Trong văn bản nộp Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) ngày 12/5, VinFast cho biết đang lên kế hoạch tách một số tài sản của Công ty cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast (VFTP), đơn vị trong hệ sinh thái, sang pháp nhân mới. Đồng thời, hãng xe này cũng sẽ thoái vốn toàn bộ khỏi VFTP, bao gồm toàn bộ mảng sản xuất tại Việt Nam sẽ được tách riêng và chuyển giao cho đối tác.
Theo phía VinFast, các hoạt động gây thâm dụng vốn sẽ trở thành nền tảng sản xuất độc lập do bên thứ ba sở hữu và điều hành. Họ sẽ tập trung vào việc phát triển thương hiệu, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, công nghệ.
Ngoài mảng sản xuất, VFTP còn sở hữu cổ phần tại Công ty TNHH VinEG Green Energy Solutions cùng thỏa thuận hợp tác đầu tư và tìm kiếm cơ hội kinh doanh bất động sản. Doanh nghiệp cũng sẽ chịu trách nhiệm với toàn bộ các khoản nợ tài chính hiện hữu với các bên thứ ba, tùy thuộc vào sự chấp thuận của các chủ nợ liên quan.
Bên nhận chuyển nhượng là nhóm nhà đầu tư do Công ty cổ phần Future Investment Research & Development) dẫn dắt. Trong đó, ông Phạm Nhật Vượng, Tổng giám đốc kiêm nhà sáng lập VinFast, cũng tham gia vào bên nhận chuyển giao với vai trò nhà đầu tư thiểu số – tức người sở hữu lượng cổ phần nhỏ tại doanh nghiệp.
Cùng với đó, VinFast sẽ thành lập Công ty cổ phần VinFast Việt Nam (VFVN), quản lý một phần tài sản tách ra từ doanh nghiệp vừa chuyển nhượng. VFVN sẽ sở hữu hoạt động nghiên cứu, phát triển (R&D) trên toàn cầu; mảng dịch vụ hậu mãi, kinh doanh bán hàng; toàn bộ cổ phần của ba công ty gồm: VinFast Commercial & Services Trading LLC, VinFast Engineering Australia Pty Ltd và VinFast Germany GmbH.
Như vậy, VinFast sẽ chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của VFTP, bao gồm mảng sản xuất tại Việt Nam, cho một nhóm nhà đầu tư có sự tham gia của ông Phạm Nhật Vượng. Hãng xe điện này sẽ thành lập thêm một pháp nhân mới, mang tên VFVN, quản lý mảng bán hàng và một số tài sản tách ra từ VFTP.
Việc tái cấu trúc này không có nghĩa VinFast bỏ sản xuất xe mà tái cấu trúc các pháp nhân để giảm thiểu các hoạt động thâm dụng vốn cao. Nói cách khác, VinFast đang tách mảng sản xuất – phần nặng chi phí nhất ra khỏi công ty mẹ, để chuyển sang mô hình “thiết kế – thương hiệu- công nghệ”, giống nhiều hãng trên thế giới.
Sau thương vụ trên, VFVN và VFTP cũng sẽ ký thỏa thuận sản xuất và cung ứng. VFTP sẽ tiếp tục sản xuất các dòng xe mang thương hiệu VinFast tại Việt Nam dựa trên thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu do VFVN cung cấp.
VinFast cũng nhấn mạnh các giao dịch trên không ảnh hưởng đến các công ty con khác ngoài VFTP. Thương vụ cũng không tác động đến hoạt động kinh doanh quốc tế của hãng, bao gồm các cơ sở sản xuất tại Ấn Độ và Indonesia. Việc thoái vốn dự kiến hoàn tất trong quý III.
Năm nay, VinFast đặt mục tiêu bàn giao 300.000 ôtô điện trên toàn cầu và khoảng 1-1,5 triệu xe máy điện, mở rộng thị trường tại Việt Nam, các nước Đông Nam Á (Indonesia, Philippines) và Ấn Độ. Công ty đã dẫn đầu thị phần xe hơi Việt Nam năm 2025, chiếm khoảng 36%.
Năm 2025, hãng xe này ghi nhận doanh thu 90.427 tỷ đồng, tăng 139% so với thực hiện 2024 và cao nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, công ty chịu lỗ ròng hơn 97.000 tỷ đồng. Tính đến ngày 31/12/2025, doanh nghiệp này lỗ lũy kế gần 171.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm hơn 90.000 tỷ đồng.
Từ khi xung đột Trung Đông nổ ra, giá khí đốt hợp đồng tương lai chuẩn Henry Hub tại Louisiana đã giảm 12%, xuống mức thấp nhất 17 tháng là 2,52 USD mỗi mmBTU (triệu đơn vị nhiệt Anh).
