PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo (Học viện Báo chí – Tuyên truyền) cho rằng khi nói “quan trọng hơn là để xây” thì không có nghĩa xem nhẹ việc “chống”, mà là sự nhấn mạnh đặc biệt vào nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.
Thực tế trong công tác xây dựng Đảng, Đảng luôn coi trọng cả việc xây và chống, vừa kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín và thanh danh của Đảng, vừa ra sức xây dựng Đảng luôn thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong và sứ mệnh của Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, theo ông Bảo, thực tế công tác xây dựng Đảng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều biểu hiện tiêu cực, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến uy tín của Đảng mà còn khiến cho niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút. Chính vì vậy, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quy định mới về công tác chính trị tư tưởng, Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ “xây”.
PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo cho rằng khi mỗi cán bộ, đảng viên được rèn luyện nêu gương và tu dưỡng đạo đức suốt đời theo gương Bác Hồ, họ sẽ tự hình thành một “sức đề kháng tự nhiên” trước các luồng tư tưởng sai trái và ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, yêu cầu cần thiết đối với cán bộ, đảng viên là kiên định về mục tiêu, lý tưởng; luôn đặt lợi ích của dân tộc, giai cấp, nhân dân lên trên hết, trước hết và phải nêu gương đạo đức, tu dưỡng đạo đức suốt đời; nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.
Đồng quan điểm, ông Hoàng Ngọc Đạo, Trưởng khoa Lý luận cơ sở, Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh: xây về bản chất cũng có nghĩa là chống.
“Trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta sẽ xây dựng nhiều tấm gương, nhiều hình ảnh, nhiều việc làm tốt đẹp để xây dựng niềm tin lòng tin trong quần chúng nhân dân, trong cán bộ đảng viên và hình ảnh của VN trước bạn bè quốc tế. Chúng ta đẹp như vậy thì không có cái gì để kẻ thù nói xấu, tức là chống rồi”, ông Đạo nói và nhấn mạnh tư duy này tương đồng với nguyên lý dùng sự tích cực để đẩy lùi tiêu cực một cách tự nhiên và bền vững.
Để công tác chính trị thực sự giữ vai trò “đi trước, mở đường”, theo PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo, công tác chính trị, tư tưởng phải luôn làm tốt và thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thời cơ, vận hội cũng như khó khăn, thách thức, để từ đó luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định công cuộc đổi mới.
Cạnh đó, cần khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc; cùng chung tay chung sức quyết tâm xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, làm rõ những âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, đặc biệt trên không gian mạng; từ đó nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại những toan tính của các lực lượng phản động, thù địch.
Công tác chính trị, tư tưởng, đặc biệt là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu cần chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt đặt ra cả về KT-XH, từ đó đề xuất những giải pháp từng bước tháo gỡ một cách có hiệu quả để tiếp tục phát triển.
Quy định mới về công tác chính trị, tư tưởng được ban hành với mục tiêu khắc phục hiệu quả tình trạng “nói không đi đôi với làm”, hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” đang gây lãng phí nguồn lực.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hải Phòng, thẳng thắn nhìn nhận trong không ít lĩnh vực, không thiếu chủ trương đúng, thậm chí rất đúng; không thiếu quy định pháp luật, cũng không thiếu các chương trình hành động được xây dựng công phu; nhưng khoảng cách từ “đúng” đến “được thực hiện” vẫn còn khá xa.
Một bộ phận cán bộ nắm rõ quy định, hiểu rõ yêu cầu nhưng triển khai chậm, né tránh, thậm chí đùn đẩy trách nhiệm. Điều này không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách mà còn bào mòn niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, bà Nga cho rằng cần tiếp cận từ cả 2 chiều: siết chặt trách nhiệm thực thi và đồng thời tạo dựng môi trường để cán bộ dám hành động. Theo đó, bà Nga đề nghị cần thiết lập một cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân rõ ràng, cụ thể và có thể đo lường được.
Mọi chủ trương, chính sách khi ban hành phải đi kèm với địa chỉ trách nhiệm: ai chịu trách nhiệm chính, ai phối hợp, thời hạn hoàn thành là khi nào, tiêu chí đánh giá ra sao. “Không thể để tình trạng báo cáo chung chung, “đúng quy trình” nhưng không phản ánh được hiệu quả thực chất”, bà Nga nêu.
