Ngày 12.6, lãnh đạo Sở NN-MT Hà Nội xác nhận, UBND thành phố đã có quyết định phê duyệt kết quả đấu giá quyền sử dụng hơn 3.300 m2 đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao tại số 18 phố Cao Bá Quát (P.Ba Đình, Hà Nội).
Theo quyết định phê duyệt, doanh nghiệp trúng đấu giá thửa “đất kim cương” này với số tiền 1.379 tỉ đồng, cao hơn gấp đôi giá khởi điểm được đưa ra là hơn 679 tỉ đồng.
Doanh nghiệp tham gia đấu giá đã đặt cọc số tiền trên 135 tỉ đồng, tương đương 20% giá khởi điểm đấu giá lô đất.
Thông báo của cơ quan thuế cho thấy, doanh nghiệp trúng đấu giá phải nộp 50% số tiền trong 30 ngày đầu tiên sau khi có quyết định phê duyệt kết quả đấu giá của UBND TP.Hà Nội và 90 ngày tiếp theo phải nộp nốt số tiền còn lại.
Lãnh đạo Sở NN-MT Hà Nội cho biết thêm, doanh nghiệp trúng đấu giá đã nộp hơn 1.000 tỉ đồng tiền sử dụng đất và vẫn đang trong thời hạn nộp nốt số tiền còn lại.
Trước đó, trong thông báo về tổ chức đấu giá thửa đất ở 18 Cao Bá Quát ban hành hồi cuối năm 2025, Công ty Đấu giá hợp danh Lạc Việt cho biết thời gian hoạt động của dự án khách sạn 5 sao là 50 năm, kể từ ngày được quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất theo quy định của pháp luật.
Bước giá áp dụng cho tất cả các vòng đấu là 2 triệu đồng/m2, tương ứng giá trị trên 6,7 tỉ đồng.
Quy chế đấu giá tài sản nêu rõ, tổ chức tham gia đấu giá quyền sử dụng đất phải có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 3 điều 125 luật Đất đai 2024 và khoản 1 điều 55 Nghị định 102/2024 của Chính phủ.
Các điều kiện bao gồm: phải thuộc đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định tại điều 120 của luật Đất đai; bảo đảm các điều kiện theo quy định đối với trường hợp cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư; có năng lực, kinh nghiệm trong việc phát triển dự án.
Ngoài ra, tổ chức tham gia đấu giá lô đất trên phải đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản; không thuộc đối tượng bị cấm tham gia đấu giá theo quy định pháp luật; đáp ứng điều kiện quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án kinh doanh bất động sản…
Tin Gốc: Thanh Niên

Lãnh đạo và các cấp chính quyền địa phương, gia đình và đồng đội đã đón thi hài liệt sĩ Trần Minh Tuyến trở về mai táng tại quê nhà, khép lại hơn nửa thế kỷ tìm kiếm, trong đó có sự đóng góp của Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh (VWAI).
3 giờ sáng 26-3, chị Nguyễn Thanh Thủy, một thành viên trong đội ngũ VWAI, bước lên chuyến xe 0 đồng mà chính chị kêu gọi được nhà hảo tâm tài trợ, cùng với gia đình liệt sĩ tại Hưng Yên, bắt đầu hành trình nửa chiều dài Tổ quốc để về đến Hải Lăng (Quảng Trị) để đưa hài cốt liệt sĩ Trần Minh Tuyến về quê nhà.
Trên đường đi, xe đón thêm ba cựu chiến binh từng tham gia trận đánh Câu Nhi năm 1972, hiện sống ở Thanh Hóa, để cùng về lại chiến trường xưa đón đồng đội năm nào. Ở nhà, các thành viên của dự án vừa trông tin từ chị Thủy, vừa ngẫm về một đoạn kết đẹp sau nhiều tháng dài xác minh danh tính của liệt sĩ mà VWAI đã góp một phần quan trọng.
"Liệt sĩ Tuyến là người như thế nào?". Câu hỏi vang lên trên chuyến xe hôm ấy. Theo thời gian, ký ức của các cựu chiến binh đã phai dần, nhưng vẫn còn đọng lại bóng dáng một anh quân y hiền lành, khéo tay, viết và vẽ đều rất đẹp.
Trần Minh Tuyến sinh năm 1952 ở Thái Thụy, nhập ngũ tháng 8-1970, là chiến sĩ quân y thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308.
