Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Yuanta) vừa công bố báo cáo nhận định về diễn biến và xu hướng của VN-Index.
Theo Yuanta, VN-Index đang bước vào giai đoạn tăng điểm mang tính tập trung cao, khi chỉ số liên tiếp lập đỉnh lịch sử nhưng phần lớn cổ phiếu trên thị trường vẫn chưa thực sự hưởng lợi.
VN-Index tăng 3,3% trong tuần qua, đóng cửa ở mức 1.915 điểm, cao hơn khoảng 1% so với mục tiêu cả năm mà công ty chứng khoán này đưa ra trước đó. Tuy nhiên đà tăng chủ yếu đến từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, đặc biệt là VIC và VHM khi hai mã này đóng góp tới 59% mức tăng của chỉ số trong tuần.
Trong khi VN-Index thăng hoa, độ rộng thị trường lại cho thấy bức tranh kém tích cực hơn. Toàn sàn HoSE ghi nhận 136 mã tăng nhưng có tới 240 mã giảm giá. Đồng thời HNX-Index và UPCoM-Index đều giảm nhẹ, còn thanh khoản thị trường vẫn duy trì ở mức thấp dù đã cải thiện so với tuần trước.
Yuanta cho rằng diễn biến này phản ánh việc dòng tiền chưa thực sự lan tỏa và thị trường hiện chưa được dẫn dắt bởi nhà đầu tư cá nhân. Theo báo cáo, nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn tỏ ra thận trọng trước mức định giá hiện tại, cũng như việc đà tăng đang tập trung vào một số ít cổ phiếu trụ.
Khối ngoại tiếp tục bán ròng khoảng 126 triệu USD trong tuần qua, nâng tổng giá trị bán ròng từ đầu năm lên khoảng 1,9 tỉ USD.
Ở nhóm ngân hàng, Yuanta đánh giá lợi nhuận quý 1-2026 vẫn duy trì tăng trưởng, với lợi nhuận sau thuế toàn ngành tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên áp lực thanh khoản bắt đầu xuất hiện khi tăng trưởng tín dụng đạt 3,6% trong quý 1 nhưng tiền gửi khách hàng chỉ tăng 0,6%.
Đồng thời tỉ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 2%, trong khi tỉ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 79%. Yuanta cho biết lãi suất liên ngân hàng tiếp tục tăng mạnh trong tuần đầu tháng 5, phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống tài chính.
Cụ thể lãi suất qua đêm đã tăng lên 6,18% vào ngày 6-5, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước phải bơm ròng khoảng 11.000 tỉ đồng qua kênh thị trường mở nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Dù vậy, Yuanta vẫn cho rằng định giá thị trường chứng khoán Việt Nam chưa ở mức quá cao nếu xét theo triển vọng tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp. Theo báo cáo, P/E dự phóng năm 2026 của VN-Index hiện ở mức khoảng 13,5 lần, thấp hơn nhiều thị trường trong khu vực.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo bảng xếp hạng tỷ phú theo thời gian thực của Forbes, tính đến ngày 5/4, ông Phạm Nhật Vượng sở hữu khối tài sản 24,5 tỷ USD, xếp thứ 100 trên thế giới về độ giàu có. Như vậy, tỷ phú này đã vượt ông Prajogo Pangestu, người Indonesia, nhà sáng lập tập đoàn Barito Pacific, để trở thành người giàu nhất Đông Nam Á.
Tại thời điểm cuối năm 2025, ông Phạm Nhật Vượng chỉ xếp thứ hai trong số những người giàu nhất Đông Nam Á, dưới ông Prajogo Pangestu. Tuy nhiên, sau 3 tháng, tài sản của tỷ phú người Indonesia đã đi xuống, từ hơn 44 tỷ USD về còn 18,6 tỷ USD, tính đến ngày 5/4. Nguyên nhân chủ yếu do cổ phiếu của tập đoàn Barito Pacific giảm khoảng 60% tính từ đầu năm.
Forbes thống kê tài sản của cá nhân dựa vào số lượng và giá cổ phiếu người này nắm giữ tại một thời điểm nhất định. Ngoài ra, họ cũng đánh giá nhiều tài sản khác của các tỷ phú khi xếp hạng, gồm sở hữu tại các công ty riêng, bất động sản, tác phẩm nghệ thuật, du thuyền...