Cùng với đó, bà Nga cho rằng cần tăng cường cơ chế hậu kiểm và xử lý trách nhiệm. “Nếu “nói không đi đôi với làm” mà không có hệ quả rõ ràng thì rất khó tạo chuyển biến. Việc đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ “đánh giá quá trình” sang “đánh giá kết quả”, lấy sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo”, bà Nga phân tích.
Tuy nhiên, theo nữ đại biểu, siết kỷ luật thôi là chưa đủ vì một nguyên nhân sâu xa của tình trạng “biết nhưng không làm” là tâm lý e ngại rủi ro, sợ sai, sợ trách nhiệm của không ít cán bộ. Do đó, bà đề nghị cần sớm hoàn thiện khung thể chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
“Trước hết là làm rõ ranh giới giữa “sai phạm vì vụ lợi” và “rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo”. Những quyết định được đưa ra trên cơ sở vì lợi ích chung, có căn cứ, có quy trình, dù kết quả chưa như mong muốn, cần được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan”, bà Nga kiến nghị.
TS Nguyễn Viết Chức, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Văn hóa – xã hội, Ủy ban T.Ư MTTQ VN, thì cho rằng để khắc phục tình trạng “nói không đi đôi với làm” cần giải quyết 2 điểm mấu chốt: tăng cường công khai, minh bạch và phải thay đổi cách đánh giá cán bộ.
“Minh bạch, công khai là phương thuốc tốt nhất. Minh bạch không chỉ giúp cán bộ không dám làm sai, mà còn giúp họ tự tin làm đúng. Đây còn là cơ sở quan trọng để người dân có đủ căn cứ để mà tham gia giám sát, bảo vệ cán bộ”, ông Chức nói và kiến nghị cần công khai, minh bạch tất cả quy trình, thủ tục hành chính cũng như tài sản cán bộ.
Về đánh giá cán bộ, TS Nguyễn Viết Chức đồng tình phải có cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm. “Chính phủ đã có nghị định về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, song dường như vẫn chưa thực sự thẩm thấu vào đời sống.
Sau Hội nghị T.Ư 2, cần có đề án để tuyên truyền, triển khai đến từng cấp cơ sở, từng đảng viên, và với cả từng người dân. Người dân không thể đứng ngoài cuộc mà cần thực hiện giám sát, phản biện, đó cũng là cách thức để bảo vệ cán bộ”, ông Chức nói.
Sau cùng, yếu tố con người vẫn là then chốt. Theo bà Việt Nga, cùng với hoàn thiện thể chế, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, có năng lực và có đạo đức công vụ.
Khi mỗi cán bộ ý thức rõ trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời được đặt trong một hệ thống thể chế minh bạch, công bằng, thì thông điệp “nói đi đôi với làm” sẽ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà trở thành chuẩn mực hành động trong bộ máy.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 nhấn mạnh chỉ khi bám sát cơ sở, địa bàn dân cư, nắm chắc tình hình nhân dân, công tác Mặt trận mới thực sự hiệu quả.
"Gần dân, sát dân" không phải là khẩu hiệu hành chính mà đã trở thành phương thức hành động của Mặt trận các cấp. Điều này thể hiện rõ trong phong trào vận động hiến đất làm đường, chỉnh trang nông thôn mới tại nhiều địa phương của Hà Nội.
Ở Minh Châu, xã đảo duy nhất của Hà Nội, "dân vận khéo" không chỉ là khẩu hiệu, mà là cách giải quyết việc khó bằng phương châm công khai - lắng nghe - thuyết phục - đồng thuận, điển hình là phong trào "xanh thôn, sạch ngõ, đẹp điểm đến". Dân vận khéo còn thể hiện rõ trong việc chấn chỉnh công tác quản lý đất đai, đất công ích, xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, xã đã vận động nhân dân đồng thuận giải phóng mặt bằng mỏ cát phục vụ thi công dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.