Tại mỏ đá phiến hàng đầu thuộc lưu vực Permian, giá giao ngay ở Waha Hub (Tây Texas) có nhiều ngày thậm chí xuống dưới 0, do hệ thống đường ống quá tải, không còn khả năng vận chuyển thêm. Nói cách khác, một số nhà sản xuất phải trả tiền để người khác lấy khí đi, giống như xử lý chất thải.
Giá khí đốt tại Mỹ lao dốc do hệ thống đường ống đã đầy và các nhà máy xuất khẩu khí hóa lỏng (LNG) đã hoạt động hết công suất từ trước khi xung đột Trung Đông bắt đầu cuối tháng 2. Vì vậy, dù giá khí đốt toàn cầu có tăng vọt, Mỹ cũng không thể chuyển đổi thêm khí đốt thành LNG để xuất khẩu.
Gần đây, công ty năng lượng EQT quyết định giảm sản lượng để chờ giá nhích lên vào cuối năm. "Việc này giống như lưu trữ giữ khí đốt trong lòng đất, vào những giai đoạn nhu cầu thấp", Giám đốc tài chính EQT Jeremy Knop, mô tả.
Mỹ là nhà sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu khí đốt lớn nhất thế giới. Năm 2025, sản lượng khí đốt nước này đạt kỷ lục 107,7 tỷ feet khối (tương đương hơn 3 tỷ m3) mỗi ngày. Bộ Năng lượng dự kiến sản lượng tiếp tục mở rộng, nhằm đáp ứng nhu cầu điện của các trung tâm dữ liệu và cung cấp cho các nhà máy xuất khẩu LNG mới.
Sản lượng cũng tăng khi các giếng dầu khai thác nhiều khí hơn theo thời gian. Tuy nhiên, ngành khí đốt cần thêm nhiều tháng để mở rộng năng lực vận chuyển của hệ thống đường ống. "Có thể phải chờ đến cuối năm nay hoặc đầu 2027 để giảm tải đáng kể, khi các dự án đường ống dẫn khí lớn hơn dự kiến đưa vào hoạt động", các nhà phân tích tại Bank of America, nhận định.
Trong khi Mỹ dư thừa, thiếu hụt khiến thị trường châu Âu và châu Á chứng kiến giá khí đốt tăng lần lượt 84% và 105%, lên khoảng 21-22 USD/mmBTU, từ khi diễn ra xung đột Trung Đông làm eo biển Hormuz tắc nghẽn.
Để bù đắp cho các lô hàng khí đốt bị Qatar không giao được, các công ty năng lượng toàn cầu đã mua thêm LNG từ các nhà sản xuất Mỹ như Venture Global - công ty LNG lớn thứ hai nước này sau Cheniere Energy.
Ông Bob Yawger, Giám đốc hợp đồng năng lượng tương lai tại Mizuho, cho biết Venture Global có sẵn các lô LNG giao ngay và chào bán cho bên trả giá cao nhất. "Đột nhiên, mọi người đều cần LNG khi Qatar Energy không còn tham gia thị trường được nữa", ông nói.
Mỹ đang xây thêm nhà máy để mở rộng công suất LNG lên gấp đôi trong 5 năm tới, từ 18 tỷ feet khối mỗi ngày năm 2025 lên khoảng 35 tỷ feet khối mỗi ngày vào 2030, tương tương từ 500 triệu lên 1 tỷ mét khối mỗi ngày.
Ngày 30/6, Trưởng đoàn đàm phán Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cho biết nước này đã xuất khẩu hơn 40 triệu thùng dầu thô trong 2 tuần, kể từ khi Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa với các cảng biển. Dầu thô Iran hiện cũng được bán với giá cao hơn khoảng 20% so với trước chiến sự.
"Kể từ ngày lệnh phong tỏa được dỡ bỏ, chúng tôi đã xuất khẩu hơn 40 triệu thùng dầu", Ghalibaf nói trong cuộc phỏng vấn đăng trên kênh Telegram của mình. Ông cho biết Iran đã không thể bán ra ngoài thùng dầu nào trong khoảng hai tháng bị phong tỏa.
Trong khi đó, hãng theo dõi tàu dầu TankerTrackers.com ngày 1/7 ước tính Iran đã xuất khẩu khoảng 50 triệu thùng dầu thô trong 2 tuần qua. Công ty sử dụng hình ảnh vệ tinh, ảnh chụp từ bờ biển và hệ thống nhận dạng tự động (AIS) theo thời gian thực để theo dõi hoạt động của tàu.
