Nhiều năm nay, bà Nguyễn Thị Nguyệt (phường Hồng Hà, Hà Nội) thường xuyên phải đến Bệnh viện Thanh Nhàn để khám và theo dõi bệnh xương khớp cùng tăng huyết áp. Do khám ngoại trú trái tuyến, mỗi lần đi khám bà đều phải tự thanh toán toàn bộ chi phí khám bệnh và các xét nghiệm liên quan.
Tuy nhiên, từ ngày 1-7, chi phí khám chữa bệnh của bà sẽ giảm đáng kể nhờ được quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả một phần.
“Chúng tôi không phải xin giấy chuyển tuyến nữa mà có thể đến các bệnh viện khám bệnh và vẫn được BHYT thanh toán một phần chi phí ngoại trú. Như vậy cũng đỡ được phần nào gánh nặng kinh tế”, bà Nguyệt chia sẻ.
Không chỉ người dân kỳ vọng vào chính sách mới, các cơ sở y tế cũng đang khẩn trương chuẩn bị để đón lượng bệnh nhân có thể gia tăng trong thời gian tới.
Tại Hà Nội, nhiều bệnh viện như Thanh Nhàn, Đa khoa Đống Đa… mỗi ngày tiếp nhận khoảng 1.500 lượt khám ngoại trú và điều trị nội trú cho khoảng 1.100 người bệnh. Trong số đó, nhóm người bệnh tự đi khám trái tuyến chiếm khoảng 25%.
Để chuẩn bị cho chính sách mới có hiệu lực, các bệnh viện đã xây dựng các phương án về nhân lực, cơ sở vật chất và công nghệ thông tin nhằm bảo đảm hoạt động khám chữa bệnh diễn ra thông suốt.
Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, TS.BS Nguyễn Văn Thường, Giám đốc Bệnh viện Thanh Nhàn, cho biết bệnh viện đã hoàn tất các khâu chuẩn bị để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh dự kiến tăng mạnh ngay sau ngày 1-7.
“Khi chính sách BHYT mới có hiệu lực, chúng tôi dự báo lượng người bệnh trái tuyến có thể tăng lên khoảng 30-35%, đặc biệt là người dân từ các địa phương lân cận Hà Nội”, ông Thường nhận định.
Theo lãnh đạo bệnh viện, ngay khi các quy định mới được ban hành, đơn vị đã xây dựng các kịch bản ứng phó trên cả ba phương diện gồm cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và công nghệ thông tin.
Đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên y tế, cán bộ tiếp đón và công tác xã hội cũng đã được tập huấn đầy đủ về các quy định mới của Luật BHYT để sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ người bệnh.
Đặc biệt, hệ thống công nghệ thông tin của bệnh viện đã được nâng cấp đồng bộ, kết nối với hệ thống thanh toán BHYT quốc gia, cho phép tự động nhận diện thông tin bảo hiểm và tính toán chính xác mức hưởng của từng trường hợp ngay trên phần mềm quản lý bệnh viện.
Đồng thời, đơn vị đã rà soát nhu cầu sử dụng thuốc, vật tư y tế và xây dựng các phương án dự phòng trong trường hợp lượng người bệnh tăng đột biến.
“Người dân không cần lo lắng về nguy cơ thiếu thuốc hay vật tư y tế. Theo quy định hiện hành, nếu số lượng bệnh nhân tăng cao, bệnh viện được phép mua sắm bổ sung vượt tới 30% khối lượng trong kế hoạch đấu thầu ban đầu.
Đây là cơ chế quan trọng giúp các cơ sở y tế chủ động đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh thực tế”, ông Thường nhấn mạnh.
Theo tính toán, Bệnh viện Thanh Nhàn hiện có thể đáp ứng hiệu quả khoảng 2.000 lượt khám mỗi ngày.
Tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, công tác chuẩn bị cũng đã được triển khai từ sớm. Lãnh đạo bệnh viện cho biết đơn vị đã bố trí thêm các phòng khám dự phòng, xây dựng phương án phân luồng người bệnh và chuẩn bị nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh gia tăng.
