Đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành là nguồn protein thực vật giàu tryptophan cùng nhiều khoáng chất như magie, kali, kẽm và folate. Tryptophan là axit amin cần thiết cho hoạt động của não bộ, miễn dịch và quá trình sản xuất serotonin, melatonin – hai chất liên quan giấc ngủ. Một cốc đậu nành nấu chín chứa khoảng 416 mg tryptophan và lượng chất xơ đáng kể.
Đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành là nguồn protein thực vật giàu tryptophan cùng nhiều khoáng chất như magie, kali, kẽm và folate. Tryptophan là axit amin cần thiết cho hoạt động của não bộ, miễn dịch và quá trình sản xuất serotonin, melatonin – hai chất liên quan giấc ngủ. Một cốc đậu nành nấu chín chứa khoảng 416 mg tryptophan và lượng chất xơ đáng kể.
Một cốc cám yến mạch chứa khoảng 315 mg tryptophan và nhiều chất xơ. Thực phẩm này còn hỗ trợ kiểm soát cholesterol, đường huyết và cân nặng. Cám yến mạch còn giàu vitamin nhóm B, sắt, magie và kẽm – các dưỡng chất cần thiết cho sức khỏe thần kinh, giấc ngủ.
Một cốc cám yến mạch chứa khoảng 315 mg tryptophan và nhiều chất xơ. Thực phẩm này còn hỗ trợ kiểm soát cholesterol, đường huyết và cân nặng. Cám yến mạch còn giàu vitamin nhóm B, sắt, magie và kẽm – các dưỡng chất cần thiết cho sức khỏe thần kinh, giấc ngủ.
Sữa và chế phẩm từ sữa như phô mai, sữa, sữa chua hay phô mai cottage đều chứa tryptophan với hàm lượng khác nhau. Ngoài hỗ trợ giấc ngủ, sữa còn cung cấp canxi và phốt pho giúp duy trì sức khỏe xương.
Sữa và chế phẩm từ sữa như phô mai, sữa, sữa chua hay phô mai cottage đều chứa tryptophan với hàm lượng khác nhau. Ngoài hỗ trợ giấc ngủ, sữa còn cung cấp canxi và phốt pho giúp duy trì sức khỏe xương.
Thịt gia cầm như gà, gà tây, vịt đều giàu tryptophan. 100 g ức gà tây có khoảng 252 mg tryptophan, còn ức gà thường chứa khoảng 237 mg. Tryptophan từ thực phẩm động vật có khả năng hấp thu tốt hơn nguồn thực vật.
Thịt gia cầm như gà, gà tây, vịt đều giàu tryptophan. 100 g ức gà tây có khoảng 252 mg tryptophan, còn ức gà thường chứa khoảng 237 mg. Tryptophan từ thực phẩm động vật có khả năng hấp thu tốt hơn nguồn thực vật.
Đậu phộng cung cấp cả protein lẫn tryptophan. Hai muỗng bơ đậu phộng chứa khoảng 74 mg tryptophan. Mặc dù đậu phộng giàu chất béo song phần lớn là chất béo không bão hòa có lợi cho tim mạch nếu dùng ở mức vừa phải.
Đậu phộng cung cấp cả protein lẫn tryptophan. Hai muỗng bơ đậu phộng chứa khoảng 74 mg tryptophan. Mặc dù đậu phộng giàu chất béo song phần lớn là chất béo không bão hòa có lợi cho tim mạch nếu dùng ở mức vừa phải.
Một củ khoai tây lớn chứa khoảng 77 mg tryptophan và nhiều kali. Kali giúp hỗ trợ hoạt động của cơ bắp, thần kinh và tim mạch. Nên ăn khoai tây trong bữa tối hoặc dùng như bữa phụ nhẹ khoảng 1-2 giờ trước khi ngủ để phát huy tốt hơn tác dụng hỗ trợ giấc ngủ.
Một củ khoai tây lớn chứa khoảng 77 mg tryptophan và nhiều kali. Kali giúp hỗ trợ hoạt động của cơ bắp, thần kinh và tim mạch. Nên ăn khoai tây trong bữa tối hoặc dùng như bữa phụ nhẹ khoảng 1-2 giờ trước khi ngủ để phát huy tốt hơn tác dụng hỗ trợ giấc ngủ.
