Dự án trên được triển khai tại Khu đô thị mới Ao Tiên đặc khu Vân Đồn và có tổng diện tích sử dụng 4,5ha, trong đó đất ở hơn 15.800m2, còn lại là đất giao thông, cây xanh và hạ tầng kỹ thuật.
Với tổng mức đầu tư trên 1.242 tỷ đồng, dự án xây dựng 7 tòa nhà gồm 5 tòa nhà ở xã hội, một tòa nhà ở thương mại và 1 nhà sinh hoạt cộng đồng. Dự án hoàn thành cung cấp 1.172 căn hộ chung cư, trong đó 938 căn nhà ở xã hội và 234 căn nhà ở thương mại để bán, cho thuê và cho thuê mua.
Theo cam kết của chủ đầu tư, đến quý IV/2027 hoàn thành thi công đưa vào sử dụng 2 tòa nhà ở xã hội. Đến quý IV/2029 hoàn thành thi công thêm 2 tòa nhà ở xã hội tiếp theo, đến quý III/2030 hoàn thành toàn bộ dự án.
Đây là dự án nhà ở xã hội đầu tiên trên địa bàn đặc khu Vân Đồn, với các toà nhà cao từ 12-14 tầng, không chỉ đáp ứng nhu cầu nhà ở, mà còn góp phần hoàn thiện cảnh quan đô thị của đặc khu kinh tế thế hệ mới Vân Đồn trong thời gian tới.
Phát biểu tại Lễ khởi công, ông Cao Tường Huy – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND đặc khu Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh khẳng định: Đặc khu Vân Đồn đang trong tiến trình xây dựng khu kinh tế biển hiện đại, trung tâm dịch vụ, du lịch, logistics và đô thị biển đảo văn minh, nhu cầu về nhà ở, nhất là nhà ở cho người lao động ngày càng trở nên cấp thiết.
Một đô thị phát triển bền vững không chỉ cần hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật, thương mại, dịch vụ đồng bộ, mà còn phải có những không gian sống phù hợp, nhân văn, để người dân yên tâm an cư, lập nghiệp, gắn bó lâu dài với địa phương.
Khởi công Dự án Nhà ở xã hội là sự kiện quan trọng, cụ thể hóa chủ trương của tỉnh Quảng Ninh về phát triển nhà ở xã hội; góp phần hoàn thiện diện mạo đô thị, nâng cao chất lượng môi trường sống cho đặc khu Vân Đồn trong giai đoạn phát triển mới.
Theo thông tin từ UBND tỉnh Quảng Ninh, nhằm phát triển nhà ở xã hội, UBND tỉnh đã ban hành các quyết định quy định các chính sách cụ thể của tỉnh về thi hành Luật Nhà ở, khung giá thuê, trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội…
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Trong khi đó, Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu phân bón đang duy trì mức thuế xuất khẩu 5% đối với phân ure và super lân. Điều này khiến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong nước cao hơn so với đối thủ quốc tế, từ đó làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Tại Tọa đàm trực tuyến "Cần chính sách giảm thuế xuất khẩu phân bón, thích ứng hội nhập thế giới" do Báo Nhà báo và Công luận tổ chức vào ngày 28/4, ông Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia thuế cao cấp, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Pháp chế Doanh nghiệp Việt Nam nhận định: Chính sách thuế xuất nhập khẩu phân bón của Việt Nam chưa thật sự linh hoạt.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông Phụng nói: Thị trường phân bón trong nước có tính thời vụ rất rõ rệt. Vào chính vụ, nhu cầu tăng cao, thậm chí có thời điểm cung không đủ cầu, buộc phải tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ngược lại, ở giai đoạn thấp vụ, nguồn cung trong nước lại dư thừa, khiến doanh nghiệp phải tìm đầu ra thông qua xuất khẩu. Điều này tạo nên thực tế "hai chiều": Vừa nhập khẩu trong cao điểm, vừa xuất khẩu khi dư cung.
Tuy nhiên, việc điều hành thuế xuất khẩu thời gian qua chưa thực sự kịp thời với biến động thị trường. Trong nhiều thời điểm nguồn cung tăng mạnh, việc chậm điều chỉnh chính sách, tiếp tục áp dụng mức thuế 5% đã khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.
Vì vậy, ông Phụng nhấn mạnh: Việt Nam cần thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh và linh hoạt hơn, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cân đối cung – cầu trên thị trường trong nước.
"Thuế không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết và can thiệp thị trường. Khi thị trường trong nước thiếu hụt nguồn cung, có thể sử dụng thuế xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu, ưu tiên nguồn hàng cho tiêu dùng nội địa. Ngược lại, khi nguồn cung trong nước dồi dào hoặc dư thừa, việc điều chỉnh giảm thuế sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và cân đối thị trường", ông Phụng nói.
Đồng tình với nhận định này, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam đánh giá: Với đặc thù sản xuất phân bón, đặc biệt là các sản phẩm như phân ure, đòi hỏi công nghệ cao và vận hành liên tục, sản lượng càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng được tối ưu. Tuy nhiên, đi cùng với đó là áp lực tiêu thụ sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định.