Bên cạnh đó, bệnh viện cũng tập trung đào tạo nhân viên y tế nhằm nhận diện đúng các trường hợp được hưởng chính sách mới, đồng thời tăng cường truyền thông thông qua màn hình điện tử, poster hướng dẫn để người bệnh dễ dàng tiếp cận thông tin và thực hiện đúng quy trình.
Hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện cũng được nâng cấp để tự động xác định mức hưởng BHYT của từng người bệnh, giúp việc tiếp đón và thanh toán diễn ra thuận lợi hơn.
Nhiều người chỉ lo ngại tác hại của việc thiếu ngủ và cho rằng ngủ càng nhiều càng tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí khoa học Nature cho thấy cả ngủ quá ít lẫn ngủ quá nhiều đều có thể gây hại. Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu phát hiện thời lượng ngủ không phù hợp có liên quan đến quá trình lão hóa nhanh hơn ở nhiều cơ quan quan trọng như não bộ, tim, phổi và hệ miễn dịch.
Các nhà khoa học từ Trung tâm Y tế Đại học Columbia Irving, Mỹ, với sự dẫn đầu của tiến sĩ Junhao Wen, đã tiến hành phân tích dữ liệu của khoảng 500.000 người tham gia từ Ngân hàng sinh học Anh UK Biobank, trong độ tuổi từ 37 đến 84.
Kết quả cho thấy những người ngủ ít hơn 6 giờ hoặc nhiều hơn 8 giờ có dấu hiệu lão hóa nhanh hơn ở hầu hết mọi cơ quan.
Đáng chú ý, các nhà khoa học tìm ra "khung giờ vàng" cho giấc ngủ là từ 6,4 đến 7,8 tiếng mỗi đêm là tốt nhất, quá trình lão hóa các cơ quan sẽ chậm nhất nếu ngủ trong khung giờ này, theo trang tin khoa học Scitechdaily.
Ngủ sai thời lượng này sẽ phá vỡ sự cân bằng chuyển hóa và hệ miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh mạn tính, kể cả trầm cảm ở người lớn tuổi.
Cụ thể, ngủ không đủ giấc làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh mạn tính như béo phì, tiểu đường loại 2, tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ và rối loạn nhịp tim.
Trong khi đó, cả tình trạng ngủ quá ít lẫn ngủ quá nhiều đều có liên quan đến nguy cơ cao mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen suyễn và các rối loạn tiêu hóa như viêm dạ dày, trào ngược dạ dày - thực quản.
Đáng chú ý, ở người lớn tuổi, thời lượng ngủ bất thường còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần. Nghiên cứu cho thấy ngủ quá ít có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm một cách trực tiếp, còn ngủ quá nhiều có thể tác động gián tiếp thông qua các cơ chế sinh học khác.
Tiến sĩ Wen chia sẻ: Những phát hiện này ủng hộ ý tưởng rằng giấc ngủ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống não bộ - cơ thể, chứ không chỉ riêng não bộ. Mối liên hệ tổng thể giữa não bộ và cơ thể rất quan trọng vì nó cho thấy thời lượng giấc ngủ là một phần ăn sâu vào toàn bộ sinh lý của con người, với những tác động sâu rộng đến khắp cơ thể.
Vì vậy, để bảo vệ sức khỏe, cần duy trì thời gian ngủ điều độ và vừa đủ. Tốt nhất nên ngủ từ khoảng 6,5 đến 8 giờ mỗi đêm.
Anh Sơn mắc bệnh vảy nến thể mảng đã 10 năm nay. Dù đã kiên trì điều trị các loại thuốc bôi tại chỗ cũng như thuốc toàn thân cổ điển nhưng bệnh tình không tiến triển. Năm 2024, anh được chuyển tới Bệnh viện 19-8 điều trị với tình trạng vảy da trên nền da đỏ rải rác toàn thân.
