Dấu mốc quan trọng để gia đình sớm ổn định cuộc sống mới
Sáng 20/6, bà Nguyễn Thị Hạnh (phường Hồng Hà, Hà Nội) vượt chặng đường hơn 30km có mặt tại UBND xã Thư Lâm từ rất sớm.
Bà và nhiều hộ dân cùng đến để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mảnh đất tái định cư trên địa bàn thôn Thiết Úng, xã Thư Lâm.
Người phụ nữ cho biết, cả đêm gần như không ngủ vì háo hức. Sau nhiều năm gắn bó với phố Vạn Kiếp ven sông Hồng, bà chuẩn bị bước sang một chặng đường mới với nhiều kỳ vọng về cuộc sống ổn định và lâu dài.
Bà Hạnh cho biết, gia đình bà sinh sống tại phố Vạn Kiếp từ năm 1993. Thời điểm ấy, khu vực này còn rất hoang sơ, dân cư thưa thớt.
“Khi đó chúng tôi là những cư dân đầu tiên đến đây sinh sống, cùng nhau xây dựng cuộc sống ở khu vực ven sông Hồng. Điều kiện ban đầu còn nhiều khó khăn nhưng không gian rất thoáng đãng, bà con hàng xóm luôn đoàn kết, gắn bó và hỗ trợ nhau”, bà kể.
Theo bà Hạnh, những năm tháng sống tại Vạn Kiếp đã để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc. Từ căn nhà hai tầng ban đầu, theo nhu cầu sinh hoạt của gia đình, bà tiếp tục cải tạo, xây dựng thành ngôi nhà ba tầng trên diện tích 62m2. Gần 40 năm sinh sống tại đây, từng con ngõ, góc phố đều trở thành một phần ký ức không thể quên.
Dù lưu luyến nơi ở cũ, gia đình bà Hạnh luôn đồng thuận và ủng hộ chủ trương triển khai dự án của thành phố. Bà cho biết đã nghe thông tin về dự án khá lâu và được phổ biến đầy đủ về chủ trương, chính sách cũng như ý nghĩa của dự án đối với sự phát triển chung của Thủ đô.
“Tôi thấy đây là chủ trương đúng đắn. Dự án không chỉ góp phần chỉnh trang đô thị, cải thiện hạ tầng giao thông mà còn tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội cho thành phố. Vì vậy gia đình tôi hoàn toàn ủng hộ và chấp hành”, bà nói.
Theo bà Hạnh, điều khiến bà yên tâm hơn cả là khu tái định cư tại xã Thư Lâm có không gian rộng rãi, thoáng đãng, giao thông thuận tiện, phù hợp với nhu cầu sinh sống lâu dài của người dân.
Từ khi được bố trí đất tái định cư, bà đã nhiều lần đến khu vực này để tìm hiểu và chuẩn bị cho cuộc sống mới. Với số tiền đền bù, bà được tạo điều kiện mua mảnh đất rộng 80m2.
“Nhà tôi về đây rộng rãi hơn. Tôi hy vọng sau này khi người dân chuyển về đông đủ, mọi người sẽ tiếp tục đoàn kết, xây dựng một cộng đồng văn minh, hòa thuận như ở nơi ở cũ”, bà chia sẻ.
Cầm trên tay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vừa được trao, bà Hạnh cho biết đây là dấu mốc quan trọng để gia đình sớm ổn định cuộc sống.
“Thời gian tới, tôi sẽ xây nhà trên mảnh đất này để sinh sống lâu dài. Tôi sẽ cùng chồng, con gái và cháu chuyển hẳn về đây”, bà nói.
Có mặt cùng bà Hạnh, sáng 20/6, khoảng 200 hộ dân phường Hồng Hà được hướng dẫn đăng ký lấy số. Sau đó, đại diện UBND xã Thư Lâm trực tiếp trao tận tay bà con từng giấy chứng nhận có ghi đầy đủ thông tin chủ hộ, vị trí, diện tích mảnh đất.
