng khác thường với dòng tăng cũ. Năm 2023, một số xe T-54 được nhồi thuốc nổ và biến thành phương tiện đánh bom điều khiển từ xa nhằm tấn công các vị trí phòng thủ của Ukraine.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các xe tăng này chủ yếu quay lại vai trò hỗ trợ hỏa lực truyền thống. Nhiều chiếc còn được lắp thêm giáp phản ứng nổ và “lồng chống UAV” nhằm tăng khả năng sống sót trước các cuộc tập kích bằng UAV cảm tử.
Từ hậu duệ T-34 tới huyền thoại toàn cầu
T-54 được phát triển từ dòng T-34 nổi tiếng thời Thế chiến II, mẫu xe tăng từng góp phần quan trọng giúp Liên Xô đánh bại phát xít Đức.
Sau chiến tranh, các kỹ sư Liên Xô tiếp tục nâng cấp T-34 để tạo ra T-44 với giáp bảo vệ và khả năng cơ động tốt hơn. Quá trình tích hợp pháo 100 mm lên khung gầm này cuối cùng dẫn tới sự ra đời của T-54.
Trong suốt vòng đời hoạt động, T-54 liên tục được cải tiến với tháp pháo mới, pháo D-10T ổn định theo phương thẳng đứng cùng thiết bị quan sát ban đêm hiện đại hơn.
Biến thể T-55 xuất hiện sau đó có ngoại hình gần như giống hệt T-54 nhưng được trang bị động cơ mạnh hơn, hệ thống ổn định pháo tốt hơn cùng nhiều cải tiến điện tử.
Khi chính thức vào biên chế Hồng quân năm 1958, T-55 được đánh giá là một trong những xe tăng tiên tiến nhất thế giới với khả năng cơ động cao và hỏa lực mạnh hơn nhiều đối thủ NATO cùng thời.
Vì sao T-54/55 được gọi là “AK-47 của xe tăng”?
Danh xưng này không chỉ xuất phát từ số lượng sản xuất khổng lồ mà còn bởi mức độ phổ biến toàn cầu của dòng tăng Liên Xô.
Riêng Liên Xô đã chế tạo khoảng 35.000 xe T-54 và 27.000 xe T-55. Khi tính thêm các phiên bản sản xuất theo giấy phép tại Trung Quốc và các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw, tổng số xe được chế tạo vượt mốc 100.000 chiếc.
Trong thời kỳ đỉnh cao, T-54/55 hiện diện tại hơn 50 quốc gia trải dài từ châu Âu, châu Á tới Trung Đông và châu Phi.
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Liên Xô rồi Nga dần thay thế T-54/55 bằng các mẫu hiện đại hơn như T-72 và T-80. Dù vậy, hàng nghìn chiếc vẫn bị niêm cất trong kho dự trữ suốt nhiều thập kỷ.
Nhiều người từng cho rằng chúng sẽ không bao giờ trở lại chiến trường. Nhưng xung đột Ukraine đã khiến một trong những dòng xe tăng nổi tiếng nhất thế kỷ XX, có thêm lần tái xuất cuối cùng trong lịch sử quân sự hiện đại.
"Khoảng một tuần sau cuộc bầu cử, Tổng thống và tôi gọi điện cho nhau, trao đổi về một số vấn đề", bà Karoline Leavitt nói tại sự kiện của tổ chức bảo thủ Turning Point USA ở Đại học George Washington tối 2/4, kề khoảnh khắc được ông Donald Trump chọn làm phát ngôn viên Nhà Trắng cho nhiệm kỳ hai.
"Đó có lẽ là thông báo giản đơn nhất. Ông ấy đột nhiên nói 'nhân tiện, cô biết mình sẽ làm phát ngôn viên chứ?'", Leavitt kể. "'Tôi đáp lại 'vâng, được thôi', rồi tiếp tục quay lại câu chuyện trước đó. Thế là tôi có công việc này. Không hình thức hay phô trương gì cả, chỉ vậy thôi, đúng phong cách ông Trump".