ThS.BSCKII Phạm Ngọc Hảo, Trưởng Khoa Da liễu - Dị ứng - Miễn dịch, Bệnh viện 19-8, cho biết, thời điểm mới nhập viện, bệnh nhân rơi vào trạng thái rất bi quan, mặc cảm. Anh không dám hòa nhập với cộng đồng, thậm chí không dám bắt tay người khác do cơ thể liên tục xuất hiện những mảng da dày sừng, tróc vảy.
“Rất may bệnh nhân chưa có biểu hiện đau khớp. Sau khi làm các xét nghiệm, chúng tôi quyết định cho bệnh nhân sử dụng thuốc sinh học. Sau 6 tháng sử dụng , tình trạng bệnh đã tiến triển rõ rệt”, BS Hảo chia sẻ.
Thuốc sinh học điều trị bệnh vảy nến là liệu pháp mới điều trị cho người mắc bệnh vảy nến từ nhẹ đến nặng.
Ca bệnh được bác sĩ Hảo chia sẻ tại hội thảo khoa học: "Tối ưu hóa hiệu quả của phòng khám chuyên đề vảy nến - từ bằng chứng khoa học đến thực tế điều trị" diễn ra chiều 27/5.
Theo BS Hảo, bệnh vảy nến không nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Thời gian cần thiết để điều trị các tổn thương da hoặc da đầu có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống. Nhiều bệnh nhân cảm thấy mặc cảm, tự ti, thậm chí có trường hợp bi quan, muốn tìm đến cái chết.
Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, điều trị sớm bằng các biện pháp tiên tiến, bệnh nhân sẽ gần như trở về cuộc sống bình thường, kéo dài thời gian tái phát, không có nguy cơ mắc các bệnh lý kèm theo.
Khoảng 2% dân số Việt mắc bệnh vảy nến
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc Bệnh viện 19-8, cho biết, vảy nến là bệnh da mãn tính, ảnh hưởng nặng nề tới chất lượng cuộc sống của người bệnh. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế giới có khoảng 125 triệu người mắc bệnh vảy nến, chiếm khoảng 2-3% dân số toàn cầu.
Tại Việt Nam, ước tính khoảng 2% dân số mắc bệnh vảy nến. Số lượng người bệnh có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.
Không chỉ gây tổn thương ngoài da, vảy nến còn liên quan đến nhiều bệnh lý đồng mắc như viêm khớp vảy nến, tim mạch, rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường, béo phì và các rối loạn tâm lý như lo âu, trầm cảm.
Nhiều nghiên cứu cho thấy có tới 30% bệnh nhân vảy nến có thể tiến triển thành viêm khớp vảy nến nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
“Trong những năm gần đây, chuyên ngành da liễu đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các thuốc sinh học, các chiến lược điều trị cá thể hóa và mô hình quản lý bệnh nhân theo chuyên đề. Điều này đã mở ra cơ hội giúp người bệnh đạt được mục tiêu điều trị cao hơn, kiểm soát bệnh bền vững hơn và cải thiện rõ rệt chất lượng cuộc sống”, PGS Quang nói.
PGS.TS Lê Hữu Doanh, Giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho biết, bệnh viện đã hỗ trợ cơ sở y tế tuyến dưới thành lập các phòng khám chuyên đề. Hiện có gần 30 phòng khám vảy nến ở các tỉnh thành. Đến nay, đã có gần 30 phòng khám chuyên đề trên cả nước.
Nhờ vậy, bệnh nhân vảy nến được quản lý và điều trị ngay tại tuyến cơ sở, không còn phải vượt hàng trăm cây số mỗi lần tái khám.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, phối hợp Viện Nghiên cứu rau quả tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm.
