Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa “4 kiên định” về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: “Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng”.
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán “4 kiên định” về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà “thuyền to thì sóng lớn”. Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, “diễn biến hòa bình”, chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là “tự diễn biến”.
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh “cứng” (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Đây là nội dung đáng chú ý được nêu trong bài viết của Thành ủy Hà Nội thuộc phần tài liệu kỷ yếu, hội thảo khoa học chủ đề "Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới - những vấn đề lý luận và thực tiễn", do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 21.5 vừa qua.
Bên cạnh một số nội dung đã được Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng nêu tại hội thảo, bài viết của Thành ủy Hà Nội cũng đưa ra thông tin nguồn lực và lộ trình thực hiện đề án thí điểm xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa tại thủ đô.
Cụ thể, đối với nguồn lực, phương thức huy động và sử dụng nguồn lực được phân định rõ nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn lực xã hội hóa, cơ chế thu hút nhà đầu tư, cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành.
Hà Nội nghiên cứu mô hình tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phù hợp để bảo đảm tập trung, thống nhất, sát việc, sát cơ sở trong suốt quá trình triển khai đề án.
Nguồn lực thực hiện trên địa bàn đề án đề xuất lựa chọn triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" theo kế hoạch đầu tư công trung hạn (2026 - 2030) là 9.763,755 tỉ đồng và vốn ngoài ngân sách nhà nước là 181.517 tỉ đồng.
Thành ủy Hà Nội nêu rõ, về mục tiêu của đề án được xây dựng theo hướng xác định toàn bộ các xã, phường của thành phố áp dụng các tiêu chí phù hợp với địa phương mình để triển khai.
Thành phố lựa chọn địa bàn thí điểm để làm cơ sở thực tiễn tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá hoàn thiện tiêu chí để thực hiện trong toàn thành phố.
Việc nghiên cứu, xây dựng tiêu chí lựa chọn triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" theo nguyên tắc bảo đảm cân đối giữa tính đại diện và tính khả thi; không lựa chọn địa bàn quá đặc thù hoặc quá khó khăn để triển khai.
Ưu tiên địa bàn có điều kiện triển khai đồng bộ các nội dung của đề án, đặc biệt là khả năng tổ chức lại không gian phát triển; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương, có cam kết chính trị cao trong tổ chức thực hiện.
Lựa chọn thí điểm địa bàn theo tiêu chí lựa chọn xã, phường thí điểm được xây dựng: có điều kiện tổ chức không gian phát triển, còn nhiều dư địa phát triển; có vị trí tương đối độc lập, thuận lợi kết nối với các trục giao thông chính, hành lang xanh, hệ thống sông hồ và các không gian chức năng liên quan để bảo đảm tính khả thi và khả năng nhân rộng mô hình.
Việc lựa chọn địa bàn thí điểm không chỉ dựa trên các điều kiện hiện có mà còn chú trọng yếu tố động, đặc biệt là năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện và mức độ sẵn sàng đổi mới của hệ thống chính trị cơ sở, qua đó bảo đảm địa bàn được lựa chọn không chỉ “có điều kiện” mà thực sự “khả thi”, tạo ra kết quả thực chất và có khả năng lan tỏa, nhân rộng.
Phát biểu tại cuộc gặp gỡ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết mỗi lần đến Thái Lan đều xúc động, bởi nơi đây, với tên gọi Thầu Chín, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã truyền bá chủ nghĩa yêu nước, gieo mầm lý tưởng cách mạng và gây dựng cơ sở cho phong trào giải phóng dân tộc.
Di sản mà Người để lại là niềm tự hào của kiều bào Việt Nam tại Thái Lan, tài sản tinh thần quý báu của dân tộc, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về lòng yêu nước, ý chí độc lập và tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết trong chuyến thăm này sẽ trao đổi với lãnh đạo cấp cao Thái Lan về các định hướng hợp tác thời gian tới; khẳng định trong tiến trình đó, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan luôn là cầu nối quan trọng, góp phần thắt chặt tình hữu nghị và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Đối với cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận với truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần cần cù, cộng đồng người Việt đã ổn định cuộc sống, hội nhập tốt, đóng góp tích cực cho xã hội ở sở tại, đồng thời luôn giữ gìn bản sắc văn hóa, tiếng Việt, nếp Việt và hướng về quê hương.
Tâm huyết của bà con trong việc giữ gìn, phát triển Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phố Việt Nam, các di tích, công trình văn hóa của cộng đồng ở Udon Thani là minh chứng sinh động cho sức sống bền bỉ của văn hóa Việt, lòng tự hào dân tộc và tình cảm sâu nặng của cộng đồng người Việt Nam với Tổ quốc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ người Việt Nam tại Thái Lan - những người có lợi thế quý báu khi được lớn lên trong môi trường hội nhập, am hiểu văn hóa Thái Lan, đồng thời mang trong mình cội nguồn Việt Nam, sẽ học tập tốt, chấp hành nghiêm pháp luật sở tại, làm việc chuyên nghiệp, giữ tiếng Việt, hiểu lịch sử dân tộc và trở thành những nhịp cầu trẻ trung, năng động góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai đất nước.