Các loại hạt gồm hạnh nhân, óc chó, hạt điều hay bơ hạt đều chứa lượng tryptophan đáng kể. Chúng cũng giàu vitamin E, magie và chất béo không bão hòa. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến nghị thay thế chất béo bão hòa bằng chất béo không bão hòa từ các loại hạt để hỗ trợ sức khỏe tim mạch.
Các loại hạt gồm hạnh nhân, óc chó, hạt điều hay bơ hạt đều chứa lượng tryptophan đáng kể. Chúng cũng giàu vitamin E, magie và chất béo không bão hòa. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến nghị thay thế chất béo bão hòa bằng chất béo không bão hòa từ các loại hạt để hỗ trợ sức khỏe tim mạch.
Trên thực tế, chôm chôm vẫn chứa đường tự nhiên nên có thể làm tăng lượng đường glucose máu. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng còn phụ thuộc vào lượng ăn, độ chín và cách kết hợp thực phẩm trong bữa ăn. Nếu ăn hợp lý, chôm chôm vẫn có thể nằm trong chế độ ăn lành mạnh mà không gây ảnh hưởng quá lớn đến đường huyết, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Chôm chôm dù có thể làm đường huyết tăng lên sau ăn nhưng mức tăng này thường không quá mạnh như các món chứa đường tinh luyện, chẳng hạn nước ngọt, bánh kẹo hay trà sữa.
Chôm chôm có chỉ số đường huyết từ 42 đến 59, tùy theo giống và độ chín. Do đó, đây được xem là loại trái cây có chỉ số đường huyết ở mức thấp đến trung bình. Tuy nhiên, chỉ số đường huyết không phải yếu tố duy nhất quyết định mức tăng đường huyết sau ăn. Điều quan trọng còn nằm ở lượng ăn.
Dù có chỉ số đường huyết không quá cao, chôm chôm vẫn chứa lượng đường tự nhiên đáng kể. Nếu ăn quá nhiều trong thời gian ngắn, tổng lượng đường nạp vào cơ thể sẽ tăng mạnh.
Ngoài ra, chất xơ trong chôm chôm chỉ có tác dụng làm chậm hấp thu đường ở mức nhất định. Nếu ăn quá nhiều, lượng đường vẫn có thể vượt quá khả năng kiểm soát của cơ thể, đặc biệt ở người có tình trạng kháng insulin hoặc tiểu đường.
Độ chín của trái cũng ảnh hưởng đến đường huyết. Chôm chôm càng chín ngọt thì lượng đường càng cao. Vì vậy, ăn nhiều chôm chôm chín có thể khiến glucose máu tăng nhanh hơn. Bên cạnh đó, ăn chôm chôm lúc bụng đói cũng dễ làm đường hấp thu nhanh hơn so với khi ăn sau bữa chính.
Người tiểu đường không nhất thiết phải kiêng hoàn toàn chôm chôm. Nhiều hướng dẫn dinh dưỡng hiện nay cho rằng người tiểu đường vẫn có thể ăn chôm chôm nhưng với lượng vừa phải.
Nếu muốn ăn chôm chôm mà vẫn kiểm soát đường huyết tốt thì nên chú ý cách ăn. Ăn chôm chôm sau bữa ăn chính sẽ giúp làm chậm tốc độ hấp thu đường hơn so với ăn lúc đói.
Không nên ăn quá nhiều chôm chôm trong một lần, đặc biệt khi bụng đói. Kết hợp chôm chôm với thực phẩm giàu protein hoặc chất béo lành mạnh, chẳng hạn sữa chua không đường, hạt hoặc trứng, cũng có thể giúp làm chậm hấp thu glucose. Sau khi ăn trái cây ngọt, vận động nhẹ như đi bộ cũng có thể giúp cơ thể sử dụng glucose hiệu quả hơn, theo Eating Well.
Tết 2022, Mai Trâm bước lên bàn cân và nhìn thấy con số 117 kg. Cô 21 tuổi không mặc vừa bất kỳ bộ đồ nào trong những tấm ảnh gia đình chụp ngày Tết. Suốt những năm phổ thông ở TP HCM, Trâm sợ đến trường vì bị bạn bè miệt thị ngoại hình. Cô hạn chế gặp gỡ, thu mình lại.