Cầm trên tay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu tái định cư xã Thư Lâm, ông Hậu (phường Hồng Hà), cho biết, ông rất vui và phấn khởi khi quyền lợi của gia đình được đảm bảo.
Gia đình ông Hậu sinh sống tại Vạn Kiếp gần 40 năm trong căn nhà rộng khoảng 40m2. Sau khi bàn giao đất cho dự án xây cầu, gia đình được bố trí mua một lô đất tái định cư rộng 80m2 tại xã Thư Lâm.
“Hôm nay nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi rất vui và yên tâm. Tôi nghĩ các cơ quan chức năng đã làm việc nhanh chóng để người dân sớm ổn định cuộc sống”, ông nói.
Trao 200 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Lại Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Thư Lâm cho biết, sau khi các hộ dân phường Hồng Hà nhận quyết định giao đất tái định cư, chính quyền hai địa phương đã khẩn trương phối hợp hoàn thiện các thủ tục hành chính để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.
Theo ông Cường, việc trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chỉ là trách nhiệm của chính quyền mà còn là cam kết với người dân. Đây là vấn đề được bà con quan tâm, trăn trở nhiều nhất trong các buổi đối thoại trước đó.
Theo ông Cường, mục tiêu của tái định cư không chỉ là có nơi ở mới mà còn phải tạo điều kiện để người dân xây dựng cuộc sống tốt hơn. Ngoài hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đồng bộ, xã Thư Lâm cũng chú trọng phát triển hạ tầng xã hội phục vụ cư dân mới.
Dự kiến trong năm 2027, địa phương sẽ triển khai xây dựng một trường mầm non và một trường tiểu học đạt chuẩn mức độ 2, cuối năm 2026 sẽ khởi công xây dựng một trường THPT mới nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân trong khu vực.
Về sinh kế, ông Cường cho biết khu vực người dân Hồng Hà chuyển đến sinh sống nằm gần làng nghề gỗ mỹ nghệ Thiết Úng – làng nghề truyền thống nổi tiếng, được nhiều bạn bè quốc tế biết đến. Đây được kỳ vọng sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm, phát triển kinh tế cho người dân.
“Chúng tôi tin rằng với sự đồng hành của chính quyền, cùng những lợi thế về hạ tầng, văn hóa và làng nghề truyền thống, người dân sẽ sớm ổn định cuộc sống, tạo dựng sinh kế bền vững tại nơi ở mới”, ông Cường nhấn mạnh.
Phó Chủ tịch UBND xã Thư Lâm cũng cho biết, sáng 20/6, UBND xã đã trao khoảng 200 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân phường Hồng Hà. Các lô đất tái định cư nằm trên địa bàn hai thôn Thiết Úng và Hà Khê, đều thuộc những khu vực đã được đầu tư hoàn chỉnh về điện, đường, cây xanh, chiếu sáng và các công trình hạ tầng…
Bệnh viêm não Lethargica, viêm não Economo hay còn gọi là bệnh buồn ngủ, là một trong những căn bệnh kỳ lạ nhất trong lịch sử y học thế giới.
Chứng bệnh ngủ li bì lần đầu tiên được quan sát thấy vào thế kỷ 17, khi một số người ở London (Anh) đột nhiên rơi vào trạng thái buồn ngủ kéo dài với các triệu chứng tương tự như bệnh viêm não, không tỉnh dậy sau vài tuần, không uống, không ăn… Người ta đã cố gắng đánh thức họ bằng tiếng ồn, ánh sáng và bằng nhiều cách khác, nhưng vô ích.
Căn bệnh này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1917 bởi bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Áo Konstantin von Economo, người gọi nó là "viêm não hôn mê" (vì vậy thỉnh thoảng người ta còn gọi là bệnh Economo).
Các triệu chứng đầu tiên thường xuất hiện khá đột ngột, bắt đầu bằng đau đầu và cảm thấy mệt mỏi, sau đó xuất hiện trạng thái lơ mơ, đôi khi kèm theo mê sảng nhưng bệnh nhân dễ tỉnh giấc.
