Tại kỳ quay số mở thưởng thứ 1.350 hôm nay, Công ty Xổ số Điện toán Việt Nam (Vietlott) xác định được một khách hàng trúng Jackpot 1 trị giá hơn 83,3 tỷ đồng. Vé trúng thưởng có dãy 01-14-15-19-23-34.
Đồng thời, 2 khách hàng cũng cùng trúng Jackpot 2, mỗi giải trị giá hơn 2,97 tỷ đồng. Vietlott cho biết sau rà soát sẽ công bố kênh phát hành vé trúng thưởng cho 3 khách hàng may mắn này.
Sau khi nộp thuế thu nhập cá nhân, chủ nhân giải Jackpot 1 có thể nhận về gần 75 tỷ đồng. Mỗi khách trúng Jackpot 2 thực nhận 2,67 tỷ đồng.
Giải Jackpot cao nhất được ghi nhận đến nay trị giá gần 345 tỷ đồng.
Bên cạnh các giải thưởng này, hôm nay Vietlott cũng tìm được 32 khách trúng giải nhất (40 triệu đồng), 1.414 giải nhì (500.000 đồng) và hơn 25.900 giải ba (50.000 đồng).
Đến nay, hệ thống phân phối của Vietlott có hơn 6.620 thiết bị đầu cuối để bán vé trực tiếp và hơn 3 triệu tài khoản đăng ký dự thưởng qua điện thoại. Sau khoảng 9 năm kinh doanh, hãng xổ số điện toán này đã trả thưởng cho khách hàng gần 1 tỷ USD. Mức này tương đương trên 2.800 tỷ đồng mỗi năm.
2026 cũng là năm đầu tiên Vietlott đặt mục tiêu doanh thu trên 10.000 tỷ đồng kể từ khi ra mắt sản phẩm đầu tiên vào năm 2016. Mục tiêu này tương ứng doanh số bình quân mỗi ngày khoảng 30 tỷ đồng, gấp 9 lần 10 năm trước.
Vietlott là doanh nghiệp nhà nước do Bộ Tài chính đại diện sở hữu 100% vốn. Công ty hiện có 7 sản phẩm xổ số tự chọn theo ma trận, dãy số và quay số nhanh.
Tin Gốc: Vnexpress

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 20 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 10 quy định phương pháp xác định và nguyên tắc áp dụng biểu giá chi phí tránh được cho các nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ, đồng thời điều chỉnh nội dung hợp đồng mua bán điện (PPA). Thông tư có hiệu lực từ ngày 2-6-2026.
Biểu giá chi phí tránh được là các mức giá được tính toán căn cứ vào các chi phí tránh được của hệ thống điện quốc gia khi có 1kWh của nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ (có công suất bằng hoặc dưới 30MW) được phát lên lưới điện quốc gia.
Đó là chi phí mà hệ thống điện quốc gia không phải bỏ ra khi mua điện từ các nhà máy như thủy điện nhỏ, năng lượng mặt trời, điện gió, thay vì phải tự sản xuất từ các nguồn có chi phí cao nhất trong hệ thống. Việc hưởng cơ chế này giúp khuyến khích phát triển nguồn năng lượng sạch, giảm phát thải.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc sửa đổi, bổ sung khái niệm mùa mưa và mùa khô theo từng miền, làm cơ sở quan trọng để tính toán giá điện. Cụ thể, mùa mưa ở miền Bắc được xác định từ ngày 1-7 đến hết 31-10, tại miền Trung từ ngày 15-8 đến 15-12, tại miền Nam từ ngày 1-8 đến 1-12. Ngược lại, mùa khô được tính tương ứng cho các khoảng thời gian còn lại của năm ở từng miền.
Thông tư cũng làm rõ cách xác định miền Bắc, Trung, Nam theo ranh giới điều độ của hệ thống điện, thay vì đơn thuần theo địa giới hành chính. Khái niệm "nhà máy năng lượng tái tạo nhỏ" cũng được chuẩn hóa theo quy mô công suất do Bộ Công Thương quy định.
Thông tư sửa đổi quy định về thời hạn hợp đồng mua bán điện (PPA) giữa bên bán và bên mua. PPA sẽ có hiệu lực kể từ ngày ký và chấm dứt sau tối đa 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại, nhằm tạo khung pháp lý ổn định dài hạn cho nhà đầu tư, phù hợp với vòng đời kinh tế của các dự án.
Về điều khoản chuyển tiếp, thông tư cho phép các nhà máy đã ký hợp đồng trước đó tiếp tục áp dụng biểu giá theo khu vực đã xác định, kể cả trong trường hợp có thay đổi địa giới hành chính. Đây là điểm quan trọng nhằm đảm bảo tính ổn định của hợp đồng đã ký.
