Tính đến hiện tại, hầu hết các công ty niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý đầu năm. Bức tranh chung tương đối tích cực, điều này đã và đang tạo động lực cho thị trường chứng khoán.
Thống kê từ Chứng khoán Thiên Việt, lợi nhuận ròng của 945 doanh nghiệp (chiếm khoảng 98,1% vốn hóa toàn thị trường) trong quý đầu năm đã tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu loại trừ nhóm doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái Vingroup (Vingroup, Vinhomes, Vincom Retail, Vinpearl và VEFAC), tăng trưởng lợi nhuận toàn thị trường vẫn đạt 33,8%.
Xét theo ngành kinh doanh, có tới 18/19 nhóm ngành ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng trong quý đầu năm. Trong đó, nhóm doanh nghiệp phi tài chính tăng trưởng hơn 55%, còn nhóm tài chính gồm ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm cũng tăng hai chữ số.
Mảng nào tăng mạnh nhất?
Nổi bật tại nhóm bất động sản, lợi nhuận nhóm này tăng hơn 32% so với cùng kỳ. Sau một thời gian dài gần như “đóng băng”, thị trường bất động sản đã và đang hồi phục nhờ loạt động thái tháo gỡ pháp lý, ổn định lãi suất… hầu hết các công ty đều ghi nhận tăng trưởng trong quý đầu năm.
Nổi trội có Vinhomes (mã chứng khoán: VHM) thuộc hệ sinh thái của tỷ phú Phạm Nhật Vượng, ghi nhận lợi nhuận tăng tới 850% nhờ các giao dịch bán lô lớn tại các dự án Vinhomes Ocean Park 2 & 3 và Green Paradise.
Ngoài ra, nhiều đơn vị cũng đang “hồi sinh” sau khi được gỡ vướng về thuế, pháp lý như Thuduc House (mã chứng khoán: TDH) có lãi trở lại 5 quý liên tiếp. Quý I, công ty này đạt doanh thu 47 tỷ đồng – tăng hơn 493% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 6,5 tỷ đồng, chủ yếu đến từ mảng cốt lõi sau thời gian dài tái cơ cấu…
Ngành dầu khí cũng là điểm sáng giữa biến động giá dầu, ghi nhận tốc độ tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành trong kỳ tăng hơn 603% so với cùng kỳ. Nổi bật có Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã chứng khoán: BSR) với lợi nhuận đạt 8.266 tỷ đồng, gấp gần 20 lần cùng kỳ, hưởng lợi trong bối cảnh giá dầu Brent leo thang do xung đột Trung Đông.
Song song đó, nhóm các công ty liên quan trong mảng điện, nước, xăng dầu và khí đốt, lợi nhuận cũng tăng tốt hơn 38% so với cùng kỳ, với đóng góp lớn từ PV Power (mã chứng khoán: POW) và EVN Genco3 (mã chứng khoán: PGV).
Ở nhóm tài chính – ngân hàng (ngành xương sống của nền kinh tế), lợi nhuận quý I đạt hơn 73.262 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ. Biên lãi ròng toàn ngành giảm còn 2,95%, đồng thời tỷ lệ CASA cũng giảm về 20,04%, cho thấy dư địa cải thiện chi phí vốn từ tiền gửi không kỳ hạn đang thu hẹp.
Ở chiều ngược lại, công nghệ thông tin là ngành duy nhất ghi nhận diễn biến kém tích cực, chủ yếu đến từ Saigontel khi doanh nghiệp này không còn ghi nhận khoản lợi nhuận đột biến từ chuyển nhượng bất động sản khu công nghiệp như cùng kỳ, khiến lợi nhuận giảm tới 99%.
Dự báo cho cả năm, chuyên gia tài chính đến từ VNDirect nhận định triển vọng tăng trưởng sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi tăng trưởng GDP, chính sách tài khóa mở rộng có chọn lọc…
P/E chứng khoán thấp hơn mức trung bình 10 năm
Với thông tin tích cực về kinh doanh, P/E (mức giá bỏ ra để thu về một đồng lợi nhuận từ cổ phiếu) trượt 12 tháng của VN-Index giảm về khoảng 13,8 lần, thấp hơn mức trung bình 10 năm (khoảng 15,4 lần).
Diễn biến này phần nào phản ánh sự cải thiện lợi nhuận doanh nghiệp trong quý I.
