Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, HOSE: VCG) ghi nhận kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều tín hiệu cải thiện so với cùng kỳ năm trước, trong bối cảnh hoạt động xây lắp và bất động sản cùng khởi sắc.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất, doanh thu thuần trong kỳ đạt 3.424 tỷ đồng, tăng gần 32% so với quý I/2025.
Trong đó, mảng xây lắp tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi đóng góp khoảng 2.345 tỷ đồng, tăng gần 18%. Đáng chú ý, doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản tăng mạnh, đạt khoảng 436,5 tỷ đồng, cao gấp hơn 5 lần cùng kỳ.
Lợi nhuận gộp của doanh nghiệp đạt 432 tỷ đồng, tăng 36%, với biên lợi nhuận gộp cải thiện nhẹ lên khoảng 12,6%.
Bên cạnh hoạt động kinh doanh cốt lõi, doanh thu tài chính trong quý cũng tăng đột biến, đạt 234 tỷ đồng, gấp khoảng 5 lần so với cùng kỳ, chủ yếu đến từ lãi tiền gửi, cho vay và các khoản lãi trả chậm.
Ở chiều chi phí, áp lực tài chính gia tăng khi chi phí lãi vay tăng mạnh, kéo tổng chi phí tài chính lên gần 126 tỷ đồng.
Tuy vậy, nhờ sự đóng góp đáng kể từ nguồn thu tài chính và việc kiểm soát chi phí, Vinaconex vẫn ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 368,5 tỷ đồng, tăng hơn 143% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 353 tỷ đồng.
Trong năm 2026, Vinaconex đặt kế hoạch kinh doanh thận trọng với mục tiêu doanh thu khoảng 15.400 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 1.037 tỷ đồng, lần lượt giảm 22% và 73% so với thực hiện năm trước.
Doanh nghiệp cho biết hoạt động xây lắp đang chịu áp lực từ chi phí đầu vào tăng cao và cạnh tranh gay gắt về giá thầu, trong khi thị trường bất động sản dù có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa đồng đều giữa các phân khúc.
Với kết quả đạt được trong quý đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 24% kế hoạch doanh thu và trên 35% mục tiêu lợi nhuận cả năm.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của Vinaconex đạt khoảng 30.468 tỷ đồng, giảm nhẹ so với đầu năm.
Cơ cấu tài sản cho thấy doanh nghiệp duy trì tỷ trọng lớn ở tài sản ngắn hạn, trong đó tiền và các khoản tương đương tiền cùng đầu tư tài chính ngắn hạn lên tới hơn 10.000 tỷ đồng, tương đương gần 1/3 tổng tài sản, phản ánh khả năng thanh khoản ở mức cao.
Các khoản phải thu ngắn hạn tăng lên hơn 6.800 tỷ đồng, trong khi hàng tồn kho giảm nhẹ xuống còn khoảng 5.517 tỷ đồng, chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại các dự án.
Một số dự án lớn như Kim Văn – Kim Lũ hay Khu công nghệ cao Hòa Lạc tiếp tục ghi nhận giá trị đầu tư đáng kể.
Ở phía nguồn vốn, tổng nợ phải trả ghi nhận 17.617 tỷ đồng, giảm so với đầu năm. Dư nợ vay tài chính ở mức khoảng 7.086 tỷ đồng, tương ứng tỉ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu ở mức 0,55 lần, được đánh giá là tương đối an toàn trong ngành xây dựng và bất động sản.
Theo đó, Nghị định 141 sửa đổi chính sách thuế và quản lý thuế đối với HKD, CNKD từ 500 triệu đồng thành 1 tỉ đồng. Đối với sử dụng hóa đơn điện tử, HKD, CNKD có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Trường hợp HKD, CNKD có nhiều địa điểm kinh doanh thì sử dụng mã số thuế của HKD, CNKD cho tất cả các cửa hàng và phải ghi rõ mã địa điểm kinh doanh trên hóa đơn.
Trường hợp HKD, CNKD có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống đáp ứng điều kiện và có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử thì đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
HKD, CNKD mới ra kinh doanh hoặc HKD, CNKD có doanh thu năm trước chưa trên 1 tỉ đông (trừ trường hợp đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử) nhưng trong năm tính thuế có doanh thu trên 1 tỉ đồng trở lên thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. HKD, CNKD đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trong thời gian 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế có doanh thu lũy kế trên 1 tỉ đồng.
Nghị định 141 còn bổ sung thêm quy định thu nhập miễn thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức có tổng doanh thu năm từ 1 tỉ đông trở xuống. Quy định miễn thuế tại khoản này không áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập là công ty con hoặc công ty có quan hệ liên kết mà doanh nghiệp trong quan hệ liên kết không phải là doanh nghiệp đáp ứng điều kiện miễn thuế quy định tại khoản này.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1.1.2026. Trường hợp HKD, CNKD tự xác định mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuât, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 1 tỉ đồng trở xuống mà đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định số 68/2026 thì được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 68/2026. Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 1/2026 mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định tại điều 2 Nghị định này thì không phải tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp các quý tiếp theo, được bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa…
Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định việc chào bán trái phiếu ra công chúng đối với doanh nghiệp dự án PPP (đối tác công tư), với mục tiêu tạo thêm kênh huy động vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng lớn nhưng vẫn kiểm soát chặt rủi ro cho nhà đầu tư.