Với phương châm "dân biết, dân bàn, dân hiểu, dân đồng thuận, dân giám sát", xã tổ chức đối thoại trực tiếp, công khai chủ trương và chính sách bồi thường. Kết quả, 100% hộ dân đồng thuận nhận bồi thường, bàn giao mặt bằng, bảo đảm tiến độ dự án và giữ vững an ninh trật tự. Đồng thời, khi xã có chủ trương mở rộng đường giao thông, xây dựng các khu vui chơi cộng đồng, nhiều hộ dân trên địa bàn đã hiến đất, góp tiền, ngày công lao động với sự đồng thuận cao.
Tại xã Vật Lại, hàng chục hộ dân tự nguyện hiến hàng trăm mét vuông đất, tháo dỡ công trình, tường rào để mở rộng đường giao thông nông thôn. Ở xã Đoài Phương, phong trào hiến đất được lan tỏa nhờ sự kiên trì tuyên truyền, đối thoại trực tiếp của Ban Công tác Mặt trận thôn. Xã Phượng Dực vận động nhân dân hiến đất chỉnh trang ao hồ, xây dựng hạ tầng đồng bộ, hướng tới tiêu chí đô thị văn minh.
Điểm chung ở những địa bàn này là Mặt trận không đứng ngoài vận động mà vào cuộc từ sớm, từ cơ sở. Cán bộ Mặt trận nắm bắt tâm tư, phân tích lợi ích lâu dài, tạo niềm tin rằng mỗi mét đất hiến tặng hôm nay chính là đầu tư cho tương lai con cháu mai sau. Khi người dân hiểu, người dân tin và đồng thuận, việc khó sẽ thành dễ, việc cá nhân sẽ trở thành việc chung, việc của làng, việc của nước. Vai trò "cầu nối" không còn trừu tượng mà hiện diện sinh động trong từng quyết định của mỗi gia đình, từng mét đường được mở rộng, diện mạo xóm làng khang trang, lòng người thêm nhiều niềm vui mới.
Công tác giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 1, đoạn Voi Phục - Hoàng Cầu (Hà Nội) lại là bài kiểm nghiệm vai trò của Mặt trận trong giải quyết những tồn tại cũ kéo dài, những "việc lớn, việc khó" của thủ đô. Đây là dự án trọng điểm, liên quan hàng nghìn hộ dân, đòi hỏi sự đồng thuận cao. Tại P.Giảng Võ, kinh nghiệm được nhấn mạnh là phải công khai, minh bạch, đối thoại nhiều vòng, giải thích cặn kẽ chính sách, lắng nghe từng kiến nghị cụ thể. Mặt trận phường cùng các tổ chức thành viên trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động, giám sát quá trình thực hiện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân.
Không chỉ là "người vận động", Mặt trận còn là kênh phản biện, góp ý để chính sách sát thực tế hơn. Khi người dân thấy tiếng nói của mình được lắng nghe, sự hy sinh quyền lợi riêng vì lợi ích chung sẽ trở nên tự giác hơn. Cụm từ "gần dân" là từ khóa được nhắc lại nhiều lần trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI. Trong phương hướng hành động giai đoạn 2026 - 2031, dự thảo nhấn mạnh tiếp tục đổi mới toàn diện về tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thực chất, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, đồng hành cùng nhân dân. Thực hiện tốt phương châm "khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia", đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân.
Tăng cường vai trò chủ trì của MTTQ VN, sự chủ động phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên, phát huy thế mạnh của từng tổ chức. Thực hành dân chủ; thực hiện tốt chức năng là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, lắng nghe và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Trong công tác xây dựng bộ máy của MTTQ VN giai đoạn mới, dự thảo yêu cầu phải tinh gọn, thực hiện đúng chức năng, không hành chính hóa, gần dân, gần cơ sở, gần không gian số, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Yêu cầu đối với cán bộ Mặt trận và các đoàn thể trong giai đoạn mới cũng được dự thảo nhấn mạnh phải là hạt nhân nòng cốt, giữ "3 gần": gần dân - gần cơ sở - gần không gian số; "5 phải": phải lắng nghe - phải đối thoại - phải làm mẫu - phải chịu trách nhiệm - phải báo cáo kết quả; "4 không": không hình thức - không né tránh - không đùn đẩy - không làm sai chức năng.
