Ngày 25.5, trong buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo T.Ư về phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một thông điệp làm dấy lên làn sóng hy vọng trong giới khoa học: “khoa học cơ bản là cơ sở để hình thành công nghệ lõi”.
Theo GS Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện toán học VN, đóng góp của nghiên cứu cơ bản là gián tiếp nhưng nó góp phần vào đảm bảo sự bền vững của phát triển, đặc biệt khi nền kinh tế đã phát triển tới một mức độ cao về KH-CN. Mức độ phát triển càng cao, nhu cầu về sự đóng góp của nghiên cứu cơ bản càng lớn. Vấn đề là đầu tư cho KH-CN cần có mục tiêu rõ ràng, cân bằng giữa ngắn hạn và dài hạn. Cần xác định rõ mục tiêu trong từng giai đoạn.
“Có thể lấy sự phát triển ngoạn mục của toán học Xô Viết trong thế kỷ 20 làm ví dụ. Nó là hệ quả của các chương trình phát triển vũ khí cũng như chương trình vũ trụ của chính quyền Xô Viết. Điều tương tự cũng đã xảy ra với Mỹ. Và bây giờ như chúng ta thấy đang ở Trung Quốc. Nói ngắn gọn, nghiên cứu cơ bản không phải là trò chơi, nó sẽ xuất hiện một cách tất yếu khi các chính quyền cần đầu tư phát triển công nghệ cao”, GS Phùng Hồ Hải nói.
GS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH-CN VN, nhận định, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là định hướng có ý nghĩa rất sâu sắc. Nghiên cứu cơ bản chính là tầng sâu nhất của năng lực khoa học quốc gia, là nơi hình thành tri thức gốc, phương pháp tư duy, đội ngũ chuyên gia tinh hoa và khả năng đi đến bản chất của các vấn đề công nghệ. Một thực tế khắc nghiệt là trên thế giới không có quốc gia nào làm chủ được công nghệ nếu không có nền tảng tri thức vững chắc. “Một quốc gia có thể mua thiết bị, nhập khẩu dây chuyền, tiếp nhận một số công nghệ trong ngắn hạn, nhưng không thể mua được năng lực khoa học nền tảng, không thể nhập khẩu được đội ngũ nhà khoa học đủ sức giải mã, cải tiến và sáng tạo công nghệ lõi”, GS Trần Hồng Thái nói.
GS Trần Tuấn Anh, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm KH-CN VN, cũng cho biết nghiên cứu cơ bản tạo ra tri thức mới, làm cơ sở cho sự hình thành các công nghệ hiện đại. Đồng thời là nguồn gốc của đổi mới sáng tạo và các công nghệ tương lai. Nhiều kết quả nghiên cứu cơ bản ban đầu chưa thể ứng dụng ngay, nhưng sau một thời gian dài lại trở thành nền tảng cho các ngành công nghệ quan trọng, đóng góp trực tiếp cho phát triển KT-XH cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh. “Muốn trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao, VN không thể chỉ dừng ở gia công công nghệ mà phải có năng lực tạo ra tri thức mới và công nghệ lõi”, GS Trần Tuấn Anh nêu ý kiến.
Theo các nhà khoa học, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra cho giới KH-CN một yêu cầu rất rõ: khoa học không thể chỉ dừng ở việc đi theo, tiếp nhận hay sử dụng công nghệ, mà phải từng bước vươn lên làm chủ, sáng tạo và đóng góp vào những năng lực cốt lõi của quốc gia. Trong khi đó, nếu không có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, chúng ta khó có thể hiểu sâu, giải mã và làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.
“Nói về những đột phá trong KH-CN gần đây, chúng ta hay nói đến trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, công nghệ sinh học, bán dẫn hay năng lượng mới, năng lượng xanh… Mà kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực này đều bắt nguồn từ các thành tựu nghiên cứu khoa học cơ bản”, GS Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH KHTN, ĐH Quốc gia Hà Nội, nói.
GS Trần Hồng Thái cũng nhận định: “Chính nghiên cứu cơ bản là nền móng để hình thành năng lực công nghệ nguồn, công nghệ chiến lược, giải mã và khả năng tự chủ công nghệ trong dài hạn. Chẳng hạn, công nghệ lượng tử đang được thảo luận sôi nổi gần đây đã kéo dần vật lý lượng tử từ lĩnh vực nghiên cứu hàn lâm thành công nghệ chiến lược. Các lĩnh vực thời sự KH-CN nóng hổi như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn làm cho toán học, khoa học xác suất, tối ưu hóa được quan tâm nhiều hơn. Công nghệ bán dẫn, lượng tử, vật liệu mới bắt nguồn từ vật lý hiện đại, hóa học, khoa học vật liệu…”.