Theo dự thảo, trái phiếu do doanh nghiệp dự án PPP phát hành ra công chúng phải là trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và bắt buộc có bảo đảm thanh toán. Trường hợp doanh nghiệp chưa đủ điều kiện vận hành, khai thác công trình, trái phiếu phải được bảo lãnh thanh toán toàn bộ gốc và lãi bởi ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc đơn vị bảo lãnh đủ điều kiện.
Dự thảo cũng yêu cầu trái phiếu hoặc tổ chức bảo lãnh thanh toán phải được xếp hạng tín nhiệm bởi tổ chức độc lập, trừ một số trường hợp đặc biệt có bảo lãnh thanh toán toàn phần.
Một điểm đáng chú ý là doanh nghiệp dự án PPP sẽ không bị ràng buộc điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu hay yêu cầu có lãi như doanh nghiệp thông thường. Bộ Tài chính cho rằng mô hình PPP có đặc thù riêng khi được thành lập chỉ để triển khai một dự án cụ thể, thời gian đầu tư kéo dài và cần lượng vốn lớn ngay từ đầu.
Tuy nhiên, để được phát hành trái phiếu ra công chúng, doanh nghiệp phải có hợp đồng dự án PPP đã ký đúng quy định pháp luật, đồng thời đảm bảo tổng mức huy động vốn không vượt quá giới hạn vay vốn trong hợp đồng dự án PPP.
Dự thảo cũng quy định khá chặt về tài sản bảo đảm. Với các dự án đã đủ điều kiện vận hành, doanh nghiệp có thể dùng tài sản, quyền sử dụng đất hoặc quyền kinh doanh công trình hạ tầng để bảo đảm cho trái phiếu. Các tài sản này phải được thẩm định giá và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.
Nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu chỉ được dùng cho dự án PPP hoặc cơ cấu lại nợ của chính doanh nghiệp dự án PPP. Trong thời gian chưa giải ngân, doanh nghiệp chỉ được gửi ngân hàng hoặc đầu tư vào các tài sản an toàn như trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi.
Để bảo vệ nhà đầu tư, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phát hành không được chia cổ tức hoặc phân phối lợi nhuận nếu chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn. Đồng thời, tiền phục vụ thanh toán trái phiếu phải được quản lý tách biệt với các dòng tiền khác.
Một nội dung khác được siết chặt là công bố thông tin. Doanh nghiệp PPP sẽ phải định kỳ công bố tiến độ triển khai dự án, kết quả xếp hạng tín nhiệm cũng như các sự kiện có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ trái phiếu.
Các thông tin bất thường liên quan đến tài sản bảo đảm hoặc dòng tiền dự án phải được công bố trong vòng 24 giờ.
Theo dữ liệu công bố, lượng tiền gửi dân cư tại các tổ chức tín dụng tháng 1 đạt 10,381 triệu tỉ đồng, tăng 0,45% so với cuối năm trước. Các tổ chức tín dụng đã thu hút 46.000 tỉ đồng từ dân cư. Đây là tháng thứ 5 lượng tiền gửi dân cư tăng lên. Mức tăng của tháng 1 đã chậm lại nhiều so với tháng 12.2025.
Trong khi đó, lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế tháng 1 lại sụt giảm mạnh 1,62%, xuống 6,08 triệu tỉ đồng. Lượng tiền gửi của khối tổ chức kinh tế sụt giảm 100.000 tỉ đồng so với tháng trước đó. Như vậy chỉ sau 2 tháng tăng, lượng tiền gửi của khối tổ chức kinh tế sụt giảm trở lại. Từ mức 8,35 triệu tỉ đồng của tháng 9.2025 xuống 5,714 tỉ đồng vào tháng 10, lượng tiền gửi của các doanh nghiệp hồi phục lên 6,18 triệu tỉ đồng vào tháng 12.2025.
Dù vậy, tổng phương tiện thanh toán (loại các khoản phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng) tăng 0,69%, lên 19,578 triệu tỉ đồng. Đây là tháng thứ 4 liên tiếp tổng phương tiện thanh toán tăng nhưng vẫn chưa quay lại được mức cao đạt được của tháng 9.2025 ở 19,98 triệu tỉ đồng.
Trong tháng 1, nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động, trong đó có cả các ngân hàng thương mại nhà nước. Xu hướng lãi suất tăng kéo dài từ tháng 10.2025 qua đến năm 2026. Các mức lãi suất 7%/năm xuất hiện nhiều hơn ở các nhà băng. Điểm đáng lưu ý trên thị trường tháng 1 là giá vàng tăng khá mạnh 19 triệu đồng/lượng, lên đỉnh 192,9 triệu đồng/lượng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến lượng tiền gửi giảm.