Bệnh có thể dẫn đến tử vong sớm hoặc sau vài tuần; nhưng nó có thể kéo dài trong nhiều tuần hoặc thậm chí vài tháng. Điều đáng sợ là căn bệnh này không có các triệu chứng đồng nhất.
Một phần ba số bệnh nhân mắc bệnh ngủ tử vong trong giai đoạn cấp tính, hôn mê không thể đánh thức hoặc rơi vào trạng thái mất ngủ nặng đến mức không thể bằng cách nào làm cho họ ngủ được, thường kết thúc bằng cái chết trong vòng 10 đến 14 ngày.
Do cảm thấy khó thở nên trong khi ngủ, bệnh nhân thường thực hiện các tư thế khác lạ. Đôi khi mất ngủ đi kèm với sự phấn khích cao liên tục, khiến bệnh nhân trở nên điên cuồng, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Những bệnh nhân này ở trong trạng thái phấn khích và vận động không ngừng cho đến khi chết, do hoàn toàn kiệt sức trong 1 tuần hoặc 10 ngày.
Trong hơn 2 thế kỷ sau đó, căn bệnh này không quay trở lại cho đến mùa đông năm 1916-1917, khi tại thủ đô Vienna của Áo và những thành phố châu Âu khác, mọi người bất ngờ có biểu hiện buồn ngủ. Một trong những ca bệnh đầu tiên được ghi nhận là ở ngoại ô Verdun (Pháp), nơi căn bệnh này đã hạ gục binh lính của khối Hiệp ước Entente.
Những năm 1920-1921 là giai đoạn dịch bệnh bùng phát dữ dội nhất. Bệnh buồn ngủ lan truyền qua giọt bắn li ti trong không khí, mà tác nhân gây bệnh được cho là một loại virus không xác định. Có phỏng đoán cho rằng, dịch bệnh này xuất hiện có liên quan đến "dịch cúm Tây Ban Nha" bùng phát trong những năm 1918-1919. Cơ thể người bị suy nhược do dịch cúm gây ra trở thành "con mồi" dễ tấn công đối với chủng virus mới, hoặc bệnh viêm não trở thành biến chứng hậu "dịch cúm Tây Ban Nha".
Bệnh buồn ngủ thường gây tử vong trong trạng thái hôn mê, hoặc ngược lại, khi nguời bệnh mất ngủ mạn tính. Tổng cộng có 1,6 triệu người tử vong do dịch bệnh này, chiếm 1/3 số bệnh nhân mắc bệnh. Một số người qua khỏi thì suốt quãng đời còn lại trở thành những "pho tượng sống", mất khả năng vận động và giao tiếp bằng lời nói.
Từ Romania, bệnh viêm não buồn ngủ lan truyền sang Ukraine và Nga. Ca bệnh đầu tiên được ghi nhận tại tỉnh Nizhegorod của Nga là vào tháng 3/1921, và trong vòng 3 năm sau đó tại đây phát hiện có tổng cộng 18 nam giới và 13 phụ nữ mắc bệnh này.
Những người đầu tiên tại Moskva mắc bệnh này là vào tháng 9/1922, và sau 2 tháng có rất nhiều người tìm đến bác sĩ với những triệu chứng lạ.
Theo số liệu của Giáo sư Mikhail Margulis – Bộ môn bệnh thần kinh thuộc Trường Đại học Moskva, số người mắc bệnh tại thủ đô của Liên Xô vào đầu năm 1923 là gần 100 người, trong khi đỉnh dịch diễn ra vào tháng 1 năm đó. Tại Bệnh viện Staro-Ekaterininskaya, cứ 4 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh này thì có một người không qua khỏi.