Leavitt cho biết bà tham gia chiến dịch tranh cử năm 2024 của ông Trump, sau khi thất bại trong cuộc đua vào nghị viện bang New Hampshire. Bà là người phát ngôn cho chiến dịch, rồi trở thành đại diện truyền thông cho Nhà Trắng.
"Thực sự không có quy trình nào cả", bà Leavitt nói. "Tôi chỉ nghĩ hy vọng mình sẽ có một công việc. Tôi còn không biết mình có được nhận hay không".
Leavitt sinh năm 1997 tại Atkinson, bang New Hampshire. Ở tuổi 27, cô trở thành thư ký báo chí Nhà Trắng trẻ nhất trong lịch sử Mỹ. Khi thông báo bổ nhiệm Leavitt tháng 11/2024, ông Trump ca ngợi cô là người "thông minh, cứng rắn và sẽ thể hiện xuất sắc trên bục phát biểu".
Leavitt được biết đến là người rất trung thành với Tổng thống Trump, luôn sát cánh cùng ông suốt chiến dịch vận động trên khắp nước Mỹ. Cô thậm chí quay trở lại làm việc chỉ 4 ngày sau khi sinh con trai đầu lòng, khi ông Trump thoát chết trong vụ ám sát hụt ở Pennsylvania hồi tháng 7/2024. Cô đang mang thai một bé gái và dự sinh vào tháng 5.
Tại cuộc họp báo ngày 9-4, Bộ trưởng Quốc phòng Anh John Healey nói rằng trong chiến dịch kéo dài hơn một tháng, tàu chiến và máy bay tuần tra biển P8 của nước này đã "theo dõi và ngăn chặn bất kỳ hoạt động nguy hiểm nào" của ba tàu ngầm Nga.
Ông Healey không tiết lộ chính xác địa điểm diễn ra chiến dịch, cho biết nó không diễn ra trong lãnh hải của Anh mà trong vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý tính từ bờ biển Anh, hoặc khu vực tiếp giáp với ranh giới vùng đặc quyền của các quốc gia khác. Chiến dịch cũng có sự tham gia của Na Uy và các đồng minh không nêu tên.
Dù nói rằng không có bằng chứng nào cho thấy các tàu Nga đã gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng dưới biển, Bộ trưởng Quốc phòng Anh nói rằng việc này sẽ gửi một thông điệp tới Tổng thống Nga Vladimir Putin.
"Chúng tôi thấy hoạt động của các ông trên các đường cáp và đường ống dẫn dầu của chúng tôi, và các ông nên biết rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm phá hoại chúng sẽ không được dung thứ và sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng", Hãng tin AFP dẫn lời ông Healey.
"Chúng tôi đã vạch trần những hoạt động bí mật đó. Chúng tôi đã nói rõ với ông ta và các tàu ngầm của ông ta rằng chúng tôi đã theo dõi chúng từng bước một", ông Healey nói thêm, cho rằng hành động của Nga diễn ra "trong khi các nước đang hướng sự chú ý về Trung Đông".
Theo London, các tàu của Nga bị phát hiện bao gồm một tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Akula và hai tàu ngầm chuyên dụng từ Cục Nghiên cứu biển sâu (GUGI).
GUGI nằm trong số những cơ sở bí mật nhất của Nga, chịu trách nhiệm giám sát dưới bề mặt đại dương và các tàu ngầm do thám mini chạy bằng năng lượng hạt nhân hoạt động ở vùng nước sâu, theo các chuyên gia quốc phòng.
Tàu ngầm tấn công của Nga có thể là "mồi nhử để đánh lạc hướng" cho hai tàu chuyên dụng, vốn "được thiết kế để khảo sát cơ sở hạ tầng dưới nước trong thời bình và phá hoại chúng trong thời chiến", ông Healey nói.
"Sau quá trình phân tích nghiêm ngặt dựa trên dữ liệu, chúng tôi đã ra quyết định khó khăn nhưng cần thiết là chấm dứt hoạt động của tàu ngầm USS Boise", tư lệnh hải quân Mỹ Daryl Caudle cho biết hôm 10/4.