Tính từ đầu năm, tài sản của tỷ phú Phạm Nhật Vượng cũng đã giảm gần 4 tỷ USD, chủ yếu do cổ phiếu VIC của Vingroup đi xuống. Hiện doanh nhân này cùng gia đình nắm quyền chi phối tại Vingroup, với tổng sở hữu khoảng 65%. Cá nhân ông sở hữu trực tiếp 389,9 triệu cổ phiếu VIC, tương đương 10,05% vốn.
Chủ tịch Vingroup được tạp chí danh tiếng của Mỹ vinh danh là tỷ phú Việt Nam đầu tiên vào 2013. Khi đó, tỷ phú này sở hữu 1,5 tỷ USD và đứng thứ 974 thế giới. Như vậy sau 12 năm, tài sản của tỷ phú Phạm Nhật Vượng đã tăng hơn 16 lần.
Gia đình ông Phạm Nhật Vượng còn hai tỷ phú khác, gồm bà Phạm Thu Hương và bà Phạm Thúy Hằng. Hai nữ doanh nhân này chính thức có mặt trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes vào tháng 3 năm nay.
Bà Phạm Thu Hương là vợ ông Phạm Nhật Vượng, sở hữu khối tài sản 1,5 tỷ USD. Nữ doanh nhân sinh năm 1969, có bằng Thạc sĩ Luật Quốc tế tại Ukraine. Bà hiện giữ vị trí Phó chủ tịch Vingroup, đồng thời là Chủ tịch Công ty GSM - đơn vị vận hành hãng taxi và gọi xe Xanh SM.
Trong khi đó, bà Phạm Thúy Hằng là em gái bà Hương. Bà sinh năm 1974, tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ Nga, Đại học Hà Nội (trước đây là Đại học Ngoại ngữ Hà Nội). Bà cũng đang là Phó chủ tịch của Vingroup, sở hữu khối tài sản 1,5 tỷ USD.
Năm nay, Vingroup đặt mục tiêu doanh thu đạt 450.000 tỷ đồng, tăng khoảng 36% so với cùng kỳ năm trước. Doanh nghiệp này dự kiến lãi sau thuế 25.000 tỷ đồng, gấp 2,2 lần năm 2025, cao nhất từ trước đến nay.
Trọng Hiếu
Nguồn: https://vnexpress.net/ty-phu-pham-nhat-vuong-giau-nhat-dong-nam-a-5058650.html

Hôm 28/4, thị trường thế giới bất ngờ trước thông báo của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) về việc sẽ rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từ ngày 1/5.
Bộ trưởng Năng lượng Suhail Al Mazrouei cho biết quyết định đưa ra sau quá trình rà soát toàn diện chính sách sản xuất cũng như năng lực hiện tại và tương lai của đất nước, giúp UAE linh hoạt hơn trong ứng phó với biến động thị trường.
Các nguồn tin và giới phân tích cho biết, quyết định của UAE đã được cân nhắc trong thời gian dài, sau nhiều khác biệt về đường hướng của OPEC và quan hệ kinh tế, chính trị với các nước thành viên trong liên minh này.
Ông William F. Wechsler, Giám đốc cấp cao phụ trách các chương trình Trung Đông tại Atlantic Council (Wasington DC, Mỹ) kể lại hôm 28/4, một quan chức cấp cao Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã bình luận với ông về động thái rằng: "Đó là điều được chờ đợi từ lâu".
Chuyên gia cho biết ý định rời OPEC đã được thảo luận kín nhiều năm, cả trong nội bộ UAE cũng như giữa các quan chức UAE và Mỹ. Ông William từng là Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các hoạt động đặc biệt và chống khủng bố.
"Từ góc nhìn của Abu Dhabi, lợi ích quốc gia của họ đã khác biệt và có khả năng ngày càng xung đột với các thành viên khác của OPEC và OPEC+, trong đó đáng chú ý có Nga", ông bình luận.
Ông Kristian Coates Ulrichsen, nghiên cứu viên về Trung Đông tại Viện Baker, Đại học Rice (Texas, Mỹ) nhận định UAE đã phát tín hiệu về khả năng rời OPEC ít nhất 5 năm trước, khi bày tỏ quan điểm khác biệt Arab Saudi về cách điều hành chính sách dầu mỏ trước thềm hội nghị OPEC+ vào tháng 11/2020.