Anh hy sinh trên chiến trường Quảng Trị vào "mùa hè đỏ lửa" năm 1972, để lại mẹ già ngày đêm trông ngóng. Cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, cụ vẫn căn dặn con cháu phải đưa bằng được hài cốt con trai về với gia đình.
Hơn 50 năm qua, việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Tuyến vẫn luôn làm nặng lòng người ở lại. Tháng 4-2025, trong quá trình quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực cầu Câu Nhi, Đội quy tập 584 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị đã cất bốc được hai hài cốt cùng nhiều di vật, trong số đó có một chiếc bi đông đã biến dạng, bên trên còn rõ nét chữ khắc tay "Tuyến" và dãy số "170071".
Bởi có hai người lính trùng tên trong trận đánh năm đó, việc xác minh đã gặp nhiều trắc trở. Mãi cho đến tháng 7-2025, khi VWAI trao trả cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia III một số di vật của bộ đội Việt Nam, trong số ấy có một cuốn sổ của chính trị viên Lê Thanh Hải, người ta đã tìm được trong quyển sổ một dòng thông tin về người lính tên Tuyến với số hiệu 170071 - trùng khớp với thông tin trên bi đông. Đây là manh mối quan trọng để xác minh danh tính liệt sĩ Trần Minh Tuyến.
Hồi tưởng lại giây phút bốc mộ, chị Thủy kể với chúng tôi về những vật dụng khác của liệt sĩ, gồm có thuốc, băng, mặt nạ chống độc, cũng như tấm tăng để quấn xác đồng đội hy sinh, phần nào khắc họa công việc của liệt sĩ Tuyến trong chiến trận.
Em trai của liệt sĩ là ông Trần Đại Dương (67 tuổi) cho chúng tôi hay rằng gia đình có 5 anh chị em. Anh Tuyến là con cả, nhập ngũ khi vừa tròn 18 tuổi, chưa kịp lập gia đình. Ngày anh Tuyến lên đường ra trận, gia đình chỉ kịp tiễn trong vội vã, chẳng ngờ rằng đó lại là lần gặp cuối cùng.
Cuộc hồi hương hài cốt liệt sĩ Trần Minh Tuyến, trong bối cảnh rộng hơn, là ví dụ điển hình cho kết tinh của mối bang giao Việt - Mỹ. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam và Mỹ đã và đang hợp tác ngày một sâu rộng trong hoạt động quy tập hài cốt liệt sĩ, trong đó có VWAI.
Đây là một nỗ lực nhân đạo và hợp tác song phương với sự tài trợ của Chính phủ Mỹ nhằm giải quyết những di sản hậu chiến giữa hai nước, trong bối cảnh có đến hơn 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy, hơn 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính ở Việt Nam, trong khi phía Mỹ hiện vẫn còn hơn 1.500 trường hợp mất tích chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn.
Trong quá trình tham gia VWAI, chúng tôi đã tra cứu nhiều tư liệu từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Lưu trữ Bộ Ngoại giao Việt Nam và Mỹ và Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Việt Nam Sam Johnson (Đại học Công nghệ Texas).
Nói về tư liệu nghiên cứu của VWAI, cần quay lại cột mốc năm 1965, cũng là thời điểm quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Chỉ một năm sau đó, Lục quân Mỹ đã thành lập Trung tâm Khai thác tổng hợp tài liệu thu giữ (CDEC) để khai thác tình báo từ những tài liệu thu được trên chiến trường.
Những tài liệu này phong phú về hình thức, từ sổ tay, nhật ký, thư gửi gia đình cho đến danh sách quân nhân, được lưu giữ dưới dạng vi phim (microfilm). Khối tài liệu trên đã được giải mật vào năm 1979 và được Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Việt Nam Sam Johnson thuộc Đại học Công nghệ Texas (Mỹ), hiện cũng là đơn vị chủ trì dự án, mua lại vào năm 1998 và hoàn tất số hóa vào năm 2015.
Từ khoảng năm 2020, dự án khi được thành lập đã nghiên cứu những tài liệu kể trên, kết hợp với các ghi chú về thời gian, địa điểm, đơn vị thu giữ và bối cảnh liên quan để xác minh thông tin liệt sĩ và khoanh vùng các vị trí mộ phần tiềm năng. Bao niềm hy vọng đặt vào 2,7 triệu trang tư liệu mà dự án đang lưu giữ và ngày đêm nghiên cứu.