Giáo sư Mikhail Margulis cho biết, bệnh viêm não có những biểu hiện khác nhau, nhưng phổ biến nhất là chứng buồn ngủ. Khi đó, bệnh nhân rơi vào trạng thái mê man có thể kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng với thân nhiệt cao. Kể cả nếu có quấy rầy họ, thì họ vẫn thiu thiu ngủ ngay cả đang khi ăn. Điều này là do các cơ mắt bị liệt, sụp mí mắt, một số trường hợp cá biệt còn dẫn đến tật mắt lác.
Dịch bệnh ngủ ở Liên Xô đã trở thành tình trạng khẩn cấp thực sự, một ủy ban đã được thành lập để nghiên cứu bệnh Economo. Các quan sát lâm sàng phong phú đã trở thành cơ sở cho các chuyên khảo của N. Chetverikov, A. Grinshtein, cũng như các bộ sưu tập y học tập thể đã được xuất bản. Các chuyên gia này ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ngủ trong dân số Do Thái, cũng như mối tương quan của căn bệnh này với chấn thương và các bệnh tật khác.
Tuy nhiên, y học Liên Xô không thể phác thảo phương pháp điều trị hiệu quả, Phương Tây cũng chìm trong những phỏng đoán. Các bác sĩ Liên Xô đã đặt cược vào việc tăng cường khả năng miễn dịch, cải thiện chế độ ăn uống tổng thể, hoạt động thể chất hợp lý và chăm sóc y tế miễn phí, bao gồm cả việc khám sức khỏe hàng năm. Để bảo vệ bản thân khỏi bị nhiễm trùng, giáo sư Margulis khuyên nên thực hiện "các biện pháp phòng ngừa tương tự như đối với các bệnh truyền nhiễm khác".
Dịch bệnh viêm não buồn ngủ trên toàn cầu bắt đầu dần biến mất vào năm 1925 và chấm dứt hoàn toàn 2 năm sau đó. Về sau căn bệnh này không còn quay trở lại nữa, và hiện chỉ thi thoảng mới bắt gặp nhưng không biểu hiện rõ.
Ngày nay, bệnh viêm não Economo được gọi là "bệnh hiếm gặp lâm sàng". Đáng chú ý, đợt bùng phát diện rộng gần đây nhất được ghi nhận trên lãnh thổ hậu Xô viết là vào năm 2014, với 33 người dân tỉnh Akmolinsk của Kazakhstan bị nhiễm bệnh.
Trong hàng trăm năm qua, những phòng thí nghiệm tối tân nhất và những nhà khoa học hàng đầu đã cố gắng giải thích hiện tượng viêm não hôn mê và phát triển một phương pháp chữa trị, nhưng "virus buồn ngủ" - tác nhân gây bệnh dịch viêm não hôn mê vẫn chưa được phân lập, căn bệnh vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử.
Là một trong hai nữ quân nhân nhận danh hiệu Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2025, đại úy quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Thùy Dung (sinh năm 1995, chiến đấu viên Đại đội 8, Tiểu đoàn 36, Lữ đoàn 113, Binh chủng đặc công) có một hành trình tôi luyện đầy khắc nghiệt nhưng cũng vô cùng bản lĩnh.
Sinh ra trong gia đình có bố là bộ đội, mẹ là giáo viên, từ nhỏ Dung đã ấp ủ ước mơ trở thành người chiến sĩ. Tuy nhiên thấu hiểu sự vất vả của môi trường quân ngũ, bố mẹ đã định hướng cho cô theo học Đại học Lao động - Xã hội.
Suốt những năm tháng tuổi thơ và trên giảng đường, hình ảnh bộ quân phục của bố và hình ảnh người nữ chiến sĩ đặc công kiên cường, rắn rỏi luôn là nguồn động lực mạnh mẽ thôi thúc Dung quyết định viết đơn tình nguyện nhập ngũ.
Dung chia sẻ chính bố - một người lính - đã ảnh hưởng sâu sắc đến lựa chọn và hành trình của mình.
"Từ nhỏ, tôi học được ở bố sự chỉn chu, tinh thần làm việc nghiêm túc và trách nhiệm; hình ảnh bộ quân phục của bố cũng gieo trong tôi niềm yêu thích đặc biệt. Khi anh trai theo học Học viện Phòng không - Không quân, khát khao được khoác lên mình màu áo lính trong tôi càng lớn dần", Dung tâm sự.
