Lãnh đạo và các cấp chính quyền địa phương, gia đình và đồng đội đã đón thi hài liệt sĩ Trần Minh Tuyến trở về mai táng tại quê nhà, khép lại hơn nửa thế kỷ tìm kiếm, trong đó có sự đóng góp của Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh (VWAI).
3 giờ sáng 26-3, chị Nguyễn Thanh Thủy, một thành viên trong đội ngũ VWAI, bước lên chuyến xe 0 đồng mà chính chị kêu gọi được nhà hảo tâm tài trợ, cùng với gia đình liệt sĩ tại Hưng Yên, bắt đầu hành trình nửa chiều dài Tổ quốc để về đến Hải Lăng (Quảng Trị) để đưa hài cốt liệt sĩ Trần Minh Tuyến về quê nhà.
Trên đường đi, xe đón thêm ba cựu chiến binh từng tham gia trận đánh Câu Nhi năm 1972, hiện sống ở Thanh Hóa, để cùng về lại chiến trường xưa đón đồng đội năm nào. Ở nhà, các thành viên của dự án vừa trông tin từ chị Thủy, vừa ngẫm về một đoạn kết đẹp sau nhiều tháng dài xác minh danh tính của liệt sĩ mà VWAI đã góp một phần quan trọng.
“Liệt sĩ Tuyến là người như thế nào?”. Câu hỏi vang lên trên chuyến xe hôm ấy. Theo thời gian, ký ức của các cựu chiến binh đã phai dần, nhưng vẫn còn đọng lại bóng dáng một anh quân y hiền lành, khéo tay, viết và vẽ đều rất đẹp.
Trần Minh Tuyến sinh năm 1952 ở Thái Thụy, nhập ngũ tháng 8-1970, là chiến sĩ quân y thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308.
Anh hy sinh trên chiến trường Quảng Trị vào “mùa hè đỏ lửa” năm 1972, để lại mẹ già ngày đêm trông ngóng. Cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, cụ vẫn căn dặn con cháu phải đưa bằng được hài cốt con trai về với gia đình.
Hơn 50 năm qua, việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Tuyến vẫn luôn làm nặng lòng người ở lại. Tháng 4-2025, trong quá trình quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực cầu Câu Nhi, Đội quy tập 584 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị đã cất bốc được hai hài cốt cùng nhiều di vật, trong số đó có một chiếc bi đông đã biến dạng, bên trên còn rõ nét chữ khắc tay “Tuyến” và dãy số “170071”.
Bởi có hai người lính trùng tên trong trận đánh năm đó, việc xác minh đã gặp nhiều trắc trở. Mãi cho đến tháng 7-2025, khi VWAI trao trả cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia III một số di vật của bộ đội Việt Nam, trong số ấy có một cuốn sổ của chính trị viên Lê Thanh Hải, người ta đã tìm được trong quyển sổ một dòng thông tin về người lính tên Tuyến với số hiệu 170071 – trùng khớp với thông tin trên bi đông. Đây là manh mối quan trọng để xác minh danh tính liệt sĩ Trần Minh Tuyến.
Hồi tưởng lại giây phút bốc mộ, chị Thủy kể với chúng tôi về những vật dụng khác của liệt sĩ, gồm có thuốc, băng, mặt nạ chống độc, cũng như tấm tăng để quấn xác đồng đội hy sinh, phần nào khắc họa công việc của liệt sĩ Tuyến trong chiến trận.
Em trai của liệt sĩ là ông Trần Đại Dương (67 tuổi) cho chúng tôi hay rằng gia đình có 5 anh chị em. Anh Tuyến là con cả, nhập ngũ khi vừa tròn 18 tuổi, chưa kịp lập gia đình. Ngày anh Tuyến lên đường ra trận, gia đình chỉ kịp tiễn trong vội vã, chẳng ngờ rằng đó lại là lần gặp cuối cùng.
