Trong những năm vừa qua, BAF đang tích cực mở rộng trang trại chăn nuôi heo tại các tỉnh Nam Trung bộ và Tây nguyên. Nhà máy cám Bình Định khi đi vận hành sẽ cung ứng thức ăn chăn nuôi chủ yếu cho hệ thống trang trại của BAF tại khu vực này.
Cùng với 2 nhà máy khác đang đặt tại Tây Ninh phục vụ cho miền Nam và Nghệ An cho miền Bắc, việc vận hành thêm 1 nhà máy cám mới không chỉ là sự mở rộng về quy mô – hạ tầng, mà còn cho thấy chiến lược có tính hệ thống “trang trại ở đâu, nhà máy thức ăn mở rộng đến đó” của BAF.
Theo đại diện BAF, đối với chăn nuôi, chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm đầu ra (thịt). Việc đặt nhà máy cám tại khu vực gần các trang trại giúp doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách vận chuyển và các chi phí logistics khác, từ đó tối ưu về mặt quản trị vận hành và chi phí sản xuất.
Quan trọng hơn, nhà máy cho phép BAF chủ động nguồn thức ăn cho các trang trại trong khu vực, không phụ thuộc vào các nguồn cung thương mại từ bên ngoài, đảm bảo tính liên tục, ổn định và đồng nhất về mặt chất lượng trong quá trình chăn nuôi. Bên cạnh đó, miền Trung – Tây nguyên cũng là khu vực gặp khó khăn hơn về mặt vận chuyển với đặc thù địa hình và hạ tầng giao thông. Vì vậy, việc sở hữu nhà máy tại địa trí phù hợp không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tăng khả năng phản ứng nhanh với nhu cầu thực tế từ hệ thống trang trại.
Sau khi đưa nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi Bình Định vào vận hành, BAF sẽ nâng tổng mức công suất tối đa của 3 nhà máy cám lên tương đương 750.000 tấn/năm. Trong đó, 2 nhà máy Tây Ninh và Nghệ An đã được cấp chứng nhận GLOBAL G.A.P. (Bộ tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, quy trình sản xuất, và phát triển bền vững toàn cầu) và FSSC 22000 (Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm toàn diện).
Nhà máy Bình Định cũng đang được đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại, chuyển đổi số, quản trị trên nền tảng công nghệ SAP ERP và vận hành sản xuất dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đồng bộ với toàn hệ thống.
Trong mô hình phát triển Feed – Farm – Food, thức ăn chăn nuôi không đơn thuần là yếu tố đầu vào của vật nuôi, mà là nền tảng quyết định đến năng suất, chất lượng thành phẩm và hiệu quả kinh tế của toàn chuỗi sản xuất. Với BAF, an toàn thực phẩm chính là kết quả của toàn chuỗi vận hành hiệu quả, và Feed (sản xuất thức ăn chăn nuôi) chính là một mắt xích khởi đầu không thể thiếu, được doanh nghiệp đầu tư theo hướng chủ động và kiểm soát chặt chẽ.
Cụ thể, chủ động thông qua việc BAF tự nghiên cứu và phát triển công thức cám thuần thực vật, thay vì sử dụng các công thức thương mại sẵn có trên thị trường. Thành phần sử dụng trong cám thuần thực vật của BAF loại bỏ hoàn toàn các nguyên liệu từ động vật, thay bằng các nguyên liệu thực vật giàu dinh dưỡng như ngô, lúa mì, lúa mạch, khô dầu đậu nành, dầu cám gạo… kết hợp cùng khoáng hữu cơ, các axit amin thiết yếu giúp vật nuôi tăng khả năng hấp thu, tăng miễn dịch tự nhiên, hỗ trợ tiêu hóa hoạt động hiệu quả và giảm các nguy cơ bệnh tật.
Công thức được xây dựng bám sát với nhu cầu thực tế từ hệ thống trang trại giúp kiểm soát chất lượng theo một tiêu chuẩn đồng bộ và linh hoạt điều chỉnh dinh dưỡng phù hợp. Song song đó, doanh nghiệp cũng thiết lập quy trình kiểm soát nghiêm ngặt đối với nguyên liệu đầu vào. Từ khâu lựa chọn, kiểm định đến bảo quản, tất cả đều được thực hiện theo tiêu chuẩn nhằm đảm bảo độ an toàn và tính đồng nhất của sản phẩm thức ăn chăn nuôi.