Bên cạnh việc tìm kiếm mộ phần, dự án còn trao trả những di bút của người lính về với gia đình. Có lẽ ít ai hiểu thấu giá trị của điều này hơn GS.TS Ron Milam, đồng chủ nhiệm dự án, giám đốc điều hành Viện Hòa bình và Xung đột thuộc Đại học Công nghệ Texas, đồng thời cũng là một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam.
Ông chia sẻ: "Nhiều năm về trước, khi còn là một người lính Mỹ ở Việt Nam, tôi vẫn nhớ mình đã tha thiết gửi thư về cho vợ đến mức nào. Có lẽ vì vậy mà tôi luôn nghĩ đến những người lính Việt Nam đã không có cơ hội đó".
Tâm sự của ông gợi cho chúng tôi nhớ về trường hợp của chị Nguyễn Thị Hoa, người mà chúng tôi chỉ được biết đến qua những câu chữ nồng nàn của bố chị là liệt sĩ Nguyễn Quang Số trong những đêm nhớ con da diết trên núi rừng Trường Sơn.
Trong quyển nhật ký, liệt sĩ viết: "Hoa con! Ba đã kiên quyết xin vào tuyến đầu miền Nam để thử thách với gian khổ và ác liệt. Nếu ba có hy sinh thì đây là lời trăng trối cuối cùng với con". Xót xa thay, năm 1968, chưa đầy một năm sau khi viết những dòng trên, anh Số đã hy sinh, cho đến nay chưa tìm được hài cốt.
"Qua lời kể của mẹ và bức ảnh duy nhất được gia đình lưu giữ thì ba tôi là người đàn ông có khuôn mặt điển trai, nghệ sĩ, sâu sắc và sống rất tình cảm. Đặc biệt ông học rất giỏi. Ý nguyện của ông là khi hòa bình lập lại sẽ trở về làm thầy giáo với mong muốn truyền dạy kiến thức về lịch sử nước nhà cho thế hệ trẻ. Thế nhưng chiến tranh ác liệt và rồi ba tôi đã anh dũng hy sinh".
Lời trăng trối của liệt sĩ Nguyễn Quang Số chỉ đi trọn một hành trình khi cuốn nhật ký đến tay cô bé Hoa năm nào, nay đã ngoài 60. Chị nghẹn ngào kể chúng tôi nghe về một tuổi thơ trống vắng vì thiếu đi sự che chở của người bố:
Vấn đề POW/MIA (Tù binh chiến tranh và quân nhân mất tích) luôn là nội dung quan trọng trên bàn đàm phán giữa các quốc gia. Trong quan hệ Việt - Mỹ, vấn đề này đã sớm được thảo luận từ ngày 27-1-1973, khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết và được hiện thực hóa trong Khoản b, Điều 8.
Đến cuối thập niên 1980 và đầu 1990, những tiến triển trong hợp tác POW/MIA đã tạo nền tảng quan trọng cho việc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ vào năm 1995. Trong tiến trình đó, không thể không nhắc đến vai trò của những cá nhân đã lặng lẽ đứng ra làm cầu nối giữa hai phía.
Vào năm 1985, trong cuộc tiếp xúc với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Mai, phái đoàn do ông Thomas Vallely - nhà sáng lập của Đại học Fulbright Việt Nam sau này - dẫn đầu đã đề cập và gặp hai cựu chiến binh Việt Nam công tác tại Bộ Thương binh - Xã hội.
Một mặt, hai cựu chiến binh chia sẻ nỗi mòn mỏi của gia đình đang kiếm tìm người thân cũng là các chiến sĩ mất tích. Mặt khác, họ hồi tưởng thuở chiến trận từng tận mắt chứng kiến nhiều lính Mỹ tử trận khi máy bay rơi đã được bộ đội Việt Nam chôn cất. Cuộc thảo luận trên củng cố thêm mối quan tâm rất người và nhu cầu hợp tác của cả hai nước trong việc tìm kiếm cựu chiến binh mất tích.
Đến năm 2013, việc tìm kiếm các liệt sĩ mất tích và hy sinh trong chiến tranh đạt đến một mức độ hoàn thiện nhất định về chu trình khi Chính phủ ban hành "song trụ" Quyết định 1237 về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và Quyết định 150 về xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.