Đối với các dự án bị thay đổi tiêu chí về quy mô công suất, chủ đầu tư được quyền lựa chọn: tiếp tục áp dụng biểu giá chi phí tránh được hoặc tham gia thị trường điện. Tuy nhiên nếu đã lựa chọn thị trường điện, sẽ không được quay lại cơ chế giá biểu giá chi phí tránh được.
Ngoài ra trong trường hợp bất khả kháng như thiên tai, sự cố khiến nhà máy phải dừng vận hành, có thể thỏa thuận gia hạn hợp đồng nhưng không vượt quá 20 năm.
Phương pháp tính toán chi tiết biểu giá chi phí tránh được, bao gồm ba cấu phần chính: giá điện năng, tổn thất truyền tải và giá công suất.
Đối với giá điện năng, mức giá được xác định dựa trên chi phí nhiên liệu trung bình của các nhà máy nhiệt điện có chi phí biến đổi cao nhất được huy động. Giá này được điều chỉnh theo biến động nhiên liệu và tính trung bình theo năm.
Đáng chú ý, giá điện năng dư được quy định bằng 50% mức giá trong các giờ thấp điểm của mùa mưa - cơ chế nhằm khuyến khích tối ưu vận hành hệ thống.
Về tổn thất truyền tải sẽ có công thức tính riêng cho từng miền, có cơ chế "thưởng - phạt" tùy thuộc vào vị trí kết nối và chiều luồng công suất trên đường dây 500kV. Điều này phản ánh đúng chi phí thực tế và khuyến khích phân bổ nguồn điện hợp lý theo vùng.
Đối với giá công suất tránh được, cơ sở tính toán là nhà máy nhiệt điện chu trình hỗn hợp (CCGT) thay thế. Các thông số đầu vào gồm suất đầu tư, chi phí vận hành, tỉ lệ vốn vay - vốn chủ, lãi suất và hệ số chiết khấu (biểu giá chi phí tránh được, tối đa 10%).
Sau khi tính toán chi phí đầu tư hằng năm và điều chỉnh theo tổn thất truyền tải, giá công suất phát điện tránh được được xác định theo công thức chia cho số giờ cao điểm mùa khô.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngày 28/5, Tổng công ty Sonadezi (mã chứng khoán: SNZ) công bố thông tin bất thường về việc nhận được Thông báo của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Nai về việc khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam đối với bà Đặng Lê Bích Phượng - Trưởng Ban Kiểm soát của tổng công ty về việc vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Theo đó căn cứ biên bản họp ngày 28/5, các thành viên Ban Kiểm soát đã thống nhất phân công ông Trần Ngọc Tòng - Thành viên Ban Kiểm soát tổng công ty - tạm thời phụ trách điều hành hoạt động của ban cho đến khi có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
Bà Phượng từng công tác tại vị trí kế toán của Công ty May Gamex Sài Gòn từ tháng 9/2003, sau đó đến tháng 8/2004, bà Phượng làm kế toán tại Xí nghiệp Dịch vụ Sonadezi… Từ năm 2016, bà Phượng làm thành viên Ban Kiểm soát của Sonadezi. Đến tháng 4/2021, bà được bổ nhiệm giữ chức Trưởng Ban Kiểm soát công ty.
Trước khi vướng lao lý, năm 2025, bà Phượng nhận tiền lương tại Sonadezi hơn 1 tỷ đồng, tăng 33% so với lương năm 2024 và được thưởng gần 84 triệu đồng. Bà nằm trong nhóm lãnh đạo có mức thu nhập cao nhất công ty; trong khi đó ông Trương Đình Hiệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị, nhận mức thu nhập hơn 1,2 tỷ đồng.
Tại thời điểm cuối năm 2025, bà Phượng là người đại diện phần vốn Nhà nước do UBND tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đồng Nai) nắm giữ tại Sonadezi, tương ứng 5% vốn điều lệ. Theo công bố, bà hiện không sở hữu cổ phiếu SNZ.
Về công ty, Sonadezi là một doanh nghiệp bất động sản khu công nghiệp, bất động sản dân dụng lớn có trụ sở ở Đồng Nai. Tổng công ty và các đơn vị thành viên đã phát triển 12 khu công nghiệp tại Đồng Nai, TPHCM và Lâm Đồng với tổng quy mô khoảng 4.600 ha. Các khu công nghiệp này đã thu hút khoảng 12 tỷ USD cùng hơn 30.000 tỷ đồng vốn đầu tư.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý I, tổng công ty này có quy mô tài sản gần 23.000 tỷ đồng. Tổng nợ phải trả tăng nhẹ lên 10.719 tỷ đồng, trong đó nợ vay tài chính ở mức 4.322 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 12.267 tỷ đồng, vốn điều lệ ở mức 3.765 tỷ đồng.