Chiến lược dinh dưỡng cám không chỉ dừng lại ở bài toán chi phí, mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu tạo ra nguồn thực phẩm sạch và an toàn cho thị trường. Khi thức ăn chăn nuôi được kiểm soát chặt chẽ từ đầu vào, sức khỏe vật nuôi cũng được đảm bảo, tạo nền tảng cho các sản phẩm thịt đạt tiêu chuẩn cao hơn khi đến tay người tiêu dùng.
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, minh bạch về quy trình sản xuất, nguồn gốc sản phẩm, có tính quyết định trong việc nâng cao giá trị sản phẩm và củng cố niềm tin của thị trường. Từ việc xây dựng nền tảng năng lực sản xuất theo vùng đến chủ động kiểm soát dinh dưỡng và chất lượng đầu vào, BAF đang từng bước xây dựng một hệ thống vận hành đồng bộ và bền vững.
Tại buổi họp báo thường kỳ quý 1 của Bộ Tài chính chiều 9.4, ông Lê Long, Phó cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính), cho biết, cơ quan thuế đã xác định một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp có doanh thu lớn nhưng kê khai lỗ.
Việc doanh nghiệp kê khai kết quả hoạt động thua lỗ hoặc lãi rất thấp có thể do nhiều nguyên nhân.
"Tuy nhiên, qua thực tế quản lý, cơ quan thuế phát hiện nhiều trường hợp doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ nhiều năm vẫn tiếp tục mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư... Điều này đặt ra nhiều nghi vấn về tính trung thực trong thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thuế, kế toán…", ông Long nhấn mạnh.
Để khắc phục tình trạng doanh nghiệp kê khai lỗ nhiều năm, cơ quan thuế đã tăng cường rà soát việc khai thuế, nộp thuế của các doanh nghiệp, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế...
Liên quan tới quản lý thuế với doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm, lãi mỏng, trong công văn mới đây, Cục Thuế đề nghị Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn và thuế các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý thực hiện xây dựng chuyên đề kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế đối với 19 doanh nghiệp. Trường hợp không thể thực hiện kiểm tra, các đơn vị phải báo cáo rõ lý do.
19 doanh nghiệp này đều là "ông lớn" hoạt động trong nhiều ngành như thép, thủy sản, thức ăn chăn nuôi, vận tải biển... Cụ thể như bảng dưới đây:
Khi thực hiện kiểm tra đối với doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm, lãi mỏng, cần lưu ý tính hợp lý của doanh thu - chi phí - lợi nhuận, đặc biệt các khoản chi phí lớn, bất thường. So sánh, đối chiếu tỷ lệ biến động của doanh thu với tỷ lệ biến động của chi phí đầu vào tương ứng; rà soát, đối chiếu với các hồ sơ, tài liệu liên quan.
Kiểm tra thời điểm, căn cứ ghi nhận doanh thu và thuế giá trị gia tăng đầu ra bảo đảm đúng kỳ hạch toán, kê khai; đối chiếu các hồ sơ liên quan để xác định việc ghi nhận doanh thu, xác định số thuế phải nộp đúng quy định, tránh ghi nhận thiếu hoặc kê khai không đúng.
Rà soát việc kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào - đầu ra, kiểm tra hóa đơn, chứng từ bảo đảm hợp lệ và đúng kỳ kê khai.
Kiểm tra, rà soát các hồ sơ tài liệu của các khoản chi phí giá vốn, chi phí quản lý, chi phí bán hàng... phát sinh trong kỳ đảm bảo các khoản chi phí nêu trên phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, cần lưu ý kiểm tra các khoản chi phí lãi vay nội bộ tập đoàn; chi phí dịch vụ nội bộ tập đoàn như: chi phí dịch vụ trung tâm, chi phí ủy thác, chi phí hỗ trợ quản lý, chi phí bản quyền, nhượng quyền thương mại... đảm bảo phù hợp bản chất giao dịch độc lập và góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế; kiểm tra, rà soát kỹ các hợp đồng mua - bán hàng hóa với các bên có quan hệ liên kết, đảm bảo nguyên tắc độc lập trong việc xác định giá mua, giá bán hàng hóa.