Đây cũng là những tiền đề trực tiếp cho việc hình thành Ban Chỉ đạo 515 về sau. Hơn bốn thập kỷ sau ngày Hiệp định Paris được ký kết, âm vang của Điều 8 (b) trong Hiệp định Paris đã được nhìn thấy trên mảnh đất từng là chiến trường năm xưa.
Cũng vào thời gian Việt Nam bắt đầu xây dựng các cơ sở dữ liệu về mộ liệt sĩ và liệt sĩ chưa quy tập được hài cốt, một sự việc bất ngờ kết nối những con người ở cách nhau nửa vòng trái đất.
Tháng 1-2017, trung sĩ Bob Connor, một cựu quân nhân trong lực lượng an ninh không quân Mỹ, trong lúc hướng dẫn con gái làm bài tập về cuộc chiến đã để lại chú thích trên trang Google Earth về một ngôi mộ chung chôn cất các quân nhân Việt Nam tại sân bay Biên Hòa trong giai đoạn Tết Mậu Thân.
Chỉ 10 ngày sau, cựu chiến binh Chế Trung Hiếu đã phát hiện chú thích này và chủ động liên lạc với ông. Cùng với đại tá Martin Strones, ông Bob Connor đã sắp xếp một chuyến bay đến Việt Nam để tìm kiếm ngôi mộ tập thể.
Tuy các hoạt động tìm kiếm ban đầu không diễn ra như mong muốn do sự thay đổi về địa hình, phía Việt Nam cuối cùng đã tìm thấy ngôi mộ tập thể, cách vị trí theo ký ức của hai ông Bob và Martin chỉ 20 thước. Những duyên lành như vậy đã tiếp tục nuôi dưỡng mầm tin, để Việt Nam và Mỹ tiến xa hơn trong công cuộc hàn gắn nỗi đau thời hậu chiến.
Khi chúng tôi đang viết những dòng này, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" tại Di tích quốc gia đặc biệt thành cổ Quảng Trị.
Cũng trong những ngày này, Ban chủ nhiệm VWAI hiện đang ở Việt Nam để làm việc với Ban Chỉ đạo 515 để bàn về những hướng hợp tác dài hơi trong việc phân tích tư liệu CDEC và tìm kiếm những người Việt Nam mất tích từ mọi phía của cuộc chiến. Khéo vén những tàn dư mịt mùng của chiến tranh, nay xin mượn câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du để ngẫm về ba thập kỷ hun đúc mối bang giao Việt - Mỹ:
"Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời".
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Những người lính 'ăn nắng, ngủ gió' xây ước mơ cho buôn làng trên dãy Trường Sơn

Con đường dẫn vào các xã vùng cao A Vương, Tây Giang, Đắc Pring, Hùng Sơn, La Dêê và La Êê (thành phố Đà Nẵng) những ngày này như bị nung chảy dưới cái nắng gắt gao của miền Trung. Đường gập ghềnh, quanh co, nhiều đoạn chỉ vừa đủ cho một chiếc xe tải nhỏ len lỏi giữa một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu mây phủ. Tiếng máy trộn bê tông vang rền, hòa lẫn tiếng cuốc xẻng và tiếng gọi nhau của các cán bộ, chiến sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng.
Tại công trường ở xã A Vương, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi đỉnh núi, những người lính đã bắt đầu một ngày làm việc mới. Người trộn vữa, người vận chuyển gạch, người dựng cốt pha... nhịp nhàng như một cỗ máy.
"Ở đây, nắng không giống dưới xuôi. Nắng rát, khô, gió thổi nóng hầm hập. Nhưng nghĩ đến việc sớm có trường cho các em, chúng tôi lại có thêm động lực", một chiến sĩ trẻ vừa quệt mồ hôi vừa cười hiền nói.
Ở vùng biên này, một ngôi trường không chỉ là nơi học chữ, mà còn là nơi giữ chân những đứa trẻ ở lại với bản làng. Nhưng để xây dựng được một trường, thật cam go. Mỗi chuyến xe chở vật liệu là một hành trình đầy thử thách. Có những đoạn đường lầy lội sau cơn mưa rừng, xe phải dừng lại giữa chừng, người và hàng cùng "vật lộn" để vượt qua.