Đại diện đơn vị chủ trì xây dựng dự thảo, ông Nguyễn Xuân Điệp, Viện Nghiên cứu rau quả, cho biết mỗi năm Việt Nam sản xuất hàng chục triệu tấn rau và có nhiều sản phẩm xuất khẩu. Rau là sản phẩm thiết yếu trong bữa ăn hằng ngày của người dân nhưng thực tế ngành rau đang đối mặt với thách thức lớn về an toàn thực phẩm, ô nhiễm nguồn nước, đất canh tác và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Cũng theo ông Điệp, tham gia sản xuất rau hiện nay phần lớn là hộ nông dân quy mô nhỏ lẻ, nếu áp dụng VietGAP, chi phí đầu tư, năng lực quản lý và duy trì chứng nhận tương đối cao, vượt quá khả năng của nhiều hộ.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, sau 15 năm triển khai tiêu chuẩn VietGAP, đến năm 2025, cả nước chỉ có hơn 8.000 ha được cấp chứng nhận VietGap, tương đương khoảng 0,5 - 0,6% tổng diện tích sản xuất (1,15 triệu ha trồng rau).
Cũng theo ông Điệp, điểm mới nổi bật của dự thảo TCVN là tiếp cận theo chuỗi và quản lý rủi ro, tập trung kiểm soát 3 nhóm mối nguy chính ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng: hóa học (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng); sinh học (vi khuẩn, nấm gây bệnh) và vật lý (dị vật, tạp chất).
Theo dự thảo đang xây dựng, nông dân chỉ cần ghi chép, lưu trữ các thông tin cốt lõi trong quá trình sản xuất rau như: tên cơ sở, giống, loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, thời gian cách ly...
Góp ý cho ban soạn thảo, GS-TS Trần Khắc Thi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả, cho rằng rau có mức độ rủi ro an toàn thực phẩm cao hơn nhiều loại nông sản khác. Nhiều loại rau được sử dụng trực tiếp mà không qua chế biến và xử lý nhiệt nên nguy cơ về an toàn thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng nên việc xây dựng, sớm ban hành tiêu chuẩn quốc gia về rau an toàn là cần thiết.
GS-TS Trần Khắc Thi cho rằng, trong nhóm kiểm soát chỉ tiêu hóa học, chưa thấy đề cập đến nitrat và kiến nghị bổ sung kiểm soát chất này trong TCVN. Nếu tích tụ trong rau ở mức độ cao, nitrat có thể chuyển hóa thành các chất gây ung thư.
Ông Nguyễn Quý Dương, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, khẳng định dự thảo TCVN mới về rau đảm bảo an toàn không phải để thay thế các tiêu chuẩn đang hiện hành. Thực tế có một số tiêu chuẩn hiện nay yêu cầu nông dân ghi chép nhiều quá, dẫn đến khó thực hiện.
Thực tế hiện nay, nhiều nông dân trồng rau chỉ sản xuất nhỏ lẻ, diện tích chỉ vài sào. Trong khi đó, luật An toàn thực phẩm chỉ bắt buộc các cơ sở lớn phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về an toàn thực phẩm và cho phép những hộ sản xuất nhỏ lẻ chỉ phải cam kết.
Từ đó, ông Nguyễn Quý Dương cho rằng, để những hộ nhỏ lẻ sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm, cần thiết phải có một tiêu chuẩn với những điều kiện đơn giản hơn, dễ làm, dễ kiểm soát sẽ thu hút số lượng nông dân tham gia chuỗi giá trị nông sản an toàn nhiều hơn giúp đảm bảo nguồn cung thực phẩm sạch ổn định cho người dân, nâng cao giá trị xuất khẩu.
Cũng theo ban soạn thảo, TCVN về rau an toàn được xác định là công cụ kỹ thuật hỗ trợ và bổ sung cho VietGAP chứ không thay thế VietGAP.
Nếu VietGAP hướng tới hệ thống quản lý toàn diện và chứng nhận sản xuất tốt, thì tiêu chuẩn này tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật cơ bản nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm và mở rộng khả năng áp dụng trong thực tế. Dự kiến tiêu chuẩn này sẽ được ban hành trong năm nay.