Rạn nứt trở nên rõ ràng tại cuộc họp của OPEC+ vào tháng 7/2021. Trong cả hai dịp, UAE muốn tăng sản lượng dầu - vốn đã bị OPEC cắt giảm mạnh trong đại dịch, nhưng Arab Saudi lại muốn giữ sản lượng thấp để neo giá cao.
Theo chuyên gia, một phần nguyên nhân nằm ở hoàn cảnh kinh tế khác nhau của hai nước. Arab Saudi phụ thuộc vào giá dầu cao để tạo nguồn thu ngân sách lớn phục vụ các dự án hạ tầng khổng lồ như chương trình Vision 2030. Trong khi, nền kinh tế UAE đa dạng hơn và ít phụ thuộc trực tiếp vào doanh thu dầu mỏ.
"Ở góc độ kinh tế, tăng trưởng của các quỹ đầu tư nhà nước UAE trong những năm gần đây phụ thuộc vào diễn biến kinh tế toàn cầu nhiều hơn là với giá dầu", ông William F. Wechsler, nêu ví dụ. Do đó, một số thành viên OPEC ưu tiên giá dầu cao còn UAE quan tâm nhiều hơn đến các rủi ro đối với kinh tế toàn cầu, vốn là yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận đầu tư của họ.
Về dài hạn, UAE muốn khai thác tối đa trữ lượng dầu mỏ trước khi nhu cầu đạt đỉnh và bắt đầu suy giảm do quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, Abu Dhabi tung ra gói đầu tư đến 150 tỷ USD, bao gồm mục tiêu mở rộng công suất sản xuất dầu từ mức 3,4 triệu thùng lên 5 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2027 và có thể cao hơn sau đó.
"Điều này phản ánh mong muốn khai thác tối đa trữ lượng và đưa dầu ra thị trường, tránh nguy cơ tài sản bị 'mắc kẹt' nếu nhu cầu toàn cầu giảm trong quá trình chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch", ông Kristian Coates Ulrichsen, nêu.
Nếu vẫn ở trong OPEC, UAE không thể tùy ý sản xuất thêm. Họ đang bị áp hạn hạch 3,2 triệu thùng mỗi ngày. "Trong nhiều năm, Abu Dhabi đã tìm cách thu lợi từ khoản đầu tư vào việc mở rộng năng lực sản xuất", Helima Croft, chuyên gia tại RBC Capital Markets, cho biết.
Theo ông Jorge Leon, Trưởng bộ phận phân tích địa chính trị của Rystad Energy, khi nhu cầu dầu đang tiến gần đến đỉnh, bài toán của các nhà sản xuất đang thay đổi rất nhanh. "Và việc chờ đến lượt trong một hệ thống hạn ngạch giống như bỏ lỡ cơ hội kiếm tiền", ông nói.
Ngoài ra, độc lập chính sách có thể mang lại lợi ích gián tiếp cho quan hệ với các đối tác quan trọng của UAE như Trung Quốc, ngay cả khi có nguy cơ làm giảm giá dầu toàn cầu ở mức độ nào đó. "Với nhu cầu kinh tế ngắn hạn, triển vọng tối đa hóa doanh thu năng lượng của UAE rõ ràng rất hấp dẫn", ông William nói.
Ngoài động lực kinh tế, quan hệ địa chính trị ở Vùng Vịnh cũng khiến UAE không còn mặn mà với OPEC. Dù vẫn đầu tư lớn vào nhau, khác biệt giữa UAE và nhà lãnh đạo OPEC là Arab Saudi ngày càng lớn.
Hai quốc gia từng hợp tác chống lại lực lượng phiến quân Houthi ở Yemen năm 2015. Nhưng liên minh đã rạn nứt và chuyển sang đổ lỗi nhau vào cuối tháng 12/2025, khi Arab Saudi ném bom một lô hàng mà họ cho là vũ khí vận chuyển tới Hội đồng Chuyển tiếp Miền Nam tại Yemen (STC) do UAE hậu thuẫn. Sự việc dẫn đến tranh cãi công khai, lan sang cả các chính sách khác biệt về Sudan.
Rạn nứt vẫn chưa được giải quyết thì xung đột Trung Đông nổ ra. Lần này, Iran nhắm mục tiêu vào UAE nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, kể cả Israel. Abu Dhabi chỉ trích phản ứng "yếu kém" của các đối tác vùng Vịnh. Và việc Iran - thành viên OPEC - chặn các tàu dầu qua eo biển Hormuz và yêu cầu thu phí đã dập tắt những luyến tiếc ở lại OPEC của UAE.