Cuộc hồi hương hài cốt liệt sĩ Trần Minh Tuyến, trong bối cảnh rộng hơn, là ví dụ điển hình cho kết tinh của mối bang giao Việt – Mỹ. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam và Mỹ đã và đang hợp tác ngày một sâu rộng trong hoạt động quy tập hài cốt liệt sĩ, trong đó có VWAI.
Đây là một nỗ lực nhân đạo và hợp tác song phương với sự tài trợ của Chính phủ Mỹ nhằm giải quyết những di sản hậu chiến giữa hai nước, trong bối cảnh có đến hơn 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy, hơn 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính ở Việt Nam, trong khi phía Mỹ hiện vẫn còn hơn 1.500 trường hợp mất tích chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn.
Trong quá trình tham gia VWAI, chúng tôi đã tra cứu nhiều tư liệu từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Lưu trữ Bộ Ngoại giao Việt Nam và Mỹ và Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Việt Nam Sam Johnson (Đại học Công nghệ Texas).
Nói về tư liệu nghiên cứu của VWAI, cần quay lại cột mốc năm 1965, cũng là thời điểm quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Chỉ một năm sau đó, Lục quân Mỹ đã thành lập Trung tâm Khai thác tổng hợp tài liệu thu giữ (CDEC) để khai thác tình báo từ những tài liệu thu được trên chiến trường.
Những tài liệu này phong phú về hình thức, từ sổ tay, nhật ký, thư gửi gia đình cho đến danh sách quân nhân, được lưu giữ dưới dạng vi phim (microfilm). Khối tài liệu trên đã được giải mật vào năm 1979 và được Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Việt Nam Sam Johnson thuộc Đại học Công nghệ Texas (Mỹ), hiện cũng là đơn vị chủ trì dự án, mua lại vào năm 1998 và hoàn tất số hóa vào năm 2015.
Từ khoảng năm 2020, dự án khi được thành lập đã nghiên cứu những tài liệu kể trên, kết hợp với các ghi chú về thời gian, địa điểm, đơn vị thu giữ và bối cảnh liên quan để xác minh thông tin liệt sĩ và khoanh vùng các vị trí mộ phần tiềm năng. Bao niềm hy vọng đặt vào 2,7 triệu trang tư liệu mà dự án đang lưu giữ và ngày đêm nghiên cứu.
Bên cạnh việc tìm kiếm mộ phần, dự án còn trao trả những di bút của người lính về với gia đình. Có lẽ ít ai hiểu thấu giá trị của điều này hơn GS.TS Ron Milam, đồng chủ nhiệm dự án, giám đốc điều hành Viện Hòa bình và Xung đột thuộc Đại học Công nghệ Texas, đồng thời cũng là một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam.
Ông chia sẻ: “Nhiều năm về trước, khi còn là một người lính Mỹ ở Việt Nam, tôi vẫn nhớ mình đã tha thiết gửi thư về cho vợ đến mức nào. Có lẽ vì vậy mà tôi luôn nghĩ đến những người lính Việt Nam đã không có cơ hội đó”.
Tâm sự của ông gợi cho chúng tôi nhớ về trường hợp của chị Nguyễn Thị Hoa, người mà chúng tôi chỉ được biết đến qua những câu chữ nồng nàn của bố chị là liệt sĩ Nguyễn Quang Số trong những đêm nhớ con da diết trên núi rừng Trường Sơn.
Trong quyển nhật ký, liệt sĩ viết: “Hoa con! Ba đã kiên quyết xin vào tuyến đầu miền Nam để thử thách với gian khổ và ác liệt. Nếu ba có hy sinh thì đây là lời trăng trối cuối cùng với con”. Xót xa thay, năm 1968, chưa đầy một năm sau khi viết những dòng trên, anh Số đã hy sinh, cho đến nay chưa tìm được hài cốt.
