Sáng 24/6, đại diện Công an xã Duy Xuyên, thành phố Đà Nẵng cho biết lực lượng chức năng đã kịp thời cứu hộ du khách người Đức bị tai nạn gãy chân khi đi “phượt” một mình trên địa bàn.
Theo thông tin ban đầu từ Công an xã Duy Xuyên, chiều 23/6, anh Baldus Kimi Marwin (21 tuổi, quốc tịch Đức) đi xe máy khám phá khu vực núi Hóc Chanh, thôn An Thành, xã Duy Xuyên, không may gặp tai nạn dẫn đến gãy chân.
Hoảng loạn nơi đất khách, không thể giao tiếp bằng tiếng Việt, nam du khách người Đức đã nhanh trí gửi định vị vị trí gặp nạn cho chủ nhà nghỉ để nhờ hỗ trợ.
Tiếp nhận tin báo lúc 16h25, hơn 20 cán bộ, chiến sĩ Công an xã Duy Xuyên cùng lực lượng an ninh trật tự cơ sở, quân sự xã, chính quyền thôn An Thành và người dân địa phương đã khẩn trương tổ chức tìm kiếm, tiếp cận hiện trường.
Dù thời tiết nắng gắt và địa hình đồi núi hiểm trở, các lực lượng đã phối hợp triển khai công tác cứu hộ, đưa nạn nhân ra khỏi khu vực nguy hiểm.
Đến khoảng 18h45 cùng ngày, du khách người Đức được đưa xuống núi an toàn và chuyển đến Bệnh viện Duy Xuyên để điều trị. Hiện sức khỏe của nạn nhân đã ổn định.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngày 6.5, tin từ Sở NN-MT tỉnh Đồng Tháp cho biết, trận mưa lớn kèm giông lốc xảy ra chiều tối 5.5 đã gây thiệt hại nặng tại xã Thanh Bình, khiến hàng chục căn nhà bị ảnh hưởng.
Theo thống kê, đến 8 giờ sáng 6.5, giông lốc đã làm sập 1 căn nhà, tốc mái 36 căn (trong đó có 25 căn bị tốc mái hoàn toàn). Ngoài ra, 7 trụ điện bị gãy đổ, nhiều cây xanh trên các tuyến đường chính bị quật ngã, gây cản trở giao thông cục bộ. Tổng thiệt hại ước tính hơn 600 triệu đồng.
Ngay sau khi thiên tai xảy ra, chính quyền địa phương đã khẩn trương huy động lực lượng công an, quân sự cùng các tổ chức đoàn thể có mặt tại hiện trường để hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả. Các tuyến đường nhanh chóng được dọn dẹp, đảm bảo lưu thông trở lại bình thường.
Hiện xã Thanh Bình tiếp tục huy động lực lượng tại chỗ hỗ trợ người dân sửa chữa nhà cửa, sớm ổn định cuộc sống. Đồng thời, các đơn vị chức năng đang rà soát, thống kê thiệt hại và triển khai các chính sách hỗ trợ theo quy định. Ngành điện lực cũng đang khẩn trương khắc phục sự cố, phấn đấu cấp điện trở lại trong ngày 6.5.
Theo Sở NN-MT tỉnh Đồng Tháp, từ đầu năm đến nay, Đồng Tháp đã xảy ra 2 vụ giông lốc, gây thiệt hại hơn 1,47 tỉ đồng, làm sập 1 căn nhà và tốc mái 88 căn, trong đó 40 căn bị hư hại hoàn toàn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ trưởng Xây dựng vừa ban hành Thông tư 31 sửa đổi Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Nhà chung cư (QCVN 04:2021), bổ sung các quy định về khu vực để xe, sạc xe điện và đổi pin tại chung cư xây mới và chung cư hiện hữu.
Theo Thông tư, khu vực để xe điện, khu vực sạc và khu vực đổi pin phải được bố trí trong phần diện tích dự án đã được phê duyệt.
Khu vực để xe điện phải bảo đảm điều kiện thoát nạn, thông gió, chữa cháy và khả năng chịu lực phù hợp. Vị trí bố trí được ưu tiên theo thứ tự: ngoài trời, trên mặt đất, tầng bán hầm, tầng hầm 1 và các tầng hầm tiếp theo. Nếu bố trí tại tầng bán hầm hoặc tầng hầm, chủ đầu tư phải có giải pháp giải phóng hoặc cô lập phương tiện khi xảy ra cháy.
Khu vực để ôtô phải được bố trí riêng với nơi để xe mô tô điện, xe gắn máy điện và xe đạp điện. Các khu vực này cũng được khuyến khích tách biệt với nơi để xe sử dụng nhiên liệu xăng, dầu. Trường hợp không thể bố trí riêng, khu vực để xe điện phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu an toàn kỹ thuật. Khoảng cách giữa các khu vực để xe tối thiểu 2 m hoặc được ngăn cách bằng vật liệu không cháy cao từ 2 m.
Khu vực để xe điện bắt buộc lắp camera giám sát, hệ thống báo cháy tự động và thiết bị cảnh báo khí carbon monoxide (CO), hydrofluoric acid (HF). Các thiết bị phải được chứng nhận chất lượng trước khi đưa vào sử dụng.