Bên cạnh kiểm tra ngay 19 doanh nghiệp nêu trên, Cục Thuế đã rà soát, tổng hợp danh sách một số doanh nghiệp có doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ từ 1.000 tỉ đồng trở lên có phát sinh lỗ liên tiếp 2 năm 2023 và 2024, tổng là 302 doanh nghiệp.
Đơn vị này đề nghị thuế các tỉnh, thành phố, Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn, Chi cục Thuế thương mại điện tử rà soát danh sách, cập nhật số liệu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo số liệu kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 của các doanh nghiệp trực tiếp quản lý để phân tích, xác định các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế và đưa vào kế hoạch kiểm tra theo chuyên đề của năm 2026.
Danh sách doanh nghiệp đề xuất đưa vào kế hoạch kiểm tra theo chuyên đề, các đơn vị báo cáo về cục trong tháng 4.
Các đơn vị thực hiện những đề nghị về kiểm tra chuyên đề nêu trên ngay trong tháng 4, kết thúc kiểm tra chậm nhất trong tháng 12.
Ngày 9.4, tin từ Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng công trình giao thông tỉnh Tây Ninh cho biết, tính đến nay, dự án đường Vành đai 3 TP.HCM đoạn qua Tây Ninh đã đạt những kết quả rất khả quan, bám sát các mốc tiến độ yêu cầu của Chính phủ.
Cụ thể, tỉnh đã hoàn thành bàn giao 100% mặt bằng cho đơn vị thi công (dự án thành phần 8). Khu tái định cư tại xã Tân Bửu cũng hoàn tất và bàn giao nền cho các hộ dân bị ảnh hưởng.
Giá trị thực hiện của dự án thành phần 7 ước đạt khoảng 88,14%. Trong đó gói thầu XL1 (tuyến chính cao tốc) đã đạt 92% khối lượng, hoàn thành các hạng mục phức tạp như xử lý nền đất yếu, cầu Rạch Rích và hệ thống thoát nước; gói thầu XL2 (cầu Tân Bửu tuyến chính, tuyến trái nhánh và tuyến song hành) đạt khoảng 94,73%, đã hoàn thành kết cấu mố trụ và thảm nhựa mặt cầu; gói thầu XL3 (nút giao cuối tuyến) đạt 93,7%, các nhánh ramp kết nối với cao tốc Bến Lức - Long Thành đã hoàn thành và bàn giao để thông xe tạm.
UBND tỉnh Tây Ninh cho biết, công tác giải ngân vốn đầu tư công cho dự án này luôn nằm trong nhóm dẫn đầu. Trong 2 năm 2023 và 2024, dự án đều giải ngân đạt 100% kế hoạch vốn Trung ương và địa phương giao. Riêng năm 2025, nguồn vốn Trung ương hơn 831 tỉ đồng đang được tích cực đẩy mạnh thanh toán theo tiến độ nghiệm thu thực tế.
Dự án đường Vành đai 3 TP.HCM không chỉ là công trình giao thông trọng điểm quốc gia mà còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng cho khu vực phía nam. Với tổng mức đầu tư lên đến 75.378 tỉ đồng, dự án đi qua địa phận TP.HCM và 2 tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, tổng chiều dài khoảng 76,34 km.
Dự án được chia làm 8 thành phần. Tại phân đoạn qua tỉnh Tây Ninh, chiều dài tuyến 6,84 km, được chia thành 2 dự án thành phần chính: Dự án thành phần 7 tập trung vào xây dựng với tổng mức đầu tư 3.040 tỉ đồng; Dự án thành phần 8 chuyên trách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư với tổng mức đầu tư 1.168 tỉ đồng.
Dự án được thiết kế với quy mô hoàn chỉnh gồm 8 làn xe cao tốc (vận tốc thiết kế 100 km/giờ) và hệ thống đường song hành hai bên. Trong giai đoạn phân kỳ hiện tại, dự án tập trung xây dựng 4 làn xe cao tốc cùng đường song hành để sớm đưa vào khai thác, đáp ứng nhu cầu đi lại cấp thiết của người dân và doanh nghiệp.