“Qua lời kể của mẹ và bức ảnh duy nhất được gia đình lưu giữ thì ba tôi là người đàn ông có khuôn mặt điển trai, nghệ sĩ, sâu sắc và sống rất tình cảm. Đặc biệt ông học rất giỏi. Ý nguyện của ông là khi hòa bình lập lại sẽ trở về làm thầy giáo với mong muốn truyền dạy kiến thức về lịch sử nước nhà cho thế hệ trẻ. Thế nhưng chiến tranh ác liệt và rồi ba tôi đã anh dũng hy sinh”.
Lời trăng trối của liệt sĩ Nguyễn Quang Số chỉ đi trọn một hành trình khi cuốn nhật ký đến tay cô bé Hoa năm nào, nay đã ngoài 60. Chị nghẹn ngào kể chúng tôi nghe về một tuổi thơ trống vắng vì thiếu đi sự che chở của người bố:
Vấn đề POW/MIA (Tù binh chiến tranh và quân nhân mất tích) luôn là nội dung quan trọng trên bàn đàm phán giữa các quốc gia. Trong quan hệ Việt – Mỹ, vấn đề này đã sớm được thảo luận từ ngày 27-1-1973, khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết và được hiện thực hóa trong Khoản b, Điều 8.
Đến cuối thập niên 1980 và đầu 1990, những tiến triển trong hợp tác POW/MIA đã tạo nền tảng quan trọng cho việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ vào năm 1995. Trong tiến trình đó, không thể không nhắc đến vai trò của những cá nhân đã lặng lẽ đứng ra làm cầu nối giữa hai phía.
Vào năm 1985, trong cuộc tiếp xúc với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Mai, phái đoàn do ông Thomas Vallely – nhà sáng lập của Đại học Fulbright Việt Nam sau này – dẫn đầu đã đề cập và gặp hai cựu chiến binh Việt Nam công tác tại Bộ Thương binh – Xã hội.
Một mặt, hai cựu chiến binh chia sẻ nỗi mòn mỏi của gia đình đang kiếm tìm người thân cũng là các chiến sĩ mất tích. Mặt khác, họ hồi tưởng thuở chiến trận từng tận mắt chứng kiến nhiều lính Mỹ tử trận khi máy bay rơi đã được bộ đội Việt Nam chôn cất. Cuộc thảo luận trên củng cố thêm mối quan tâm rất người và nhu cầu hợp tác của cả hai nước trong việc tìm kiếm cựu chiến binh mất tích.
Đến năm 2013, việc tìm kiếm các liệt sĩ mất tích và hy sinh trong chiến tranh đạt đến một mức độ hoàn thiện nhất định về chu trình khi Chính phủ ban hành “song trụ” Quyết định 1237 về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và Quyết định 150 về xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.
Đây cũng là những tiền đề trực tiếp cho việc hình thành Ban Chỉ đạo 515 về sau. Hơn bốn thập kỷ sau ngày Hiệp định Paris được ký kết, âm vang của Điều 8 (b) trong Hiệp định Paris đã được nhìn thấy trên mảnh đất từng là chiến trường năm xưa.
Cũng vào thời gian Việt Nam bắt đầu xây dựng các cơ sở dữ liệu về mộ liệt sĩ và liệt sĩ chưa quy tập được hài cốt, một sự việc bất ngờ kết nối những con người ở cách nhau nửa vòng trái đất.
Tháng 1-2017, trung sĩ Bob Connor, một cựu quân nhân trong lực lượng an ninh không quân Mỹ, trong lúc hướng dẫn con gái làm bài tập về cuộc chiến đã để lại chú thích trên trang Google Earth về một ngôi mộ chung chôn cất các quân nhân Việt Nam tại sân bay Biên Hòa trong giai đoạn Tết Mậu Thân.
Chỉ 10 ngày sau, cựu chiến binh Chế Trung Hiếu đã phát hiện chú thích này và chủ động liên lạc với ông. Cùng với đại tá Martin Strones, ông Bob Connor đã sắp xếp một chuyến bay đến Việt Nam để tìm kiếm ngôi mộ tập thể.