Ngay trong gia đình, khi ai đó buột miệng "Mẹ đẹp vậy sao con lại như thế này?", cô mang mặc cảm đó về phòng và không nói với ai. Cân nặng với Trâm lúc ấy là "một lớp vỏ ngăn cách mình với thế giới".
Hơn hai năm sau, cô sinh viên đại học duy trì cân nặng 58-60 kg, giảm gần 60 kg so với thời điểm nặng nhất. Số đo hình thể đạt 93-66-98 cm. Chiều cao tăng thêm 3 cm, từ 1,64 m lên 1,67 m, nhờ các bài tập cải thiện tư thế kết hợp vận động đều đặn.
Trâm không dùng thuốc, không nhờ can thiệp y tế. Cô bắt đầu bằng cách chậm nhất có thể vì không có lựa chọn nào khác. "Lúc đó cơ thể tôi rất nặng, nếu tập mạnh sẽ ảnh hưởng đến khớp", cô nói.
Khi vượt ngưỡng 100 kg, áp lực lên khớp gối của một người ở mức cân nặng đó tương đương gấp 4-6 lần trọng lượng cơ thể khi di chuyển, theo các nghiên cứu về cơ xương khớp. Thay vì tập luyện cường độ cao, Trâm giảm khẩu phần ăn và đi bộ chậm mỗi ngày.
Chế độ ăn cô áp dụng là Eat Clean kết hợp nhịn ăn gián đoạn 16:8, tức nhịn 16 giờ liên tục và ăn trong khung 8 giờ. Cô ưu tiên thực phẩm nguyên chất, hấp luộc hoặc dùng nồi chiên không dầu, nấu tại nhà để kiểm soát lượng calo. Canh chỉ nêm rất ít muối, lấy vị ngọt từ rau. Bún, phở vẫn ăn bình thường nhưng giảm tinh bột, lấy vị ngọt từ tôm hoặc củ cải thay vì gia vị công nghiệp, sốt nấu từ cà chua tươi, đường trắng được thay bằng mật ong hoặc đường cỏ ngọt.
"Tôi ăn đủ đạm, chất xơ và vẫn giữ tinh bột nhưng ở mức hạn chế. Quan trọng là hiểu cơ thể cần gì thay vì ép bản thân", Trâm nói.
Theo khuyến nghị của các chuyên gia dinh dưỡng, một chế độ ăn khoa học cần đủ 6 nhóm chất gồm đạm, béo, bột đường, rau, trái cây và sữa. Cắt giảm bất kỳ nhóm nào có thể dẫn đến mệt mỏi, hạ đường huyết, và về lâu dài làm suy giảm hệ miễn dịch. Trâm không cắt, mà điều chỉnh tỷ lệ và nguồn gốc thực phẩm.
Khi cân nặng hạ xuống, cô mới tăng dần cường độ vận động: từ đi bộ chuyển sang cardio, rồi tập kháng lực để giữ cơ thể săn chắc. Lịch tập từ thứ Hai đến Chủ nhật, không nghỉ dù mưa hay mệt.
Khoảnh khắc Trâm thực sự nhận ra sự thay đổi không phải là lần bước lên cân, mà là lần chụp ảnh áo dài trước dịp 2/9. Khi mặc vừa áo dài size S tại tiệm, cô hỏi lại nhân viên vì sợ mình nhầm.
Trong suốt hành trình, người cha gọi cô là "con heo vàng", một cách trêu đùa mang đầy âu yếm mà cô nói là nguồn động lực lớn nhất giúp mình không bỏ cuộc.
"Giảm cân là hành trình phải đánh đổi mồ hôi, công sức và thời gian. Khi vượt qua được, mình sẽ tự tin và trân trọng mình nhiều hơn", Trâm nói.
Bệnh viện Sir Run Run Shaw liên kết với trường Y thuộc Đại học Chiết Giang hôm 28/4 thông tin về trường hợp vợ chồng chị Li và anh Zhang ở thành phố Hàng Châu, khiến nhiều người xúc động, theo Sohu. Suốt 19 năm chung sống, cả hai được người ngoài ngưỡng mộ như một cặp hoàn hảo nhưng ít ai ngờ họ chưa từng giao hợp như những đôi vợ chồng bình thường.