Trân trọng cảm ơn Nhà nước, chính quyền và nhân dân Thái Lan đã dành sự quan tâm, tình cảm thân thiện và sự hỗ trợ quý báu đối với cộng đồng người Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ, sự sẻ chia, bao dung và môi trường thuận lợi ấy đã giúp bà con ta ổn định cuộc sống, hội nhập, phát triển, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp tục là cầu nối hữu nghị bền chặt giữa Việt Nam và Thái Lan.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực, đóng góp to lớn của Tổng hội người Việt Nam tại Thái Lan trong xây dựng, gắn kết và phát triển cộng đồng, là rường cột vững chắc của cộng đồng, cầu nối với quê hương và nhân tố tích cực vun đắp quan hệ hữu nghị Việt Nam - Thái Lan.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng, Nhà nước luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng Việt Nam tại Thái Lan, là bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc, là nguồn lực quý báu của đất nước và cầu nối quan trọng vun đắp quan hệ hữu nghị Việt Nam - Thái Lan. Trên tinh thần đó, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, hỗ trợ để bà con có địa vị pháp lý vững chắc, ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại, đồng thời phát huy bản sắc văn hóa, hướng về cội nguồn và gắn bó với quê hương, đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong cộng đồng người Việt tại Thái Lan tiếp tục đoàn kết, ổn định, phát triển vững mạnh, hội nhập tốt, đóng góp tích cực cho xã hội sở tại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về quê hương và làm sâu sắc thêm tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan.
Bà con đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau; xây dựng hình ảnh người Việt Nam tại Thái Lan cần cù, nhân ái, nghĩa tình, tôn trọng pháp luật, có trách nhiệm với cộng đồng; đồng thời tiếp tục phát huy giá trị các di tích, công trình văn hóa của cộng đồng; đẩy mạnh dạy và học tiếng Việt cho thế hệ trẻ, tăng cường kết nối doanh nhân, doanh nghiệp kiều bào với trong nước, thúc đẩy đầu tư, thương mại và hợp tác giữa hai nước.
Tổng hội người Việt Nam tại Thái Lan và các hội thành viên phát huy vai trò mái nhà chung, tập hợp, đoàn kết, hỗ trợ bà con cùng phát triển. Các cơ quan đại diện Việt Nam tại Thái Lan tiếp tục làm tốt công tác đối ngoại, bảo hộ công dân, chăm lo và đồng hành với cộng đồng, thực sự là chỗ dựa tin cậy để bà con gửi gắm tâm tư, nguyện vọng và tình cảm với quê hương, đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, tại cuộc gặp hôm nay, các kiến nghị của bà con sẽ được tổng hợp, chỉ đạo các cơ quan liên quan nghiên cứu và sớm có những giải pháp phù hợp để thực hiện.
Trước đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến dâng hương, dâng hoa tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan nơi Người đã từng sinh sống và hoạt động cách mạng.
Tại buổi hội kiến, ông Jo Yong Won nhấn mạnh chuyến thăm diễn ra vào thời điểm đặc biệt khi quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai nước đã bước vào giai đoạn phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Ban lãnh đạo Đảng, Nhà nước Triều Tiên và VN trong việc thúc đẩy phát triển quan hệ song phương theo tinh thần thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai nước tại Bình Nhưỡng tháng 10.2025.
Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã chuyển thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gửi tới Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc vụ Kim Jong Un, nhấn mạnh Đại hội XIV của Đảng Cộng sản VN đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử to lớn, tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng VN sau 40 năm Đổi mới, đề ra những mục tiêu, phương hướng lớn và các định hướng chiến lược đối với tương lai và vận mệnh dân tộc VN trong kỷ nguyên phát triển mới; quyết tâm xây dựng một nước VN hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; kiên định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
Trên cơ sở các định hướng lớn trong Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân VN luôn mong muốn không ngừng vun đắp và thúc đẩy quan hệ hai nước ngày càng phát triển thực chất, hiệu quả, phù hợp với nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, góp phần vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực và trên thế giới.
Ông Jo Yong Won nhấn mạnh lập trường trước sau như một của Đảng, Nhà nước Triều Tiên là mở rộng phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp có lịch sử lâu đời giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… theo tinh thần thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được tại Bình Nhưỡng tháng 10.2025; mong muốn hai bên nỗ lực củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, đưa quan hệ song phương phát triển bền vững.
Trước đó, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã làm việc với Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Quốc tế Đảng Lao động Triều Tiên Kim Song Nam và hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Triều Tiên Choe Son Hui.