Tuy các hoạt động tìm kiếm ban đầu không diễn ra như mong muốn do sự thay đổi về địa hình, phía Việt Nam cuối cùng đã tìm thấy ngôi mộ tập thể, cách vị trí theo ký ức của hai ông Bob và Martin chỉ 20 thước. Những duyên lành như vậy đã tiếp tục nuôi dưỡng mầm tin, để Việt Nam và Mỹ tiến xa hơn trong công cuộc hàn gắn nỗi đau thời hậu chiến.
Khi chúng tôi đang viết những dòng này, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” tại Di tích quốc gia đặc biệt thành cổ Quảng Trị.
Cũng trong những ngày này, Ban chủ nhiệm VWAI hiện đang ở Việt Nam để làm việc với Ban Chỉ đạo 515 để bàn về những hướng hợp tác dài hơi trong việc phân tích tư liệu CDEC và tìm kiếm những người Việt Nam mất tích từ mọi phía của cuộc chiến. Khéo vén những tàn dư mịt mùng của chiến tranh, nay xin mượn câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du để ngẫm về ba thập kỷ hun đúc mối bang giao Việt – Mỹ:
“Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”.
Chiều 20/7, tại vỉa hè công viên đường Hồ Nghinh, phường Sơn Trà, ba người lặng lẽ thu gom từng bao rác tích tụ lâu ngày dọc lối đi bộ. Sự việc thu hút sự chú ý của nhiều du khách nước ngoài đang đi dạo gần biển Đà Nẵng. Có du khách dừng lại chụp ảnh, giơ ngón cái lên biểu thị sự khen ngợi.
Anh Đỗ Quang Trí, 32 tuổi, dùng liềm nhỏ khơi thông từng khe cửa thu nước mưa bị rác thải, lá cây và cát mịn bịt kín. Cạnh đó, chị Thiện Trần, 48 tuổi, cầm liềm sắt làm sạch những hàng cỏ dại sống bám trong khe gạch lát. Chị Trúc Vy, 31 tuổi, cùng một số người dân xung quanh quét dọn, gom rác lại một chỗ.
Dưới ánh đèn đường, cả nhóm di chuyển sang đường Trần Hữu Tước, bên hông Trung tâm Mục vụ Giáo phận Đà Nẵng. Nơi này các dòng xe du lịch thường xuyên đậu đỗ, để lại nhiều rác thải bừa bãi. Chỉ trong 3 phút, nhóm đã thu gom hai bao nylon lớn chứa đầy rác thải nhựa và hộp xốp.
Sáng kiến làm sạch vỉa hè do anh Đỗ Quang Trí khởi xướng từ đầu tháng 6. Anh Trí hiện là nhân viên bảo trì, vận hành kỹ thuật điện tại một khách sạn trên TP Đà Nẵng. Buổi chiều tan ca làm, anh đi bộ tập thể dục, chứng kiến tuyến đường gần nhà bị rác thải bủa vây, nhếch nhác và bốc mùi.
"Tập thể dục cũng để ra mồ hôi, hay mình đi dọn rác", anh Trí suy nghĩ rồi quyết định về nhà mang cuốc, xẻng ra thu gom rác vỉa hè ngay nơi mình sống. Sau hai ngày thu được kết quả tích cực, clip chia sẻ lên mạng được lan tỏa, anh quyết định mở rộng phạm vi ra các tuyến đường lớn quanh khu vực ven biển.
Hình ảnh anh Trí dọn rác trên đường Võ Nguyên Giáp đã thu hút sự chú ý của chị Thiện Trần. Chị Thiện Trần gốc Hà Nội, chuyển vào sống tại Đà Nẵng 3 năm qua, kinh doanh ôtô hạng sang. Nhận thấy công việc mang lại giá trị cho cộng đồng, chị chủ động xin gia nhập để đồng hành hằng ngày.