Khu vực sạc xe điện phải có tường ngăn cháy
Thông tư quy định giới hạn diện tích khoang cháy đối với khu vực sạc xe điện trong nhà chung cư, không áp dụng với khu vực bố trí ngoài trời trên mặt đất.
Cụ thể, khu vực sạc ôtô điện hoặc khu vực sạc hỗn hợp có diện tích lớn nhất của một tầng trong phạm vi một khoang cháy không vượt quá 1.500 m2 tại tầng nổi và 1.200 m2 tại tầng bán hầm hoặc tầng hầm.
Đối với khu vực sạc xe mô tô điện, xe gắn máy điện và xe đạp điện, diện tích tối đa tương ứng là 500 m2 tại tầng nổi và 300 m2 tại tầng bán hầm hoặc tầng hầm.
Các khu vực sạc ôtô điện, xe máy điện, xe đạp điện và khu vực sạc hỗn hợp trong nhà chung cư phải được ngăn cách bằng tường ngăn cháy loại 1 hoặc bằng khoảng trống, đường xe chạy không bố trí vật liệu cháy rộng tối thiểu 6 m.
Với khu vực sạc ngoài nhà chung cư, khoảng cách đến nhà, công trình hoặc kết cấu lân cận không được nhỏ hơn 3 m. Khoảng cách này có thể giảm xuống 1 m nếu có tường hoặc vách ngăn đặc bằng vật liệu không cháy cao ít nhất 2 m. Khu vực sạc ngoài trời cũng phải được trang bị phương tiện chữa cháy phù hợp.
Thông tư yêu cầu hệ thống cấp điện cho khu vực sạc xe điện phải tách biệt với các phụ tải khác của tòa nhà, bảo đảm đủ công suất vận hành và có khả năng dự phòng khi mở rộng số lượng trụ sạc.
Tủ đổi pin xe điện phải cách khu vực sạc tối thiểu 2 m
Khu vực đổi pin phải được bố trí trong phần diện tích dự án đã được phê duyệt, ưu tiên theo thứ tự: ngoài trời, trên mặt đất, tầng bán hầm và tầng hầm 1. Nếu đặt tại tầng bán hầm hoặc tầng hầm 1, công trình phải có giải pháp phù hợp để giải phóng hoặc cô lập tủ đổi pin khi xảy ra cháy.
Với khu vực đổi pin ngoài trời, khoảng cách tối thiểu từ khu vực đổi pin đến nơi tập trung đông người hoặc đường thoát nạn là 3 m; có thể giảm xuống 1 m nếu có tường hoặc vách ngăn bằng vật liệu không cháy cao ít nhất 2 m. Khu vực đổi pin phải được trang bị camera giám sát kết nối về phòng trực có người trực 24/24 giờ và phương tiện chữa cháy phù hợp. Nếu có mái che, mái phải sử dụng vật liệu không cháy.
Tủ đổi pin phải cách tối thiểu 6 m với cầu thang thoát nạn, sảnh thang máy, sảnh không nhiễm khói, cửa sổ, cửa đi và đường thoát nạn; cách khu vực để xe và khu vực sạc xe điện ít nhất 2 m. Các khoảng cách này có thể được giảm nếu bố trí vách ngăn cháy đạt tiêu chuẩn. Khu vực đổi pin trong nhà phải được trang bị hệ thống hút, xả khói cưỡng bức, camera giám sát kết nối về phòng trực 24/24 giờ và phương tiện chữa cháy theo quy định.
Thông tư cũng quy định tổng dung lượng lưu trữ pin không vượt quá 100 kWh đối với mỗi khu vực đổi pin ngoài nhà chung cư hoặc tổng dung lượng pin phân tán trong nhà chung cư. Mỗi phân vùng riêng biệt trên tầng nổi không được vượt quá 35 kWh, còn tại tầng bán hầm và tầng hầm 1 không vượt quá 18 kWh.
Tủ đổi pin phải có chức năng tự động ngắt nguồn điện khi xảy ra hiện tượng sạc bất thường, có thiết bị ngắt điện khẩn cấp, biện pháp bảo vệ chống va chạm cơ học và bảo đảm an toàn trước nguy cơ ngập nước.
Đối với chung cư xây mới, việc bố trí khu vực để xe, sạc và đổi pin phải phù hợp với lộ trình chuyển đổi phương tiện giao thông xanh của địa phương. Với chung cư hiện hữu, việc cải tạo được thực hiện trên cơ sở điều kiện thực tế về không gian, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống điện và phòng cháy chữa cháy.
Trong vòng 6 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực (15/12/2026), chủ sở hữu nhà chung cư hoặc tổ chức, cá nhân được ủy quyền phải hoàn thành việc rà soát khu vực để xe điện, khu vực sạc và đổi pin. Trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu của quy chuẩn, công trình phải được sửa chữa, cải tạo theo quy định để bảo đảm an toàn.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/12/2026.
Tin Gốc: Vnexpress

Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
- Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
- Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
- Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là "mệnh lệnh phát triển", thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm "made in Viet Nam".
- Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
- Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là "đứng trên vai người khổng lồ".
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
- Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
- Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
- Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Tin Gốc: Vnexpress