Tại Đại hội đồng cổ đông, Sonadezi đã trình kế hoạch kinh doanh năm 2026 với các chỉ tiêu được xây dựng theo hướng thận trọng. Cụ thể, doanh nghiệp đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất hơn 6.020 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế trên 1.336 tỷ đồng, lần lượt thấp hơn 16% và 37% so với kết quả thực hiện năm 2025.
Quý I, Sonadezi ghi nhận doanh thu 1.294 tỷ đồng, giảm 19% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế ở mức 401,6 tỷ đồng, giảm 32%.
Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, doanh nghiệp hướng đến việc triển khai thêm tối thiểu 2 khu công nghiệp và 2 khu dân cư. Song song đặt mục tiêu duy trì doanh thu hợp nhất từ 6.000 tỷ đồng mỗi năm trở lên, cùng lợi nhuận trước thuế dao động trong khoảng 1.600-1.800 tỷ đồng.
Tin Gốc: Dân Trí

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết trong cuộc trao đổi với Tuổi trẻ về chủ đề biến dữ liệu thành tài nguyên số quốc gia.
* Thưa bà, Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, trong đó dữ liệu là tài nguyên số, vậy ngành Thống kê - cơ quan tập trung dữ liệu kinh tế, xã hội lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ làm gì để biến số liệu, dữ liệu thống kê thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước?
- Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xác định dữ liệu là tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê nhận thức rõ trách nhiệm trong việc sản xuất và cung cấp thông tin thống kê chất lượng cao, kịp thời, minh bạch để số liệu thống kê trở thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước.
Theo đó, quy trình sản xuất thông tin thống kê đã được ban hành mới theo hướng hiện đại hóa, làm cơ sở cho chuyển đổi số toàn diện.
Hình thức thu thập thông tin thống kê được chuyển đổi từ phiếu giấy sang phiếu điều tra điện tử (bao gồm phương thức phỏng vấn trực tiếp sử dụng thiết bị di động (CAPI) và phỏng vấn gián tiếp sử dụng webform) cho toàn bộ các cuộc điều tra giúp nâng cao đáng kể tính kịp thời và chất lượng dữ liệu thống kê.
Đồng thời, công tác chuẩn hóa danh mục, khái niệm, chỉ tiêu thống kê cũng được tăng cường để bảo đảm tính so sánh và khả năng liên thông dữ liệu.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia cũng được đẩy mạnh nhằm chuyển đổi căn bản và toàn diện việc sản xuất, sử dụng thông tin thống kê.
Hiện tại, cục đã hoàn thành giai đoạn một - xây dựng Kho dữ liệu thống kê tổng hợp, kết nối, cung cấp dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu quốc gia - là tài nguyên dùng chung trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để nâng cao độ bao phủ, tính chính xác của dữ liệu thống kê, cục khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính thu thập từ các cơ quan bộ, ngành trong sản xuất thống kê
Để biến số liệu thống kê thành tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê đang tập trung xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu nghiệp vụ thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu của Đảng, Chính phủ trong việc ban hành các chương trình, nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.
Đối với xây dựng hạ tầng dữ liệu thống kê hiện đại gồm: Kho dữ liệu thống kê vi mô tập trung phục vụ đa dạng nhu cầu khai thác của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân. Kho metadata phục vụ hiểu đúng, sử dụng đúng giá trị của dữ liệu thống kê đồng thời phục vụ chuẩn hóa, quản lý dữ liệu thống kê.
Ngoài ra, Cục Thống kê đang tăng cường khai thác các nguồn dữ liệu hành chính có tính pháp lý từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quản lý thuế để tận dụng dữ liệu sẵn có, đáng tin cậy để sản xuất và cung cấp thông tin thống kê bảo đảm chất lượng, kịp thời.
Xây dựng nền tảng số quản lý dữ liệu thống kê dùng chung và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu để tập trung hóa các hoạt động quản lý, thu thập, xử lý, tích hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê, qua đó cung cấp, chia sẻ tài nguyên dữ liệu tin cậy, đa dạng cho các đối tượng người dùng.
Trong quản lý dữ liệu, ngành Thống kế cũng áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy, tính minh bạch và khả năng tái sử dụng, chia sẻ và liên thông dữ liệu.