Giá dầu Brent hiện giao dịch quanh 73 USD một thùng, giảm gần 40% so với đỉnh hồi tháng 4, nhờ kỳ vọng nguồn cung từ vùng Vịnh phục hồi. Gregory Brew - nhà phân tích tại Eurasia Group cho biết trước chiến sự, dầu thô Iran thường được bán thấp hơn Brent khoảng 10-15 USD một thùng để bù đắp rủi ro do các lệnh trừng phạt.
Trước chiến sự, hãng dữ liệu Kpler cho biết xuất khẩu dầu thô và khí ngưng tụ của Iran trong tháng 2 đạt 2,2 triệu thùng một ngày. Quốc gia vùng Vịnh này cũng là nước sản xuất dầu thô lớn thứ 3 trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC)
Ngày 17/6, Mỹ và Iran ký biên bản ghi nhớ chấm dứt gần 4 tháng chiến sự, đồng thời mở cửa lại eo biển Hormuz và tiếp tục quá trình đàm phán 60 ngày để tiến tới thỏa thuận hòa bình lâu dài. Theo biên bản, Iran đồng ý cho phép tàu thuyền đi qua Hormuz mà không thu phí trong 60 ngày, nhưng khẳng định vẫn giữ quyền kiểm soát tuyến đường thủy này.
"Chủ quyền với eo biển Hormuz thuộc về Iran và Oman. Hoạt động lưu thông tại eo biển phải tuân theo các quy định do Iran đặt ra", ông Ghalibaf khẳng định.
Hiện vẫn chưa rõ eo biển Hormuz sẽ được quản lý thế nào sau khi thời hạn 60 ngày kết thúc. Thời gian qua, các tàu di chuyển qua eo biển theo hành lang phía nam dọc bờ biển Oman hoặc qua các tuyến phía bắc do Iran kiểm soát.
"Chúng tôi sẽ không gia hạn giấy phép với dầu Nga", Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết trong một cuộc họp báo tại Washington ngày 15/4. Ông khẳng định không có kế hoạch gia hạn chính sách miễn trừ tạm thời nhằm cho phép các nước mua dầu Nga trên biển.
Thông báo này được đưa ra một ngày sau khi Bộ Tài chính Mỹ cho biết không gia hạn chính sách tương tự với dầu Iran.
Ngày 12/3, trong một bài đăng trên X, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết họ "tạm thời cho phép các nước mua dầu Nga mắc kẹt trên biển" trong 30 ngày. Ông khẳng định biện pháp "ngắn hạn, quy mô hẹp" này chỉ áp dụng với số dầu đang trong quá trình vận chuyển và "không mang lại lợi ích tài chính lớn cho chính phủ Nga".
Một tuần sau, họ tiếp tục tạm dỡ lệnh trừng phạt với những thùng dầu Iran đã được chất lên tàu trước ngày 20/3, có hiệu lực đến 19/4. Cả hai chính sách này đều nhằm xoa dịu cú sốc nguồn cung do chiến sự tại Trung Đông gây ra.
Việc Mỹ và Israel tập kích Iran cuối tháng 2 khiến Tehran đáp trả bằng cách gần như phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến đường thủy chuyên chở khoảng 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu. Nguồn cung đột ngột bị thắt chặt đã đẩy giá lên cao, khiến dầu thô có thời điểm tiến sát 120 USD một thùng - cao nhất 4 năm. Hiện tại, giá về quanh 90 USD, khi nhà đầu tư kỳ vọng vào cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran.
Hôm 7/4, Điện Kremlin cho biết có rất nhiều đối tác ngỏ ý muốn mua dầu Nga. Dựa trên các số liệu thống kê chính thức và nguồn tin trong ngành, Reuters tính toán doanh thu dầu khí tháng 4 của Nga tăng gấp đôi so với tháng 3, từ 327 tỷ ruble lên 700 tỷ ruble (9 tỷ USD).
Dầu Nga bị phương Tây trừng phạt từ năm 2022, sau khi chiến sự tại Ukraine nổ ra. Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và các nước G7 đã cấm nhập khẩu dầu thô và nhiều sản phẩm dầu từ Moskva, đồng thời áp dụng trần giá nhằm hạn chế nguồn thu của nước này từ xuất khẩu năng lượng. Theo đó, các hãng bảo hiểm, vận tải phương Tây chỉ được cung cấp dịch vụ cho dầu Nga nếu giá bán dưới 48 USD. Các tàu chở dầu bị nghi giúp Moskva lách lệnh trừng phạt cũng bị đưa vào danh sách đen.