GS Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu, chia sẻ: “Nhiều người vẫn cho rằng khoa học cơ bản là lĩnh vực “xa rời thực tiễn”, nhưng thực tế toàn bộ công nghệ lõi hiện đại đều bắt nguồn từ khoa học cơ bản. Google, OpenAI, công nghệ chip, vật liệu graphene hay pin lithium đều xuất phát từ những nghiên cứu nền tảng nhiều thập kỷ trước. Do đó, chúng ta không thể phát triển công nghiệp chip nếu không làm chủ vật liệu wafer, vật liệu quang khắc, vật liệu GaN hay SiC. Không thể phát triển xe điện và năng lượng tái tạo nếu không làm chủ vật liệu pin, vật liệu từ và vật liệu lưu trữ năng lượng. Không thể phát triển công nghệ lượng tử nếu không có nền tảng vật liệu siêu dẫn và vật liệu topo”.
Các nhà khoa học cũng cho rằng, một khi đã nhận thức được khoa học cơ bản là nền móng cho công nghệ lõi thì phải từ bỏ được tâm lý nôn nóng, muốn thấy ngay kết quả trong tư duy hoạch định chính sách.
Khoa học cơ bản đòi hỏi tính khám phá, tính dài hạn và tính chưa chắc chắn. Các định lý toán học, những nguyên lý vật lý lượng tử hay cấu trúc phân tử hóa học không thể đem ra “bán” ngay lập tức để lấy tiền. Nhưng nếu chúng ta không chịu đầu tư hôm nay, đất nước sẽ không có gì để ứng dụng trong 10, 20 hay 50 năm tới. Con đường để VN bước vào kỷ nguyên mới, tiến tới làm chủ những công nghệ mang tính định hình tương lai, chắc chắn không có lối đi tắt. Phải bắt đầu từ việc đổ bê tông cho phần móng vững chắc: một nền khoa học cơ bản nội sinh mạnh mẽ, đủ sức tạo ra tri thức và nuôi dưỡng những bộ óc tinh hoa có khả năng giải mã mọi công nghệ lõi.
GS Trần Hồng Thái lý giải, nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu cơ bản nói riêng là quá trình khám phá, giải quyết những vấn đề chưa có lời giải, vì vậy, không thể quản lý hoàn toàn giống các hoạt động hành chính hay những hoạt động đã có khuôn mẫu sẵn. Các hoạt động nghiên cứu mũi nhọn cần sự ổn định và những chương trình mục tiêu lớn kéo dài từ 10 đến 20 năm, chứ không thể chỉ duy trì bằng nguồn đầu tư thấp và phân tán như hiện tại. “Ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản không phải là lựa chọn xa xỉ, càng không phải là sự đầu tư chậm sinh lợi. Đó là khoản đầu tư chiến lược cho năng lực tự chủ của quốc gia”, GS Trần Hồng Thái khẳng định.
GS Trần Đại Lâm cũng chỉ ra “điểm nghẽn” lớn nhất của chúng ta không phải là “thiếu tiền”, mà là thiếu cơ chế tài chính phù hợp với bản chất nghiên cứu khoa học (bao gồm khoa học cơ bản). Cơ chế đầu tư hiện hành vẫn còn nặng về quản lý đầu vào, thủ tục hồ sơ, dự toán chi tiết từng năm, mang nặng tâm lý sợ rủi ro và thiếu đi cơ chế hậu kiểm. Nghịch lý đau lòng là hiện nay, nhiều nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính thay vì chuyên tâm cho công tác nghiên cứu. “Chúng ta không thể coi khoản ngân sách dành cho lĩnh vực này là “chi phí”, mà phải nhìn nhận đó là đầu tư chiến lược để bảo vệ lợi ích và năng lực cạnh tranh cốt lõi của dân tộc”, GS Trần Đại Lâm chia sẻ.
Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch vừa có quyết định mở ngành đào tạo trình độ ĐH ngành tâm lý học.
Ngành học này thuộc khoa Y tế công cộng, có thời gian đào tạo 4 năm. Sinh viên tốt nghiệp nhận bằng cử nhân tâm lý học.
Trường có định hướng đào tạo cử nhân ngành tâm lý có kiến thức cơ bản về khoa học xã hội, nhân văn và y học. Đồng thời, chương trình cung cấp nền tảng vững chắc về lĩnh vực tâm lý lâm sàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về việc chăm sóc sức khỏe tinh thần của con người trong xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Sau khi hoàn thành chương trình cử nhân tâm lý học tại Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, người học có thể ứng tuyển vào những vị trí việc làm như: nhân viên tư vấn tâm lý làm việc tại các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa (tâm thần, nhi đồng, ung bướu...), các trung tâm hoặc công ty chăm sóc sức khỏe tinh thần công lập hoặc tư nhân.