Với Dung, hành trình gian khổ để trở thành một trong số ít nữ đặc công chống khủng bố không chỉ là quá trình thử thách, khám phá giới hạn bản thân, mà còn là lời hứa với gia đình, với bố.
Như cô đã viết trên trang Facebook dành tặng người bố vừa qua đời, sau khi cô nhận danh hiệu Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân: "Đây là món quà con dành cho bố Viết Hùng. Bố gật đầu chờ con về nhưng không kịp. Con đã cố gắng trong thời gian qua và con đã làm được. Bố cứ yên tâm về con gái bố nhé".
Từ quyết tâm ấy, Dung đã trở thành một trong số ít nữ chiến đấu viên đặc công chống khủng bố của Lữ đoàn đặc công bộ 113, Binh chủng đặc công.
Ở đây, Dung tìm thấy "ngọn lửa" đam mê của mình với võ thuật và bắn súng, từng bước tiếp nhận những kỹ năng tinh nhuệ của người chiến sĩ đặc công.
Dung nhớ lại những ngày huấn luyện với đầy thử thách, khổ luyện, đầy khắc nghiệt.
"Khi gạch ngói vỡ vụn trên ống chân, cánh tay hay lúc bàn chân trần trên những mảnh thủy tinh sắc nhọn, đặc biệt bài tập tam thương cắm tử huyệt, đó không chỉ là nỗi đau thấu xương, mà là sự đấu tranh giữa bản năng tự vệ của con người", Dung nhớ lại.
Để vượt qua, Dung chọn cách "lấy gian khổ làm người thầy, lấy thao trường làm điểm tựa".
Dung tự rèn cho mình thói quen "lì lợm" trước cơn đau, điều tiết hơi thở và sự tập trung cao độ để lấn át nỗi sợ hãi.
"Tôi hiểu rằng cơ bắp có thể đau nhưng tinh thần không được phép gục ngã. Đã có những vết thương rớm máu, những giọt mồ hôi mặn chát và cả những giọt nước mắt thầm lặng, nhưng chính sự quan tâm của chỉ huy cùng tình đồng đội ấm áp là điểm tựa để tôi vượt qua", Dung bày tỏ.
Dung nhớ lại cuối năm thứ 2 khi được tuyển chọn về đơn vị làm nhiệm vụ chống khủng bố, cùng với việc được huấn luyện, sử dụng thành thạo, hiệu quả các loại vũ khí, trang bị hiện đại, đặc chủng; bản thân cùng với 7 nữ chiến đấu viên của lữ đoàn được tuyển chọn huấn luyện đổ treo.
Từ máy bay trực thăng và tụt dây chiến thuật từ tòa nhà cao tầng, các kỹ thuật như tụt xuôi, tụt ngược, nhảy cóc ngang, cóc nghiêng, chạy vuông góc với tường, đủ nhanh để chiếm lĩnh vị trí chiến đấu.
"Khi đối mặt với bài tập đổ treo từ độ cao hơn 20m, tôi đã từng rơi nước mắt, đôi chân tưởng chừng như khuỵu xuống.
Thay vì sợ, tôi tự động viên mình phải kiên trì luyện tập. Tôi không nhìn vào sự nguy hiểm, tôi để tâm vào sự chuẩn xác của kỹ thuật", Dung xúc động kể lại.
Kết quả sau hơn một tháng huấn luyện, Dung đã làm chủ kỹ thuật, những kỹ năng vốn được coi là "đặc sản" của các nam chiến đấu viên.
Trải qua những tháng năm rèn luyện và cống hiến, Dung nhắn nhủ rằng đừng đợi cơ hội đến, hãy tự tạo ra bằng niềm đam mê, tính kỷ luật và sự dũng cảm, biến khát vọng cống hiến thành hành động cụ thể để vững bước tiến vào Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Một người đàn ông đi dạo buổi sáng ở tây nam Na Uy đã tình cờ phát hiện ra điều bất ngờ, một vỏ kiếm của chiến binh tinh nhuệ được chôn cất có chủ đích cách đây 1.500 năm, theo Livescience.