Nguyên nhân bắt nguồn từ việc chị Li mắc hội chứng sợ bẩn (mysophobia) nghiêm trọng, cùng tâm lý lo âu và bài trừ đụng chạm thân thể. Suốt từng ấy năm, anh Zhang chọn cách bao dung, tôn trọng và kiên nhẫn bảo vệ cuộc hôn nhân của mình.
Tuy nhiên, khi tuổi tác ngày một lớn và chứng kiến con cái của bạn bè dần trưởng thành, nỗi khao khát về một mái ấm trọn vẹn trong hai vợ chồng càng thêm cháy bỏng, thôi thúc cả hai tìm đến sự hỗ trợ của y tế.
Kết quả kiểm tra cho thấy dự trữ buồng trứng của chị Li đang suy giảm, trong khi chức năng sinh sản của anh Zhang vẫn bình thường. Ban đầu, bác sĩ chỉ định lộ trình tư vấn tâm lý trong ba tháng để hướng tới việc thụ thai tự nhiên. Tuy nhiên, những rào cản tinh thần của chị Li quá lớn khiến nỗ lực này không mang lại kết quả.
Trước tình hình đó, các chuyên gia đã xây dựng một phác đồ hỗ trợ sinh sản (ART - gồm các phương pháp như thụ tinh nhân tạo IUI hay thụ tinh trong ống nghiệm IVF) chuyên biệt dành riêng cho cặp vợ chồng. Sau thất bại ở lần điều trị đầu tiên, hai vợ chồng không bỏ cuộc mà cùng nhau điều chỉnh tâm lý để bước vào liệu trình thứ hai. Sự bền bỉ của họ cuối cùng được đền đáp xứng đáng khi chị Li mang thai và sinh một bé gái khỏe mạnh. Giờ đây, tổ ấm nhỏ của họ tràn ngập tiếng cười và niềm vui nhờ sự hiện diện của thành viên mới.
Hội chứng sợ bẩn, hay còn gọi là mysophobia hoặc chứng sợ vi trùng, là một dạng rối loạn lo âu đặc trưng bởi nỗi sợ hãi tột độ, phi lý và dai dẳng đối với bụi bẩn, vi khuẩn hoặc sự lây nhiễm, thường liên quan mật thiết đến chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế.
Khác với thói quen ưa sạch sẽ thông thường, nỗi sợ của người bệnh lớn đến mức chi phối hoàn toàn các hoạt động sống. Họ thường có những hành vi làm sạch cưỡng chế như rửa tay hoặc tắm rửa liên tục đến mức bong tróc da, đồng thời né tránh việc đụng chạm thân thể, bắt tay, ôm ấp hay thậm chí là quan hệ tình dục. Họ cũng rất sợ không gian công cộng, từ chối chạm vào tay nắm cửa hay đi phương tiện giao thông chung, và nếu buộc phải đối mặt với môi trường mà họ cho là ô nhiễm, người bệnh có thể hoảng loạn, tim đập nhanh, khó thở, đổ mồ hôi và run rẩy.
Nguyên nhân dẫn đến hội chứng này thường là sự kết hợp của nhiều yếu tố như trải nghiệm sang chấn tâm lý trong quá khứ, yếu tố di truyền từ gia đình có người mắc rối loạn lo âu, hoặc do ảnh hưởng từ cách giáo dục quá khắt khe về vấn đề vệ sinh từ khi còn nhỏ. Đôi khi, các đợt dịch bệnh lớn cũng có thể kích hoạt chứng bệnh này ở những người nhạy cảm.
Việc điều trị không thể chỉ dựa vào những lời khuyên thông thường mà đòi hỏi sự can thiệp của y khoa thông qua liệu pháp nhận thức - hành vi, đặc biệt là phương pháp cho bệnh nhân tiếp xúc dần với các tác nhân gây sợ hãi trong môi trường kiểm soát để họ từ từ làm quen và giảm bớt lo âu. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể cần sử dụng thêm thuốc chống lo âu hoặc thuốc chống trầm cảm để kiểm soát các triệu chứng đi kèm.