Người học cũng có thể trở thành nhân viên tâm lý làm việc trong các dự án chính phủ hoặc phi chính phủ về chăm sóc sức khỏe tinh thần, phúc lợi cho các đối tượng dễ bị tổn thương; Nhân viên tâm lý làm việc trong các cơ sở giáo dục; Nghiên cứu viên trường học, viện nghiên cứu hoặc các cơ sở học thuật khác; Nhân viên tâm lý học tại các cơ sở khác phù hợp với chuyên môn…
Năm 2026, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch tuyển sinh theo 2 phương thức gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 và xét tuyển thẳng. Năm nay trường tuyển sinh 14 ngành đào tạo trình độ ĐH. Các ngành cụ thể gồm: y khoa, y học cổ truyền, dược học, điều dưỡng, hộ sinh, dinh dưỡng, răng-hàm-mặt, kỹ thuật xét nghiệm y học, kỹ thuật hình ảnh y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, kỹ thuật gây mê hồi sức, khúc xạ nhãn khoa, y tế công cộng, tâm lý học.
Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch không phải cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe đầu tiên tuyển sinh ngành tâm lý học. Trước đó, từ năm 2024, Trường ĐH Y Hà Nội tuyển sinh ngành tâm lý học. Trường ĐH Y dược TP.HCM cũng bắt đầu mở ngành đào tạo trình độ ĐH ngành tâm lý học (thuộc khoa Y tế công cộng) trong năm nay. Ngoài ra, nhiều trường ĐH công lập và tư thục khác cũng đang đào tạo ngành tâm lý học.
Thông tư số 33 về khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong việc chuẩn hóa hệ thống đánh giá năng lực ngoại ngữ trên toàn quốc.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tư hướng đến thiết lập một chuẩn chung áp dụng trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá cũng như công nhận kết quả học tập ngoại ngữ.
Qua đó giúp người học định hướng rõ ràng lộ trình phát triển năng lực ngoại ngữ, đồng thời hỗ trợ các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường tính liên thông giữa các bậc học và trình độ đào tạo.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam được cập nhật theo khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) phiên bản mới 2020-2021.
Việc này giúp tăng tính tương thích với các chuẩn quốc tế, tạo thuận lợi cho việc công nhận văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
Lần đầu tiên, khung năng lực ngoại ngữ bổ sung mức "Tiền bậc 1" (Pre-A1) dành cho người mới bắt đầu học ngoại ngữ, đặc biệt phù hợp với xu hướng dạy và học ngoại ngữ từ lứa tuổi nhỏ tại Việt Nam.
Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam được chia làm 3 cấp: sơ cấp, trung cấp và cao cấp
Việc bổ sung này giúp hoàn thiện hệ thống đánh giá theo hướng liên tục, mở rộng phổ trình độ và tạo lộ trình rõ ràng hơn cho người học.
Thông tư cũng làm rõ và chi tiết hóa mô tả năng lực ở từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Nội dung được thiết kế theo hướng cụ thể, dễ hiểu, gắn với các tình huống sử dụng ngôn ngữ thực tế, giúp giáo viên và người học dễ dàng áp dụng trong giảng dạy và đánh giá.
Đối với các ngôn ngữ đặc thù như tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật và tiếng Hàn, thông tư quy định sử dụng các khung năng lực do quốc gia sở tại ban hành, nhằm đảm bảo phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ và thông lệ quốc tế.
Thông tư được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đồng thời tăng tính liên thông giữa các bậc học, phục vụ tốt hơn yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Nguyễn Linh Chi, 18 tuổi, học sinh lớp 12 trường Marie Curie, là kiện tướng trượt băng nghệ thuật với "thâm niên" 10 năm thi đấu. Tháng trước, Chi được nhiều đại học Mỹ báo trúng tuyển, trong đó có Đại học California ở Berkeley (UCB) và Đại học New York (NYU).
Theo xếp hạng của US News, UCB là trường công lập tốt nhất Mỹ, còn NYC đứng thứ 32 trong danh sách đại học tốt nhất, top 2 về ngành Tài chính.
"Đại học New York là ngôi trường em mong đợi nhất nên khi nhận thư, em thở phào và thấy nhẹ nhõm", Linh Chi nói.
Linh Chi đến với trượt băng nghệ thuật vào năm 8 tuổi, sau một lần thấy các vận động viên biểu diễn trong sân trượt của trung tâm thương mại. Em xin tập thử, rồi được huấn luyện viên khuyến khích theo đuổi chuyên nghiệp. Linh Chi bước vào hành trình khổ luyện, với không ít khó khăn và nhiều lần chấn thương.