Với những người lính, đây là một "cuộc chiến" không tiếng súng nhưng cũng đầy gian khổ. Từng viên gạch đặt xuống lại là một cách khác để giữ biên cương. Giữa cái nắng như thiêu như đốt, giọt mồ hôi rơi xuống nền đất khô cằn, thấm vào từng lớp móng của 6 ngôi trường nội trú đang dần hình thành, chắt chiu hy vọng cho hàng ngàn trẻ em vùng cao.
Thượng tá Trần Văn Tám, Phó chính ủy Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 3 - Trà My (thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng), cho biết ngay sau khi nhận nhiệm vụ, tổ công tác gồm 35 cán bộ, chiến sĩ đã hành quân vượt quãng đường hơn 180 km từ đơn vị đến thôn A Zứt (xã A Vương). Dù điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, đường sá hiểm trở, nhưng anh em xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng.
"Không chỉ là xây trường, mà còn là xây niềm tin của người dân. Vì vậy, anh em làm việc với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm cao nhất", thượng tá Tám nói.
Để kịp tiến độ cho ngày khai giảng, các tổ công tác tổ chức thi công xuyên ngày đêm. Ban ngày tranh thủ nắng ráo, ban đêm chong đèn để hoàn thiện các hạng mục. Có những hôm, đến 22 - 23 giờ đêm, ánh đèn điện vẫn soi rõ những khuôn mặt đen sạm nhưng ánh lên niềm quyết tâm tại các điểm trường.
Tại công trường La Êê, khi hoàng hôn buông xuống, tiếng máy móc vẫn không ngừng nghỉ. Những tốp người thay nhau làm việc, chia ca hợp lý để giữ nhịp thi công liên tục.
Trung tá Trần Quốc Dũng, Phó chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 1 - Cẩm Lệ (thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng), người trực tiếp phụ trách thi công, kể rằng thời tiết vùng biên khắc nghiệt, mưa nắng thất thường. Nếu không tranh thủ từng giờ, từng ngày thì rất khó đảm bảo tiến độ. Vì vậy, mọi công việc phải tính toán kỹ để vừa đảm bảo sức khỏe cho anh em, vừa đảm bảo tiến độ công việc.
Có những hôm mưa bất chợt, công trường phải tạm dừng. Khi trời tạnh, mọi người lại lao vào làm việc, không để thời gian trôi đi lãng phí. "Ở đây, mỗi ngày công đều rất quý. Chậm một ngày là các em học sinh phải chờ thêm một ngày", trung tá Dũng nói.
Có mặt tại công trường La Êê, chúng tôi chứng kiến các chiến sĩ chia nhau từng ca nước, từng bóng râm hiếm hoi. Mồ hôi ướt đẫm áo, nhưng không ai than vãn. Hình ảnh người lính "ăn nắng, ngủ gió" trên công trường đã trở thành biểu tượng của tinh thần "vì nhân dân phục vụ".
Giữa khung cảnh ngổn ngang và bộn bề gạch đá, vẫn có những khoảnh khắc lặng lẽ khiến những người chứng kiến xúc động. Một nhóm trẻ em đứng bên hàng rào tạm, chăm chú nhìn các chú bộ đội xây trường.
Ánh mắt các em vừa tò mò, vừa háo hức. "Bao giờ trường xong hả chú?", một em nhỏ rụt rè hỏi. Đáp lại câu hỏi đầy hồn nhiên ấy, một người lính mỉm cười: "Sắp rồi con. Ráng chờ nhé!".
Câu trả lời giản dị như một lời hứa. Và để giữ lời hứa ấy, những người lính đang ngày đêm dốc sức. Mỗi công trình trường học do lực lượng vũ trang tham gia xây dựng ở vùng biên lâu nay đều mang một câu chuyện riêng. Ở Đà Nẵng, câu chuyện lần này gắn liền với một quan điểm rõ ràng: xây trường cũng là giữ đất, giữ dân bằng con chữ.
Quả thật, ở vùng cao thành phố Đà Nẵng, một ngôi trường mới có thể làm thay đổi rất nhiều điều. Khi các em học sinh có chỗ ở nội trú, không còn phải đi lại vất vả, việc học sẽ ổn định hơn. Một ngôi trường được dựng lên không chỉ là nơi học chữ, mà còn là nơi giữ chân trẻ em ở lại với bản làng, giữ cho tương lai không bị đứt gãy bởi cái nghèo.