Ông Kristian Coates Ulrichsen đánh giá các phát biểu của những nhân vật có ảnh hưởng tại UAE cho thấy giới chức nước này theo dõi sát sao quốc gia nào đã hỗ trợ họ trong thời điểm khủng hoảng và quốc gia nào thì không.
"Quyết định rời OPEC phản ánh tính toán của Abu Dhabi rằng việc tiếp tục ở lại một tổ chức do Saudi chi phối không còn mang lại lợi ích", ông nói. Thậm chí, chuyên gia này dự báo UAE có khả năng xem xét lại các tư cách thành viên trong Liên đoàn Arab, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo hay cả Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh, khi các nước Trung Đông chuẩn bị cho một bối cảnh hậu chiến đầy bất định.
Ông William F. Wechsler dự báo UAE có khả năng sẽ củng cố hơn nữa mối quan hệ với Mỹ sau thời điểm 1/5. Nhưng trớ trêu, theo thời gian, động thái này cũng có thể củng cố quan hệ Mỹ-Arab Saudi, vì Riyadh sẽ gánh vác trách nhiệm lớn hơn trong việc ổn định giá dầu toàn cầu tại OPEC.
Tin Gốc: Vnexpress

Trong bối cảnh nhiều lô hàng bị siết chặt kiểm tra khi xuất khẩu sang Trung Quốc, đề xuất xây dựng “phác đồ điều trị” cho đất trồng sầu riêng đang được xem là hướng đi đáng chú ý nhằm xử lý tận gốc bài toán tồn dư kim loại nặng.
Xây dựng phòng thí nghiệm để kiểm tra chất lượng đất trồng
Nhận định về vấn đề sầu riêng tại Đồng Tháp gặp khó đầu ra vì vướng kiểm nghiệm những ngày qua, ông Nguyễn Phước Thiện - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - thừa nhận, tồn dư cadimi trong sầu riêng thực chất là hệ quả của quá trình canh tác kéo dài nhiều năm khiến đất bị ô nhiễm.
Vấn đề này chỉ thực sự “nóng lên” khi Trung Quốc áp dụng ngưỡng kiểm soát nghiêm ngặt đối với trái cây nhập khẩu vào thị trường này, không vượt quá 0,05 mg/kg. Điều này tạo áp lực lớn lên cả doanh nghiệp lẫn người sản xuất khi phải kiểm soát chất lượng từ đất trồng đến thành phẩm.
Để cải thiện vấn đề này, ông Thiện cho biết, Đồng Tháp đang triển khai rà soát, siết chặt quản lý mã số vùng trồng và kiên quyết xử lý những vùng không tuân thủ quy định.
Đặc biệt, địa phương này cũng xây dựng đề án cải tạo đất lâu dài, tham khảo mô hình Hàn Quốc với hệ thống phân tích mẫu đất định kỳ nhằm đưa ra “phác đồ” cải tạo phù hợp cho từng khu vực canh tác.
Theo lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp, bên cạnh việc cải tạo đất, cần cải tiến cơ chế quản lý mã số vùng trồng theo hướng số hóa, tách bạch từng lô hàng để phân định rõ vùng nhiễm và vùng an toàn.
Tại hội nghị Thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng năm 2026 tổ chức cuối tuần qua, Thứ trưởng Bộ NN&MT Võ Văn Hưng cũng nhìn nhận, nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhiễm cadimi chủ yếu đến từ tồn dư trong đất chứ không phải do người dân cố tình đưa vào trong quá trình sản xuất.
Theo ông Hưng, để xử lý tận gốc vấn đề cần triển khai các nghiên cứu về cải tạo đất, hướng dẫn nông dân thay đổi biện pháp canh tác, thực hiện luân canh cây trồng và kiểm soát chặt vật tư đầu vào.
Trong ngắn hạn, Bộ đã đề nghị các địa phương chỉ đạo các đơn vị kiểm định không được từ chối yêu cầu của doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý mới nhằm tránh ùn tắc hàng hóa do chờ kiểm nghiệm. Về lâu dài, bài toán lớn hơn vẫn là phục hồi chất lượng đất canh tác để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Hàn Quốc phục hồi đất nông nghiệp bằng cách nào?