Trượt băng nghệ thuật là bộ môn chưa phổ biến ở Việt Nam lúc đó, nên điều kiện tập luyện hạn chế, thiếu huấn luyện viên chuyên sâu. Để có thể thi đấu chuyên nghiệp, Chi phải đi tập huấn ở Nhật Bản, Australia, Thái Lan... Thời gian ở trong nước, em phải học trực tuyến với huấn luyện viên quốc tế.
Những ngày đầu, giữ thăng bằng đã là thử thách. Đứng chông chênh giữa hai lưỡi dao của đôi giày trượt, Chi ngã không ít lần, trầy xước liên tục. Nhưng em chưa từng nói sẽ bỏ trượt băng. Kiên trì qua những cú ngã, Chi dần làm chủ kỹ thuật, biết làm các động tác khó như xoay, nhảy, trình diễn.
Trong 10 năm, Linh Chi giành 8 huy chương vàng tại các giải trượt băng nghệ thuật quốc gia. Năm 2022, em và anh trai Quang Minh là hai trong 5 đại diện của Việt Nam tham dự giải trượt băng nghệ thuật thanh, thiếu niên thế giới 2022 tại Czech, cũng là cặp vận động viên duy nhất của khu vực Đông Nam Á tranh tài ở nội dung đôi nam nữ. Năm 2023, Chi được phong đẳng cấp kiện tướng - dành cho vận động viên đạt thành tích cao tại các giải vô địch quốc gia, quốc tế.
Ngoài trượt băng, Linh Chi còn học múa đương đại, nhảy hiện đại và hội họa. Những hoạt động nghệ thuật, thể thao trở thành chất liệu chính trong hồ sơ du học Mỹ của Chi. Ở bài luận, nữ sinh kể về hành trình theo đuổi các bộ môn này, từ những cú ngã đầu tiên đến khi tìm thấy niềm vui trong việc dạy lại cho trẻ em. Với Chi, giá trị lớn nhất không nằm ở huy chương mà ở việc lan tỏa đam mê.
Từ đó, Chi nhận ra những tháng ngày khổ luyện giúp mình có khả năng cảm thụ thẩm mỹ, giao tiếp và kết nối - những kỹ năng cần thiết trong ngành Quản trị khách sạn - dịch vụ (Hospitality).
"Em thích làm việc với con người, tạo ra trải nghiệm tốt cho họ. Nghệ thuật giúp em hiểu cảm xúc, còn ngành này giúp em biến điều đó thành công việc cụ thể", Chi nói.
Để làm dày hồ sơ, Chi chủ động tìm cơ hội trải nghiệm thực tế. Năm lớp 12, em thực tập hơn một tháng tại một khách sạn 5 sao ở Hà Nội. Mỗi ngày, sau giờ học, Chi làm việc đến cuối chiều tại bộ phận nhân sự, quan sát cách vận hành và quản lý. Trải nghiệm này giúp em hiểu rõ hơn về ngành mình chọn, đồng thời trở thành điểm nhấn thực tế trong hồ sơ.
Ở trường, Chi duy trì điểm trung bình trên 9 và IELTS 7.5. Nữ sinh còn tham gia nghiên cứu về sức khỏe tâm lý học sinh, cùng với phòng tham vấn của trường triển khai dự án hỗ trợ bạn bè. Theo Chi, việc hiểu con người ở nhiều góc độ là nền tảng quan trọng với ngành dịch vụ.
Cô Nguyễn Thị Lệ Anh, giáo viên chủ nhiệm của Linh Chi trong ba năm THPT, ấn tượng về học trò ở sự thông minh, quyết tâm. Có nhiều giai đoạn, Chi phải nghỉ học dài ngày để đi tập huấn, thi đấu nước ngoài, nhưng sau đó, nữ sinh đều chủ động học thêm cùng gia sư, trao đổi với giáo viên để bắt kịp bạn bè. Nhờ vậy, điểm của Chi không bị ảnh hưởng. Em cũng năng nổ trong nhiều hoạt động tâp thể, biết chơi bóng rổ, bóng ném, quan tâm bạn bè và thầy cô.
"Bạn ấy không đi theo một con đường duy nhất, mà phát triển đồng thời nhiều lĩnh vực", cô nói, đánh giá đây là điểm khác biệt giúp Linh Chi tạo được dấu ấn.
Tháng 8 tới, Chi sẽ sang Mỹ để nhập học. Nữ sinh chọn Đại học New York do đây là nơi tập trung nhiều công ty du lịch, khách sạn nổi tiếng - thuận lợi trong quá trình thực tập, làm việc. Chi cũng muốn tiếp tục theo đuổi trượt băng nghệ thuật ở Mỹ, đánh giá sẽ có nhiều điều kiện phát triển hơn.
"Em không coi trượt băng là một phần đã qua, mà là thứ sẽ đi cùng mình lâu dài. Dù học ngành gì, em vẫn muốn giữ nó như một thế mạnh riêng", Chi nói.