Đến nay, hành trình tự nguyện làm sạch vỉa hè của nhóm duy trì liên tục 45 ngày. Nhóm có thêm thành viên là chị Trúc Vy, 31 tuổi, sống gần sân bay Đà Nẵng. Mỗi buổi chiều, từ 17h đến 20h, sau khi hoàn thành công việc chuyên môn, cả ba lại tập trung tại các tuyến phố du lịch để bắt đầu ca làm việc kéo dài 3 tiếng.
Công việc vệ sinh vỉa hè đòi hỏi sức bền thể lực lớn do phải cúi người liên tục ngoài trời. Các thành viên phải dùng cuốc phát quang cây bụi, dùng liềm bóc tách từng khóm cỏ mọc lên từ các khe giãn của gạch lát vỉa hè, gốc cây, che phủ lối đi và tích tụ rác thải nhiều ngày; hốt cát trên vỉa hè vun vào gốc cây, thu gom rác...
Chị Thiện Trần, người tập gym chuyên nghiệp nhiều năm, cho biết công việc dọn dẹp thực tế khắc nghiệt hơn so với tập luyện trong phòng tập. Ở phòng gym có máy lạnh, mệt đến đâu cũng có khoảng nghỉ. Còn ra đường dọn vỉa hè phải dầm nắng mưa, tiếp xúc mùi hôi và vận động không ngừng.
"Tuy nhiên, khi nhìn thấy vỉa hè sạch sẽ, người dân và du khách được hưởng lợi từ môi trường xanh đẹp, mọi mệt mỏi đều biến mất", chị Thiện Trần nói.
Bên cạnh thể lực, khó khăn lớn nhất của nhóm là tìm điểm tập kết rác thải quy định sau khi thu gom. Do rác vỉa hè chứa nhiều đất cát, rác thải cồng kềnh, phế thải, nhóm không thể tự vận chuyển hết bằng xe máy cá nhân. Anh Trí đã chủ động liên hệ với công nhân môi trường đô thị tại địa phương để phối hợp thu gom rác về đúng nơi xử lý.
Nguồn chi phí mua sắm dụng cụ lao động như cuốc, liềm, găng tay và hơn 200 bao nylon khổ lớn trong suốt một tháng rưỡi qua do anh Trí và chị Thiện Trần tự bỏ tiền túi đóng góp. "Thi thoảng có người qua đường hoặc người dân ở khu dân cư mua tặng một chai nước, điều đó động viên tôi rất nhiều", anh Trí nói.
Qua 45 ngày hoạt động, nhóm đã dọn dẹp sạch sẽ nhiều tuyến đường lớn tại Đà Nẵng như Võ Nguyên Giáp (đoạn từ Vương Thừa Vũ đến công viên biển Đông), Hồ Nghinh, Trần Hữu Tước, Đỗ Thế Chấp, Trần Đình Đàn và khu vực quanh công viên Hồ Nghinh. Hàng tấn rác thải đã được xử lý.
Dù một số video ghi lại hành trình dọn dẹp của nhóm đạt gần 2 triệu lượt xem trên mạng xã hội, anh Trí khẳng định việc làm này hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện. Anh không có mục đích xây dựng kênh cá nhân để thu hút tương tác hay kiếm tiền.
Mục tiêu ban đầu chỉ đơn thuần là làm sạch môi trường sống xung quanh và giữ gìn hình ảnh văn minh của địa phương trong mắt du khách quốc tế. Theo anh, Đà Nẵng là thành phố du lịch trọng điểm nhưng nhiều khu vực vỉa hè công cộng vẫn còn tình trạng xả rác bừa bãi do ý thức người dân, du khách và thiếu người dọn dẹp thường xuyên.
"Thành phố biển Đà Nẵng thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước. Tôi mong muốn hành động nhỏ của mình sẽ lan tỏa đến cộng đồng, giúp mọi người nâng cao ý thức, không xả rác bừa bãi để giữ gìn môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp", anh Trí nói.