Hiện, VN-Index đã chính thức vượt đỉnh lịch sử với 1.900 điểm, và đang bước vào vùng giằng co mạnh. Các chuyên gia Chứng khoán Yuanta cho rằng tuy VN-Index tiếp tục tăng cao hơn kỳ vọng, song đà tăng chủ yếu đến từ bộ đôi VIC (Vingroup) và VHM (Vinhomes), cả hai đã đóng góp tới 59% mức tăng tuần qua của chỉ số.
Thời gian tới, thị trường chứng khoán theo chuyên gia sẽ được hỗ trợ bởi kỳ vọng nâng hạng và triển vọng tăng trưởng lợi nhuận duy trì tích cực trong năm nay. Với giả định lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tiếp tục tăng khoảng 14% trong năm 2026, P/E dự phóng của VN-Index có thể giảm về quanh mức 13 lần, qua đó duy trì sức hấp dẫn tương đối của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp toàn cầu vẫn kỳ vọng EU sẽ linh hoạt hơn với Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM), Brussels vừa đưa ra một quyết định theo hướng ngược lại.
Ngày 12/6, các bộ trưởng kinh tế Liên minh châu Âu đã nhất trí siết chặt điều kiện cho phép tạm đình chỉ thuế carbon đối với hàng nhập khẩu. Động thái này được xem là bước đi quan trọng nhằm củng cố niềm tin cho các khoản đầu tư phát thải thấp và bảo vệ chiến lược chuyển đổi xanh dài hạn của khối.
Theo Reuters, quyết định mới có thể tác động đáng kể tới chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt khi EU đang chuẩn bị mở rộng phạm vi áp dụng CBAM sang nhiều nhóm sản phẩm hơn trong những năm tới.
EU muốn chấm dứt sự thiếu chắc chắn quanh thuế carbon
CBAM là cơ chế thu phí carbon đối với lượng khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất hàng hóa nhập khẩu vào EU. Hiện cơ chế này được áp dụng với các nhóm hàng có cường độ phát thải cao như thép, xi măng và phân bón.
Mục tiêu của chính sách nhằm tạo sân chơi cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp sản xuất trong EU và các nhà xuất khẩu từ bên ngoài khối. Theo đó, những sản phẩm được sản xuất với lượng phát thải lớn sẽ phải gánh thêm chi phí carbon khi vào thị trường châu Âu.
Trước đây, Ủy ban châu Âu từng đề xuất một điều khoản cho phép tạm thời miễn áp dụng thuế carbon đối với một số mặt hàng nếu xảy ra các tình huống nghiêm trọng và bất ngờ khiến giá tăng mạnh. Đây được xem như một “van an toàn” để ứng phó với các cú sốc thị trường.
Tuy nhiên, đề xuất này vấp phải phản ứng từ nhiều doanh nghiệp và các nhà đầu tư vào công nghệ sạch. Họ cho rằng cơ chế miễn trừ quá rộng sẽ khiến môi trường đầu tư thiếu ổn định, bởi các dự án giảm phát thải chỉ có thể phát huy hiệu quả khi hàng nhập khẩu có mức phát thải cao phải chịu chi phí carbon tương ứng.
Chính vì vậy, EU đã lựa chọn hướng đi rõ ràng hơn. Thay vì để ngỏ khả năng đình chỉ CBAM trong nhiều tình huống khác nhau, Brussels muốn biến việc tạm dừng cơ chế này trở thành trường hợp đặc biệt và rất khó xảy ra.
Chỉ được xem xét đình chỉ khi giá tăng hơn 50%
Theo dự thảo thỏa thuận được Reuters tiếp cận, Ủy ban châu Âu chỉ có thể đề xuất tạm đình chỉ thuế carbon nếu đáp ứng các tiêu chí cụ thể. Điều kiện đáng chú ý nhất là giá của sản phẩm liên quan phải tăng trên 50% trong vòng 6 tháng so với mức giá trung bình của 10 năm trước đó.
Ngưỡng này được đánh giá là rất cao. Điều đó đồng nghĩa những biến động giá thông thường hoặc các cú sốc ngắn hạn trên thị trường khó có thể trở thành lý do để tạm dừng CBAM.
Quyết định mới cũng cho thấy EU đang ưu tiên sự ổn định của chính sách hơn là các biện pháp hỗ trợ ngắn hạn. Đối với giới đầu tư xanh, đây là tín hiệu cho thấy Brussels vẫn kiên định với mục tiêu giảm phát thải và không muốn các quy định khí hậu thay đổi quá thường xuyên.