Đô đốc Caudle nói rằng động thái chiến lược này sẽ giúp hải quân Mỹ tái phân bổ lực lượng lao động tay nghề cao cho các ưu tiên cao nhất, như đóng tàu ngầm lớp Virginia và Columbia mới, cũng như cải thiện năng lực sẵn sàng chiến đấu của hạm đội hiện tại.
Theo hải quân Mỹ, quyết định trên là một phần trong sáng kiến quy mô lớn nhằm tối ưu hóa cấu trúc hạm đội, đảm bảo ngân sách được đầu tư vào những năng lực sẽ trực tiếp giúp duy trì ưu thế chiến đấu.
Hải quân Mỹ đã chi khoảng 800 triệu USD cho dự án đại tu tàu ngầm USS Boise, song mới chỉ hoàn thành 22% kế hoạch công việc. Tổng chi phí ước tính để hoàn thành quá trình này đã tăng lên 3 tỷ USD, theo Fox News.
Bộ trưởng Hải quân Mỹ John Phelan cho biết nỗ lực đại tu USS Boise tương đương 65% chi phí đóng mới một tàu ngầm lớp Virginia, song nó chỉ có thể vận hành được thêm vài năm sau khi sửa chữa. "Đến một lúc nào đó, cần phải chấp nhận cắt lỗ và bước tiếp", ông nói.
Hải quân Mỹ dự định sửa chữa USS Boise từ năm 2013, song kế hoạch đã nhiều lần bị trì hoãn, chủ yếu do thiếu xưởng đóng tàu. Chiến hạm về cảng sau chuyến hải trình cuối cùng vào tháng 1/2015 và không ra khơi kể từ đó. USS Boise bị đánh giá là "không còn khả năng hoạt động bình thường" từ năm 2016 và bị tước chứng nhận khả năng lặn sau đó một năm.
Hải quân Mỹ đã chuyển USS Boise từ cảng nhà ở bang Virginia đến xưởng của hãng Newport News năm 2018. Chiến hạm này trở về cảng nhà sau đó một năm do vấn đề ưu tiên ngân sách. Nó tiếp tục di chuyển đến xưởng của Newport News vào năm 2020, song phải đến năm 2021 mới được đưa vào ụ khô để bắt đầu hoạt động bảo dưỡng hạn chế.
Nỗ lực đại tu toàn diện tiếp bị trì hoãn do vấn đề ngân sách, hợp đồng chỉ được hải quân Mỹ ký kết năm 2024.
Tính đến năm ngoái, hải quân Mỹ vẫn nỗ lực hoàn thành đại tu tàu ngầm USS Boise để đưa chiến hạm trở lại biên chế vào năm 2029. Tính đến thời điểm đó, chiến hạm này đã dành hơn 1/3 vòng đời nằm trong cảng.
USS Boise thuộc lớp ngầm tấn công nhanh Los Angeles, được khởi đóng năm 1988 và đưa vào biên chế hải quân Mỹ năm 1992. Chiến hạm được trang bị động cơ hạt nhân, có thể mang nhiều loại vũ khí như ngư lôi Mark 48, tên lửa hành trình Tomahawk, tên lửa diệt hạm Harpoon, thủy lôi Mark 67 và Mark 60.
Mỹ đã chế tạo tổng cộng 62 tàu ngầm lớp Los Angeles, với mức giá mỗi chiếc tương đương 1,9 tỷ USD vào năm 2024. Tính đến năm 2025, còn tổng cộng 23 tàu trong biên chế, chiếm gần một nửa hạm đội 50 tàu ngầm hạt nhân tấn công của hải quân Mỹ.
Số lượng tàu ngầm lớp Los Angeles của hải quân Mỹ đã giảm dần trong những năm qua, do lực lượng này tiếp nhận các chiến hạm lớp Virginia có năng lực vượt trội hơn.