Đồng quan điểm, chị Thiện Trần cho rằng cơ quan chức năng cần có biện pháp xử lý nghiêm người xả rác bừa bãi, có thể phạt tiền nặng, buộc người vi phạm lao động công ích bằng việc nhặt rác trên đường phố để thay đổi hành vi.
Nhóm dự định sẽ tiếp tục công việc dọn dẹp vỉa hè cho đến khi mùa mưa bão bắt đầu, đồng thời sẵn sàng kết nối với những người dân có cùng mong muốn chung tay bảo vệ môi trường thành phố.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 94/2026 về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, thay thế văn bản số 160/2024.
Theo nghị định, cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch lái xe ôtô phải trang bị hệ thống định danh và xác thực điện tử, trong đó có thiết bị nhận diện khuôn mặt học viên. Hệ thống kết nối với các nền tảng số quốc gia nhằm bảo đảm việc nhận diện, xác thực và cung cấp giấy tờ điện tử của học viên từ khi đăng ký đào tạo đến khi sát hạch.
Các đơn vị phải triển khai hệ thống định danh và xác thực điện tử hoàn thành trước ngày 1/1/2027. Thời gian áp dụng sau 6 tháng khi nghị định có hiệu lực để các đơn vị có thời gian đầu tư phương tiện.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, hiện nay thủ tục đăng ký học và thi sát hạch vẫn sử dụng nhiều loại giấy tờ, dễ xảy ra sai sót khi kê khai. Chẳng hạn, nếu nhập sai số căn cước công dân, hệ thống có thể trả về thông tin của người khác, dẫn đến dữ liệu giữa khâu đào tạo và sát hạch không đồng bộ.
Việc áp dụng định danh và xác thực điện tử trong đào tạo, sát hạch lái xe tương tự quy trình kiểm soát tại sân bay. Người dùng không cần xuất trình giấy tờ mà chỉ cần qua hệ thống quét nhận diện khuôn mặt là có thể xác thực thông tin.
Khi triển khai trong đào tạo lái xe, hệ thống sẽ sử dụng thiết bị đọc thẻ căn cước công dân tích hợp camera nhận diện khuôn mặt, kết hợp phần mềm xác thực sinh trắc học. Học viên chỉ cần quét căn cước công dân, hệ thống sẽ tự động trích xuất và xác thực thông tin, thay cho việc kê khai thủ công như hiện nay.
Nhờ đó thay vì phải kiểm tra hồ sơ và đối chiếu thông tin thủ công, nhân viên trung tâm đào tạo chỉ mất vài giây để xác nhận dữ liệu học viên. Việc xác thực chính xác danh tính sẽ góp phần loại bỏ tình trạng học hộ, thi hộ, ngăn chặn gian lận.
Mô hình này cũng giúp đảm bảo dữ liệu người học lái xe "sạch" ngay từ đầu vào. Thông tin như nhân thân, tình trạng sức khỏe, ngày sinh, số định danh... sẽ được liên thông xuyên suốt từ khâu đào tạo đến sát hạch và cấp giấy phép.
Cục Đường bộ Việt Nam cho biết mỗi bộ thiết bị hiện giá khoảng 15 triệu đồng. Với hơn 370 cơ sở đào tạo lái xe trên cả nước, tổng chi phí đầu tư khoảng 5,5 tỷ đồng.
Chủ tịch UBND P.Tương Mai (Hà Nội) vừa ban hành quyết định chấp thuận Quy hoạch tổng mặt bằng khu vực cải tạo, xây dựng lại và tái thiết khu tập thể Trương Định, khu vực lân cận và các trục kết nối, tỷ lệ 1/500.
Phạm vi nghiên cứu được phê duyệt gồm 10 khối nhà cao 2 tầng (nhà A, B, C, D, E và H1 - H5) của nhà tập thể cũ Trương Định và khu vực xung quanh.