Các nhà nghiên cứu cho biết, vật thể bằng vàng quý hiếm này, được trang trí công phu bằng các hình động vật uốn lượn, có lẽ là một vật phẩm dâng lên các vị thần vào thời kỳ nạn đói và hỗn loạn xã hội.
"Tôi nhìn thấy một ụ đất dưới gốc cây và dùng gậy chọc vào nó", người đi bộ đường dài cho biết trong một bản dịch từ Đại học Stavanger ở Na Uy. "Đột nhiên, tôi thấy thứ gì đó lấp lánh. Tôi không hiểu lắm mình đã tìm thấy cái gì", người đàn ông cho biết.
Cổ vật bằng vàng có niên đại từ thế kỷ thứ sáu, dài khoảng 6 cm và nặng 33 gram, từng được dùng để trang trí vỏ kiếm của một chiến binh ưu tú. Cho đến nay, chỉ có 17 cổ vật tương tự được tìm thấy ở Bắc Âu và hầu hết được tìm thấy trong các kho báu cùng với các đồ vật khác.
"Xác suất tìm thấy một vật như thế này là rất nhỏ", Håkon Reiersen, một nhà khảo cổ học tại Bảo tàng Khảo cổ học Đại học Stavanger, cho biết trong một tuyên bố. Phần khóa vỏ kiếm bị mòn, cho thấy chủ nhân của nó đã sử dụng rất nhiều trước khi vứt bỏ.
"Người nào đeo thanh kiếm đó có lẽ là thủ lĩnh ở khu vực này vào nửa đầu thế kỷ thứ 6 và có một đội tùy tùng chiến binh trung thành đi theo", Reiersen nói.
Vật trang trí vỏ kiếm bằng vàng mới được phát hiện, nằm ở phía đông bắc Hove, rất hiếm và mang dấu ấn của một nghệ nhân lành nghề, Siv Kristoffersen, giáo sư danh dự tại Bảo tàng Khảo cổ học Đại học Stavanger, cho biết trong một tuyên bố.
"Những họa tiết chạm khắc tinh xảo đã đưa vật phẩm này vào hàng những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo nhất thời kỳ đó", Kristoffersen nói. "Đây hẳn là một thanh kiếm tuyệt vời".
Vật trang trí vỏ kiếm này là một phần của nhóm đồ vật hiếm và bí ẩn đôi khi được tìm thấy ở Scandinavia, bao gồm nhẫn xoắn ốc, mặt dây chuyền vàng hình đĩa và những vật trang trí vũ khí hình đàn harmonica. Các chuyên gia cho rằng nhóm hiện vật này được cố ý đặt ở đó như những vật "hiến tế" hoặc "vật tế lễ" được dâng lên các vị thần để cầu xin sự bảo vệ khỏi thiên tai.
Do vị trí của đồ trang trí bằng vàng trên vỏ kiếm nằm gần Hove, nên có thể đây là một trung tâm nghi lễ mà các nhà lãnh đạo của Hove có thể tiếp cận. "Do đó, phát hiện mới này là một mảnh ghép nữa cho thấy rằng đã từng có một trung tâm quyền lực xung quanh Hove từ năm 200 đến 550 sau Công nguyên", Reiersen viết trong một tuyên bố.
Giám đốc Bảo tàng Khảo cổ học Đại học Stavanger, Kristin Armstrong-Oma, cho biết hiện vật sẽ được trưng bày tại đây ngay sau khi các chuyên gia hoàn tất việc nghiên cứu. Bà nói: "Điều này cho phép chúng tôi nghiên cứu sâu hơn về chính hiện vật và các họa tiết trang trí, cũng như tìm ra những câu trả lời mới về tầng lớp quyền lực từng cai trị nơi đây".