Trao đổi với Dân trí, TS Nguyễn Đăng Nghĩa - nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn Nông nghiệp nhiệt đới - cho rằng, cuộc khủng hoảng hiện nay phản ánh hệ quả của quá trình phát triển thiếu kiểm soát kéo dài nhiều năm của ngành sầu riêng.
Ông cho rằng việc quản lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam vẫn còn lỏng lẻo, cadimi không chỉ tồn tại tự nhiên trong đất mà còn xuất hiện trong nhiều loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Tại khu vực ĐBSCL, nông dân từng sử dụng phổ biến một số loại phân DAP nhập khẩu có hàm lượng cadimi cao. Kết hợp với tình trạng xâm nhập mặn cuối mùa khô và việc bón lân kéo dài, cadimi trong đất dễ bị giải phóng và hấp thụ vào cây trồng.
Theo vị chuyên gia này, cải tạo đất thực tế không phải vấn đề quá khó về mặt kỹ thuật và cũng từng được nhiều đơn vị trong nước tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức.
Theo TS Nguyễn Đăng Nghĩa, một trong những giải pháp có thể áp dụng là sử dụng biochar - vật liệu giàu carbon được tạo ra từ quá trình nhiệt phân sinh khối trong môi trường hạn chế oxy.
Khi đưa vào đất, biochar hoạt động như một “bẫy” giữ kim loại nặng, giúp ổn định độ pH, cải thiện độ tơi xốp và nâng cao năng suất cây trồng mà vẫn đảm bảo được các tiêu chí về dư lượng kim loại nặng tồn dư trên sản phẩm.
Ngoài ra, TS Nghĩa cho biết, đã có một số mô hình áp dụng thành công như sử dụng biochar và phân bón chọn lọc không có cadimi của một vài công ty. Các mô hình này cũng đang được nhân rộng, giúp cải tạo đất cho bà con trồng sầu riêng tại vùng ĐBSCL.
Riêng với các mô hình cải tạo đất tại Hàn Quốc, TS Nguyễn Đăng Nghĩa cho rằng, hoạt động cải tạo đất của xứ sở kim chi không xa lạ với nông nghiệp Việt Nam.
Theo đó, khác với cách tiếp cận mở rộng diện tích sản xuất, Hàn Quốc tập trung vào nâng cao chất lượng đất nhằm gia tăng giá trị nông sản. Đây là lựa chọn mang tính chiến lược trong bối cảnh quốc gia này có quỹ đất nông nghiệp hạn chế và chịu áp lực đô thị hóa kéo dài.
Một trong những ưu tiên lớn nhất của Hàn Quốc là phục hồi độ màu mỡ tự nhiên của đất sau nhiều năm lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Nước này chuyển mạnh sang sử dụng phân hữu cơ, phân compost và các chế phẩm vi sinh nhằm tăng hàm lượng hữu cơ và cải thiện hệ vi sinh vật có lợi trong đất.
Điểm nổi bật trong mô hình của Hàn Quốc là việc ứng dụng công nghệ vào quản lý chất lượng đất. Thay vì canh tác chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nhiều nông hộ được hỗ trợ phân tích đất định kỳ để xác định hàm lượng dinh dưỡng, độ pH, lượng hữu cơ cũng như nguy cơ tồn dư hóa chất.
Từ kết quả phân tích này, cơ quan chuyên môn sẽ đưa ra khuyến nghị cụ thể về loại phân bón, lượng dinh dưỡng cần bổ sung và phương thức canh tác phù hợp cho từng khu vực. Đây được xem là mô hình “khám bệnh cho đất” trước khi đưa ra “phác đồ điều trị”, cách tiếp cận mà một số địa phương tại Việt Nam đang bắt đầu nghiên cứu áp dụng với cây sầu riêng.
Theo giới chuyên môn, điều làm nên khác biệt trong chính sách cải tạo đất của Hàn Quốc là tư duy dài hạn. Chính phủ nước này xem sức khỏe đất nông nghiệp là yếu tố gắn liền với an ninh lương thực quốc gia, vì vậy các chương trình hỗ trợ cải tạo đất, sản xuất hữu cơ và đào tạo kỹ thuật được triển khai liên tục trong nhiều năm.
Tin Gốc: Dân Trí