Cạnh đó, cần nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất đối với cán bộ chuyên trách công tác mặt trận các cấp, nhất là ở T.Ư. Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận, các tổ chức thành viên có phong cách, phương thức hoạt động gần dân, sát dân, đồng hành cùng nhân dân, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Vai trò gần dân, sát dân càng được khẳng định trong những thời điểm thiên tai, dịch bệnh. Trong đợt mưa lũ lớn năm 2025, Mặt trận các cấp đã xuyên đêm tiếp nhận, phân loại, vận chuyển hàng hóa, lương thực, thực phẩm tới đồng bào vùng lũ. Nhiều cán bộ, tình nguyện viên thức trắng nhiều ngày để bảo đảm từng chuyến hàng đến đúng nơi, đúng đối tượng và đến sớm nhất với đồng bào vùng thiên tai. Hình ảnh ấy không chỉ là sự tận tâm mà còn là minh chứng cho bản chất "vì dân" của hệ thống Mặt trận. Khi người dân gặp khó khăn, Mặt trận không chờ chỉ đạo mà chủ động kết nối nguồn lực xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết để sẻ chia kịp thời.
Không chỉ giải quyết những việc "truyền thống", Mặt trận còn tiên phong trong "việc mới" - chuyển đổi số. Nhiều địa phương trên cả nước đã triển khai chuyển đổi số toàn diện trong công tác tuyên truyền, giám sát, phản biện, tiếp nhận ý kiến nhân dân. Việc xây dựng "Mặt trận số" không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là mở rộng không gian tập hợp, phát huy dân chủ, để người dân có thể tham gia góp ý, phản ánh, giám sát thuận tiện hơn. Đây chính là bước đi phù hợp với yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả theo mô hình mới.
Trong bối cảnh cao điểm chuẩn bị công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp công tác hiệp thương, lấy ý kiến cử tri, nắm bắt dư luận được thực hiện công khai, minh bạch, kịp thời hơn. Qua đó, Mặt trận tiếp tục khẳng định vai trò chủ trì hiệp thương, bảo đảm lựa chọn những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Trong các mục tiêu cụ thể của giai đoạn 2026 - 2031 được đặt ra trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, các nhiệm vụ để Mặt trận thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân được nêu nổi bật. Cụ thể, hằng năm, 100% Ủy ban MTTQ VN, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên các cấp tổ chức "Tháng nghe dân nói". 100% Ủy ban MTTQ VN các cấp và các tổ chức thành viên có báo cáo phản ánh kịp thời tình hình nhân dân và đề xuất giải pháp, hướng giải quyết.
100% Ủy ban MTTQ VN, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên triển khai "Cổng Mặt trận số" tiếp nhận kiến nghị 24/7. Phấn đấu 100% xã, phường thiết lập trang mạng xã hội để tương tác trực tiếp với người dân, tiếp nhận phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân. Hằng năm, 100% Ủy ban MTTQ VN cấp tỉnh triển khai một mô hình điểm về đối thoại xã hội. Các tổ chức chính trị - xã hội ở mỗi cấp phấn đấu tham mưu, tổ chức ít nhất một hội nghị đối thoại giữa cán bộ đoàn viên, hội viên với cấp ủy, chính quyền cùng cấp.
Phát biểu trước cử tri tỉnh Phú Thọ ngày 6.3 vừa qua, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh trong phạm vi trách nhiệm của mình, Ủy ban sẽ tham mưu cho Đảng, kiến nghị, đề xuất với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách cụ thể hóa quan điểm "dân là gốc", "dân là chủ thể", "dân là trung tâm" của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Mọi chủ trương, chính sách đều phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và hạnh phúc của nhân dân.
Chiều 8.7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp cho ý kiến về việc chuẩn bị kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Phát biểu kết luận phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, dự kiến kỳ họp không thường lệ đầu tiên của khóa XVI sẽ khai mạc vào ngày 3.8 và bế mạc vào ngày 24.8, tổ chức họp trực tiếp. Kỳ họp sẽ được chia làm 2 đợt.