Già làng Alăng Lấp (ở xã A Vương) cho hay trước đây nhiều em học giữa chừng rồi bỏ vì đường xa, khó khăn. "Có trường nội trú, tụi nó ở lại học được, dân mình mừng lắm. Có trường mới, con chữ sẽ dần len lỏi vào khắp các bản làng, để những đứa trẻ vùng cao có cơ hội bước ra khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo khó", già làng Alăng Lấp trải lòng.
Đại tá Trần Hữu Ích, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng, cho biết để đẩy nhanh tiến độ các trường học ở vùng biên, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố đã thành lập 5 tổ công tác, bố trí lực lượng bám trụ tại các công trường. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ không chỉ tham gia thi công, mà còn đảm nhận nhiều phần việc khác nhau, từ vận chuyển vật liệu, san lấp mặt bằng đến hỗ trợ kỹ thuật.
"Chúng tôi xác định, chăm lo đời sống nhân dân, đặc biệt là giáo dục ở vùng biên, chính là góp phần củng cố thế trận lòng dân. Khi người dân yên tâm sinh sống, con em được học hành đầy đủ thì biên cương sẽ được giữ vững từ gốc", đại tá Trần Hữu Ích nhấn mạnh.
Ngay từ khi triển khai nhiệm vụ, đơn vị đã quán triệt tư tưởng cho toàn bộ cán bộ, chiến sĩ: mỗi viên gạch, mỗi ngày công lao động không chỉ mang giá trị vật chất mà còn thể hiện tình cảm, trách nhiệm của lực lượng vũ trang đối với người dân.
"Qua đó góp phần lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, khi vừa lao động sản xuất vừa tham gia làm tuyên truyền viên để góp phần xây dựng địa bàn vững mạnh từ cơ sở", đại tá Trần Hữu Ích nói.
Khi hoàng hôn buông xuống trên dãy Trường Sơn nhưng ánh đèn vẫn còn sáng, tiếng người vẫn còn vang. Những người lính vẫn tiếp tục công việc của mình, âm thầm và bền bỉ...
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều tối 15/4, tại bãi biển Cửa Lò gần đảo Lan Châu, phường Cửa Lò, lực lượng cứu hộ đang ứng trực trên bờ thì nghe tiếng kêu cứu của người phụ nữ về việc có hai người thân bị đuối nước, đang bị sóng cuốn ra xa bờ.
Cán bộ cứu hộ lái canô ra hiện trường, huy động thêm thuyền thúng của ngư dân hỗ trợ. Thời điểm này biển động, sóng lớn, gió mạnh nên việc tiếp cận nạn nhân gặp nhiều khó khăn.
Sau hơn 5 phút, hai nạn nhân lần lượt đưa lên bờ an toàn.
Theo người thân, chiều qua hai em quê ở huyện Nam Đàn (cũ) cùng gia đình xuống biển Cửa Lò chơi, trong lúc tắm thì sóng mạnh ập tới, không kịp chạy vào bờ.
Một tuần qua, biển Cửa Lò liên tiếp xảy ra nhiều vụ đuối nước. Riêng ngày 10/4 có 4 người gặp nạn khi tắm biển, hai nạn nhân tử vong, trong đó có nữ sinh Lê Thị Quỳnh Chi, 17 tuổi, đã tử vong do lao xuống biển cứu bạn.
Theo Trung tâm Tìm kiếm cứu nạn và Phòng chống thiên tai phường Cửa Lò, khu vực xảy ra tai nạn có nhiều đá ngầm, dòng chảy mạnh và điểm nước sâu nguy hiểm. Du khách được khuyến cáo không nên tắm biển quá sớm (trước 6h) hoặc quá muộn (sau 18h) khi lực lượng cứu hộ chưa trực chốt.
Những ngày qua, Nghệ An bước vào đợt nắng nóng đầu mùa, lượng người đổ ra biển tăng cao, đặc biệt vào buổi chiều. Nhà chức trách khuyến cáo khi tắm biển, đặc biệt với trẻ em hoặc người lớn tuổi, cần có người giám sát đi cùng để phòng tránh sự cố.
Biển Cửa Lò cách trung tâm TP Vinh (cũ) hơn 10 km, cách Hà Nội hơn 300 km, là điểm du lịch nổi tiếng miền Trung, mỗi mùa hè đón hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước.
Tin Gốc: Vnexpress