Dù được đa số quốc gia thành viên ủng hộ, thỏa thuận vẫn gặp phản đối từ một số nước như Slovakia, Romania và Lithuania. Những quốc gia này lo ngại các quy định nhập khẩu xanh ngày càng nghiêm ngặt có thể làm tăng chi phí sản xuất và tạo thêm áp lực cho nền kinh tế.
Trong khi đó, nhiều nghị sĩ tại Nghị viện châu Âu còn muốn đi xa hơn. Một số ý kiến đề xuất tiếp tục thu hẹp hoặc thậm chí loại bỏ hoàn toàn điều khoản cho phép đình chỉ CBAM trong tương lai.
Phạm vi áp dụng mở rộng, áp lực tuân thủ sẽ tăng lên
Một trong những nội dung được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là kế hoạch mở rộng phạm vi áp dụng CBAM. Ngoài các mặt hàng đang chịu thuế carbon như thép, xi măng và phân bón, EU dự kiến đưa thêm nhiều sản phẩm nằm sâu hơn trong chuỗi giá trị sản xuất vào diện quản lý.
Theo kế hoạch được đề cập trong các cuộc thảo luận, các mặt hàng như máy giặt và linh kiện ô tô sẽ nằm trong nhóm được mở rộng áp dụng cơ chế này.
Động thái trên phản ánh nỗ lực của EU nhằm ngăn chặn hiện tượng “rò rỉ carbon”. Đây là tình trạng doanh nghiệp chuyển một phần công đoạn sản xuất sang những quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn hoặc gia công thành sản phẩm hoàn chỉnh tại nước thứ ba để tránh các chi phí carbon.
Một điểm đáng chú ý khác là Pháp, quốc gia từng kêu gọi tạm ngừng áp dụng CBAM với phân bón do chi phí tăng cao, cuối cùng đã chấp nhận thỏa thuận mới. Paris đạt được một số nhượng bộ dành cho hai vùng lãnh thổ hải ngoại là Guadeloupe và Martinique. Theo đó, hai khu vực này có thể được miễn áp dụng thuế carbon đối với xi măng nhập khẩu trong trường hợp xảy ra thiên tai hoặc các tình huống khẩn cấp đặc biệt.
Hiện các quốc gia thành viên EU và Nghị viện châu Âu vẫn tiếp tục đàm phán để hoàn thiện văn bản cuối cùng. Tuy nhiên, diễn biến mới nhất cho thấy xu hướng chung của Brussels là siết chặt thay vì nới lỏng các quy định liên quan đến CBAM.
Theo Reuters, EU xem cơ chế thuế carbon biên giới là một trong những trụ cột quan trọng nhất của chiến lược chuyển đổi xanh. Việc thu hẹp các trường hợp được tạm đình chỉ CBAM không chỉ nhằm bảo vệ các khoản đầu tư phát thải thấp tại châu Âu mà còn gửi thông điệp rõ ràng tới các nhà sản xuất toàn cầu rằng tiêu chuẩn môi trường đang ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận thị trường EU.
Sáng 9/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Nghị quyết của Quốc hội về thuế bảo vệ môi trường, giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Trình bày tờ trình, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết Chính phủ đề xuất giảm thuế bảo vệ môi trường với xăng (trừ ethanol), dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut về 0 đồng.
Cùng với đó, xăng, dầu diesel và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng vẫn được khấu trừ đầu vào. Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng các loại cũng được đề xuất áp dụng mức 0%.
Việc này được Chính phủ đưa ra trong bối cảnh xung đột Trung Đông khiến thị trường năng lượng toàn cầu, trong đó có Việt Nam chịu tác động lớn, giá nhiên liệu tăng vọt.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong cơ cấu giá cơ sở xăng dầu, thuế VAT chiếm khoảng 7,4% trong cơ cấu giá cơ sở xăng dầu; thuế bảo vệ môi trường 2,7-6%, và tiêu thụ đặc biệt 6,7%. Do đó, việc giảm tất cả các loại thuế này về 0 đến hết tháng 6 là giải pháp để đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm nay, kiểm soát lạm phát.
Hiện thuế bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt với các loại thuế với xăng (trừ ethanol), dầu diesel và nhiên liệu bay là 0, theo Quyết định 482 của Thủ tướng áp dụng đến hết 15/4. Quyết định này đưa ra và áp dụng trong trường hợp cấp bách. Trong khi đó, dầu hỏa, mazut vẫn chịu thuế bảo vệ môi trường lần lượt 600 đồng và 1.000 đồng một lít, kg; còn thuế VAT là 10%.
Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định về mức thuế bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu và nhiên liệu bay.
Theo bà, việc này nhằm kịp thời bổ sung các giải pháp góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do khan hiếm nhiên liệu, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mục tiêu tăng trưởng.
Cơ quan này cũng đề nghị cân nhắc bổ sung quy định trong trường hợp khẩn cấp, giao Chính phủ điều chỉnh mức thuế và báo cáo lại Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Nếu được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ nhất, chính sách này sẽ áp dụng từ ngày 16/4 đến hết 30/6.
Thảo luận tại phiên họp, một số ý kiến đề nghị Chính phủ có các giải pháp tổng thể, đồng bộ từ điều hành giá, minh bạch hóa các thành phần trong cơ cấu giá cơ sở xăng dầu đến bảo đảm chuỗi cung ứng.
Đồng thời, các bộ ngành cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng; kiểm soát hóa đơn điện tử để xác nhận tính thực tế chi phí đầu vào của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, tránh trục lợi chính sách.
Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước đã có 14 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 26.530 đồng, dầu diesel 42.840 đồng. Trước đó, có thời điểm giá hai loại nhiên liệu này lên lần lượt gần 34.000 đồng và 45.000 đồng một lít.
Tại họp báo Chính phủ cuối tuần trước, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4. Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này.
Nói với VnExpress, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết sản lượng vải năm 2026 sụt giảm chủ yếu do thời tiết bất lợi, ảnh hưởng đến quá trình phân hóa mầm hoa, ra hoa và đậu quả.
Cả nước hiện có khoảng 55.000 ha vải thiều, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc. Trong đó, Bắc Ninh (khu vực Bắc Giang cũ) là vùng trồng lớn nhất với gần 29.800 ha, sản lượng năm nay ước đạt khoảng 95.000 tấn, tương đương 59,5% kế hoạch và giảm mạnh so với mức 215.000 tấn của năm 2025. Cơ quan chuyên môn lưu ý, con số này được ước tính trên cơ sở tình trạng ra hoa hiện tại; khi bước vào thu hoạch, sản lượng thực tế có thể thay đổi và có thể cao hơn.
Tại Hải Phòng (khu vực Hải Dương cũ), diện tích vải khoảng 9.345 ha, sản lượng ước đạt 55.000 tấn, thấp hơn so với năm ngoái. Một số địa phương khác như Hưng Yên và Đăk Lăk có diện tích khiêm tốn, lần lượt khoảng 1.860 ha và 2.000 ha.
Riêng sản lượng vải sớm năm nay chỉ đạt khoảng 85.000-90.000 tấn, giảm 35-50% so với cùng kỳ.
Do nguồn cung sụt giảm, giá vải thiều đầu vụ tăng mạnh. Giá thu mua tại vườn dao động 50.000-95.000 đồng mỗi kg, cao nhất từ trước tới nay. Trên thị trường bán lẻ, vải chín sớm phổ biến ở mức 140.000-180.000 đồng mỗi kg, trong khi một số lô hàng chất lượng cao hoặc vận chuyển bằng đường hàng không có thể lên tới khoảng 195.000-210.000 đồng mỗi kg.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nguyên nhân chính đến từ diễn biến thời tiết không thuận lợi trong giai đoạn cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Mùa đông không lạnh sâu, nền nhiệt đầu năm cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,5-1 độ C, kèm theo mưa phùn và sương mù kéo dài từ cuối tháng 2 đến tháng 3 đã làm gián đoạn quá trình phân hóa mầm hoa. Điều này khiến nhiều vườn ra hoa không đồng đều, xuất hiện tình trạng "hoa xen lộc", làm giảm tỷ lệ đậu quả.
Độ ẩm không khí cao trong thời kỳ ra hoa cũng ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh và giữ quả non, đồng thời tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh. Bên cạnh đó, chi phí vật tư tăng cao trong khi tỷ lệ ra hoa thấp khiến một số nhà vườn giảm đầu tư chăm sóc, làm năng suất tiếp tục bị ảnh hưởng.
Không chỉ Việt Nam, nguồn cung vải thiều tại Trung Quốc cũng có dấu hiệu giảm. Truyền thông nước này cho biết nhiều vùng trồng lớn như Quảng Đông, Hải Nam ra hoa kém do mùa đông ấm và mưa ẩm sai thời điểm. Sau một năm bội thu, cây vải bước vào chu kỳ suy giảm cũng khiến sản lượng đi xuống, qua đó đẩy giá tăng sớm và làm thị trường đảo chiều so với năm 2025.