Theo Chủ tịch Quốc hội, kỳ họp sẽ xem xét, quyết định 27 nội dung, gồm: thông qua 20 luật, nghị quyết; cho ý kiến lần đầu 4 dự án luật và quyết định 3 nội dung quan trọng khác.
Trong đó, tại kỳ họp, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định 3 nội dung thuộc vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc trung ương.
Trước đó, tại buổi làm việc về đề án thành lập thành phố Quảng Ninh ngày 9.6, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng cho biết địa phương hiện đáp ứng đầy đủ 7/7 tiêu chuẩn thành phố trực thuộc trung ương, gồm quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính cấp phường, tỷ lệ đô thị hóa, vị trí và chức năng, tiêu chí đô thị loại I, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh nhận được sự đồng thuận của 99,96% hộ dân trên toàn tỉnh, trong đó 14 địa phương đạt tỷ lệ đồng thuận 100%. HĐND tỉnh đã thông qua đề án ngày 1.6.
Đầu tháng 4, Bộ Chính trị đã đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc trung ương trên cơ sở giữ nguyên toàn bộ địa giới hành chính tỉnh hiện nay.
Quảng Ninh nằm ở vùng Đông Bắc, giáp Trung Quốc, vịnh Bắc Bộ và các địa phương như Hải Phòng, Bắc Ninh. Tỉnh có diện tích đất liền hơn 6.200 km2, địa hình đa dạng, với hơn 2.000 đảo, tạo lợi thế phát triển du lịch, cảng biển và kinh tế biển.
Năm 2026, địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 12,5%, GRDP bình quân đầu người từ 11.800 USD, tổng thu ngân sách khoảng 100.000 tỷ đồng.
Hiện cả nước có 7 thành phố trực thuộc trung ương gồm: Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Đồng Nai. Trong đó, Đồng Nai vừa được Quốc hội quyết định thành lập thành phố trực thuộc trung ương vào đầu năm nay.
Ngoài Quảng Ninh, ngày 23.6, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký Kết luận 52 ngày 20.6 của Bộ Chính trị đồng ý về chủ trương thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh.
Chương trình gặp mặt văn nghệ sĩ khu vực phía nam năm 2026 do đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, chủ trì.
Chương trình còn có sự tham dự của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và đông đảo văn nghệ sĩ tiêu biểu trong và ngoài quân đội tại khu vực phía nam.
Phát biểu tại buổi gặp mặt, đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định văn học, nghệ thuật luôn là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần xã hội. Đội ngũ văn nghệ sĩ là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, có vai trò quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, lan tỏa các giá trị chân - thiện - mỹ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bồi đắp khát vọng phát triển đất nước.
Theo đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, những tác phẩm viết về lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và hình tượng "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời gian qua đã góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, văn học, nghệ thuật đang đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ văn nghệ sĩ phải tiếp tục phát huy bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và sứ mệnh nghề nghiệp.
Từ thực tiễn đó, đội ngũ văn nghệ sĩ cần sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, phản ánh chân thực công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời góp phần xây dựng sức mạnh mềm quốc gia trong thời kỳ mới.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cũng cho biết Tổng cục Chính trị sẽ tiếp tục tham mưu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng triển khai hiệu quả chiến lược phát triển văn hóa trong quân đội. Trong đó, chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để văn nghệ sĩ đi thực tế, thâm nhập đơn vị, tiếp cận đời sống bộ đội.
Bên cạnh đó, quân đội sẽ tiếp tục đầu tư phát triển các thiết chế văn hóa, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội và nhân dân; đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và hình tượng "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Chương trình gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ khu vực phía nam năm 2026 là dịp để các văn nghệ sĩ, nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa trao đổi kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật trong giai đoạn mới.
Thông qua chương trình, ban tổ chức kỳ vọng đội ngũ văn nghệ sĩ tiếp tục phát huy truyền thống của nền văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam; đổi mới tư duy sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong sáng tác, quảng bá tác phẩm.
Từ đó, tiếp tục cho ra đời nhiều công trình có giá trị về đất nước, con người Việt Nam, lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và hình tượng "Bộ đội Cụ Hồ", góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.