Tổng diện tích đất khu vực lập quy hoạch là hơn 14.600 m2, trong đó diện tích đất lập quy hoạch khu vực cải tạo, xây dựng lại và tái thiết khu tập thể Trương Định là hơn 13.700 m²; diện tích lại là khu vực mở các trục đường kết nối với đường ven sông Sét và đường Trương Định.
Theo quy hoạch tổng mặt bằng, diện tích xây dựng tối đa là hơn 3.600 m², trong đó bố trí 2 khối công trình nhà ở chung cư cao tầng (ký hiệu CT-01 và CT-02); các công trình cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục phụ trợ khác.
Tầng cao công trình là 33 tầng, gồm 30 tầng nổi, 3 tầng hầm (chưa tính 1 tum thang kỹ thuật trên mái).
Tổng diện tích sàn công trình tối đa hơn 121.000 m² , trong đó tổng diện tích sàn sử dụng tối đa (không bao gồm diện tích khu kỹ thuật; diện tích phòng cháy, chữa cháy; diện tích đỗ xe…) là gần 85.700 m². Mật độ xây dựng tối đa là 26,24%.
Cạnh đó, quy mô dân số khu vực lập quy hoạch khoảng 2.380 người. Sau khi tái thiết, số lượng căn hộ dự kiến khoảng 1.065 căn.
Việc xác định cụ thể số lượng căn hộ, cơ cấu căn hộ, diện tích căn hộ, quỹ nhà ở tái định cư, quỹ nhà ở thương mại, phương án kiến trúc công trình và các nội dung có liên quan sẽ được tiếp tục nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng và các bước tiếp theo theo quy định; bảo đảm không vượt quá các chỉ tiêu quy hoạch được chấp thuận tại quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500.
Quy hoạch tổng mặt bằng cũng dành hơn 3.800 m2 đất cây xanh, cảnh quan công trình và gần 6.500 m2 đất giao thông nội bộ.
Thuyết minh về quy hoạch tổng mặt bằng, đơn vị tư vấn cho biết khu tập thể Trương Định gồm 10 tòa nhà tập thể cũ cao 2 tầng. Một số căn trong khu tập thể cơi nới nâng lên 5 tầng. Việc xây dựng cơi nới tự phát làm tăng quy mô dân số, mật độ xây dựng gấp nhiều lần so với thiết kế ban đầu.
Tổng số căn hộ và các hộ gia đình nhà liền kề xung quanh khu tập thể là 398 căn, trong đó có 390 hộ theo biên bản điều tra hộ khẩu, nhân khẩu; 8 hộ thuộc các tuyến đường kết nối giao thông với trục chính.
Các công trình này được xây dựng từ những năm 1970 - 1980, đến nay đã bị biến dạng, không còn giữ nguyên bản. Hầu hết các công trình nhà ở chung cư đã bị xuống cấp, đặc biệt là về chất lượng, kết cấu và hạ tầng kỹ thuật…
Cạnh đó, khu vực lập quy hoạch có các tuyến đường ngõ xóm có mặt cắt nhỏ, cơ bản đảm bảo nhu cầu đi lại trước mắt của người dân trong khu vực. Tuy nhiên, về lâu dài, mạng lưới giao thông cần được cải tạo, nâng cấp, mở rộng để đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng, Hà Nội hiện có hơn 2.160 nhà chung cư cũ, tập trung tại 48 xã, phường. Các tòa chung cư này được xây dựng từ trước năm 1994, chủ yếu ở các quận nội thành cũ, cao từ 2 - 6 tầng, kết cấu tường gạch chịu lực, bê tông lắp ghép hoặc khung bê tông cốt thép chịu lực. Do đưa vào sử dụng đã hàng chục năm nên nhiều chung cư cũ bị xuống cấp nghiêm trọng.
Trong chương trình phát triển nhà ở, TP.Hà Nội đặt mục tiêu đến 2035 sẽ hoàn thành cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị đối với toàn bộ 2.160 nhà chung cư.