Hiện tại, tỉnh Tây Ninh đã cơ bản hoàn thành các mốc tiến độ yêu cầu của Chính phủ. Với đà thi công như hiện nay, dự án đường vành đai 3 đoạn qua Tây Ninh dự kiến hoàn thành toàn bộ công trình, đưa vào khai thác chính thức trong năm 2026 đúng kế hoạch.
Dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná (phía nam tỉnh Khánh Hòa) là một trong những dự án LNG (khí thiên nhiên hóa lỏng) đầu tiên được lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu thầu quốc tế theo định hướng của Quy hoạch điện 8. Dự án góp phần hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Theo quy hoạch, Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná có công suất 1.500 MW, sử dụng công nghệ tua-bin khí chu trình hỗn hợp, dự kiến cung cấp khoảng 9 tỉ kWh điện mỗi năm cho hệ thống điện quốc gia. Dự án còn bao gồm hệ thống kho cảng LNG và tái hóa khí công suất từ 1 đến 1,2 triệu tấn/năm, bồn chứa dung tích 220.000 m³, bến cảng nhập LNG cùng các hạng mục hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.
Tổng diện tích sử dụng đất và mặt nước của dự án khoảng 139,7 ha, trong đó phần đất hơn 28 ha và mặt nước hơn 111 ha. Tổng mức đầu tư dự kiến đạt 57.385 tỉ đồng. Theo kế hoạch, dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná sẽ hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành vào năm 2030.
Không chỉ dừng lại ở một nhà máy điện, dự án LNG Cà Ná còn được định hướng phát triển thành tổ hợp công nghiệp - năng lượng quy mô lớn tại khu vực nam Trung bộ. Với lợi thế cảng nước sâu và điều kiện tự nhiên thuận lợi, khu vực này được kỳ vọng trở thành trung tâm trung chuyển LNG, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành năng lượng Việt Nam.
Song song với dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná, tại buổi lễ cũng diễn ra ký kết hợp đồng tín dụng cho Dự án Khu bến cảng Cà Ná giai đoạn 1 - Cảng biển tổng hợp Cà Ná giữa chủ đầu tư và Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Tổng mức vốn huy động tối đa 3.000 tỉ đồng, với cam kết giải ngân trước ngày 30.6.2027.
Cảng biển tổng hợp Cà Ná được định hướng là cảng nước sâu, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn từ 300.000 đến 500.000 tấn. Khi hoàn thành, cảng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống logistics, phục vụ vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là các thiết bị siêu trường siêu trọng phục vụ ngành năng lượng, điện gió ngoài khơi.
Đại diện nhà đầu tư, ông Nguyễn Tâm Thịnh, Chủ tịch Tập đoàn Trung Nam, cho biết việc ký kết các hợp đồng lần này là bước tiến quan trọng trong quá trình hiện thực hóa chuỗi dự án gồm cảng biển, kho LNG, nhà máy điện và khu công nghiệp xanh tại Cà Ná. Đây là bước tiến quan trọng trong việc hiện thực hóa cam kết của doanh nghiệp nội địa trong các dự án trọng điểm của khu vực và của đất nước theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW và chiến lược phát triển của tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn mới.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Trịnh Minh Hoàng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, cho rằng việc triển khai Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná không chỉ cung cấp nguồn điện nền ổn định cho khu vực nam Trung bộ và Tây nguyên, giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt điện năng mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đồng thời, dự án là bước tiến quan trọng nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 về giảm dần điện than và chuyển sang các nguồn năng lượng sạch hơn.
“Về phía tỉnh Khánh Hòa, dự án sẽ tạo động lực lớn cho tổ hợp công nghiệp - cảng biển - năng lượng tại khu vực phía nam tỉnh. Khi đi vào vận hành, dự án không chỉ đóng góp quan trọng cho ngân sách mà còn tạo ra hàng nghìn việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, xanh và bền vững”, ông Hoàng nhấn mạnh.