Thời gian tới, ngành Thống kê sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, trước hết là đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê từ mô hình dựa chủ yếu vào điều tra thống kê và báo cáo thống kê sang mô hình sản xuất thông tin thống kê dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó dữ liệu hành chính giữ vai trò nền tảng, kết hợp với dữ liệu lớn, dữ liệu địa không gian và các nguồn dữ liệu khác nhằm nâng cao chất lượng, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Đổi mới quy trình sản xuất thông tin thống kê theo mô hình GSBPM (Generic Statistical Business Process Model) phiên bản mới nhất, bảo đảm bao quát toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Thực hiện đổi mới mô hình thông tin thống kê theo GSIM nhằm chuẩn hóa cấu trúc thông tin, bảo đảm khả năng chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Xây dựng và áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu thống kê theo SDMX trong toàn bộ hệ thống thống kê. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata) thống nhất bảo đảm liên thông, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu thống kê đồng bộ, hiện đại, từng bước hình thành kinh tế dữ liệu thống kê gắn với kinh tế dữ liệu quốc gia. Tiếp tục xây dựng, và vận hành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo hướng tập trung, tích hợp, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Xây dựng, phát triển các sản phẩm dữ liệu thống kê có giá trị gia tăng cao cung cấp trên thị trường dữ liệu. Xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu thống kê cung cấp dữ liệu mở miễn phí và dịch vụ dữ liệu có tính phí. Cung cấp dịch vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê qua API và phát triển các dịch vụ dữ liệu thống kê trực tuyến khác phục vụ đa dạng đối tượng sử dụng.
Đồng thời, ngành Thống kê sẽ tăng cường ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo hiện đại, phát triển hệ thống sản phẩm phân tích chuyên sâu phong phú, đa dạng.
Hoạt động phổ biến thông tin thống kê cũng được đổi mới theo hướng tăng cường trực quan hóa dữ liệu (dashboard, infographic), chuyển từ báo cáo tĩnh sang nền tảng dữ liệu tương tác, cho phép người dùng tự do tùy biến biểu đồ, chuỗi thời gian và trích xuất dữ liệu để tái sử dụng. Mở rộng cung cấp dữ liệu dưới dạng dịch vụ, phục vụ hiệu quả cho tất cả các đối tượng người dùng.
Thiết lập hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng thống kê theo toàn bộ quy trình sản xuất thông tin, công khai minh bạch các tiêu chí chất lượng.
Có thể khẳng định, ngành Thống kê đang và sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất dữ liệu thống kê thành một nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều hành, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
* Định kỳ hàng tháng, hàng quý Cục Thống kê đều công bố rộng rãi báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trên báo chí, truyền thông, điều này có ý nghĩa gì với công tác điều hành kinh tế - xã hội, với người dân, doanh nghiệp, thời gian tới ngành sẽ tiếp tục đổi mới ra sao để mỗi con số thống kê thực sự "biết nói"?
- Việc Cục Thống kê định kỳ công bố thông tin kinh tế - xã hội hằng tháng, hằng quý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành.
Đây là nguồn thông tin chính thống, tin cậy và có tính hệ thống, giúp Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá đúng thực trạng và xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, các thông tin thống kê công bố định kỳ không chỉ phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế mà còn cung cấp những tín hiệu quan trọng về thị trường, xu hướng sản xuất, tiêu dùng, đầu tư.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp hoạt động một cách hợp lý, hạn chế rủi ro và nắm bắt cơ hội.
Còn với người dân và xã hội, việc công bố rộng rãi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin vào công tác điều hành của Nhà nước, giúp công chúng có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngành Thống kê nhận thức rõ sứ mệnh phải luôn làm cho mỗi con số thực sự "biết nói" để dẫn dắt nhận thức và hỗ trợ ra quyết định.
Do vậy, trong thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu, bảo đảm phản ánh sát thực tiễn, đúng thực chất của nền kinh tế.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh công tác phân tích, diễn giải số liệu, chuyển từ tư duy "có gì công bố nấy" sang chủ động cung cấp thông tin có chọn lọc, có chiều sâu, gắn với bối cảnh và xu hướng phát triển.
Các sản phẩm thống kê không chỉ là những bảng số liệu khô cứng, mà được bổ sung các nhận định, phân tích, dự báo, giúp người sử dụng hiểu đúng, hiểu sâu và khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, ngành cũng sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành để mở rộng nguồn thông tin đầu vào, qua đó nâng cao chất lượng và tính toàn diện của số liệu thống kê.
Hình thức phổ biến thông tin thống kê cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng trực quan, hiện đại và thân thiện hơn với người dùng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, từ nhà quản lý, nhà nghiên cứu đến doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi thông tin thống kê khi được công bố không chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo, mà thực sự trở thành cơ sở tin cậy cho việc hoạch định chính sách, điều hành kinh tế và ra quyết định trong toàn xã hội.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