Trong bối cảnh này, vai trò điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách thuế trở nên đặc biệt quan trọng. Khi nguồn cung trong nước dư thừa, cần có cơ chế linh hoạt để thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngược lại, khi thị trường nội địa thiếu hụt, chính sách thuế cần được điều chỉnh kịp thời nhằm ưu tiên nguồn cung cho nông nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc điều hành chính sách chưa đạt được mức độ linh hoạt cần thiết. Cách tiếp cận còn chưa thật sự uyển chuyển, chưa theo kịp biến động nhanh của cung – cầu thị trường.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy điều hành, hướng tới một cơ chế chính sách linh hoạt, uyển chuyển hơn, qua đó tối ưu hiệu quả kinh tế và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa sản xuất, xuất khẩu và nhu cầu trong nước", ông Ngọc nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Thị Thanh Giang, Phó trưởng Ban Kế hoạch Kinh doanh Tập đoàn Hóa Chất chia sẻ: Ở thời điểm hiện nay, thị trường phân bón trong nước đang ở giai đoạn chính vụ nên lượng tồn kho tương đối thấp. Tuy nhiên, theo chu kỳ hàng năm, từ khoảng tháng 6 đến tháng 11, nhu cầu phân bón giảm mạnh, khiến tồn kho gia tăng.
Khi đó, vốn sản xuất không được quay vòng, chi phí lãi vay tăng lên, trong khi hàng tồn kho để lâu có thể suy giảm chất lượng (tăng độ ẩm, giảm hiệu quả sử dụng).
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải giảm công suất hoặc sản xuất cầm chừng, kéo theo chi phí bảo trì, bảo dưỡng tăng cao. Những chi phí này cuối cùng sẽ được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong cả năm, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tìm được đầu ra xuất khẩu trong giai đoạn thấp vụ, lượng hàng tồn kho sẽ được giải phóng, giúp duy trì sản xuất liên tục và giảm chi phí bình quân. Khi đó, giá thành mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm, tạo điều kiện hạ giá bán trong nước, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân.
Đáng chú ý, thị trường khu vực châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, có nhu cầu phân bón rất lớn, ước khoảng 18–20 triệu tấn mỗi năm, với mùa vụ có độ lệch so với Việt Nam. Cụ thể, vụ hè tại Ấn Độ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 7, vụ Đông từ tháng 10 đến tháng 11.
"Chính sự "lệch pha" này tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu vào thời điểm nhu cầu nội địa giảm, qua đó duy trì công suất và tối ưu chi phí sản xuất", bà Giang nói.
Tuy nhiên, chính sách thuế hiện hành đang tạo thêm rào cản cho hoạt động xuất khẩu. Khi xuất khẩu một tấn phân bón, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với rủi ro về giá (do phụ thuộc vào giá thế giới và thị trường nhập khẩu), mà còn phải chịu thuế xuất khẩu 5% đối với một số mặt hàng như urê, phân lân. Trong khi đó, nhiều quốc gia cạnh tranh đã đưa thuế này về 0% để khuyến khích xuất khẩu.
Vì vậy, nhiều chuyên gia đồng thuận rằng Việt Nam cần sớm rà soát và điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu phân bón theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu của thị trường. Đồng thời, cần xem xét đưa mức thuế xuất khẩu về 0% nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả sản xuất toàn ngành.
TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách - Viện Kinh tế và Thế giới Việt Nam đánh giá, bên cạnh việc điều chỉnh chính sách thuế, ngành phân bón Việt Nam hiện đang đối mặt với ba bài toán lớn cần được giải quyết đồng bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Thứ nhất là bài toán logistics. Chi phí vận chuyển và hạ tầng phục vụ xuất khẩu còn cao, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Do đó, cần đầu tư phát triển hạ tầng logistics chuyên dụng, gắn với các khu sản xuất lớn, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị cao hơn.
Thứ hai là vấn đề rào cản thương mại. Hoạt động xuất khẩu phân bón đang chịu ảnh hưởng bởi các quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau tại từng thị trường. Bên cạnh đó, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá, ngày càng gia tăng. Vì vậy, các bộ, ngành cần tăng cường cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó và giảm thiểu rủi ro khi tham gia thị trường quốc tế.
Thứ ba là yêu cầu chuyển đổi xanh. Ngành phân bón, vốn thuộc lĩnh vực hóa chất, chịu áp lực lớn về giảm phát thải và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng, công nghệ và đổi mới sản xuất để doanh nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, bền vững.
Theo TS Ngọc, chỉ khi đồng thời giải quyết được ba bài toán này, cùng với việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng linh hoạt, ngành phân bón Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh và tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường quốc tế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo thông tư về trình tự, thủ tục kiểm định và miễn kiểm định lần đầu đối với xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện cải tạo; cũng như kiểm định khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy, thay thế Thông tư 47/2024.
Đáng chú ý, dự thảo mới quy định về các trường hợp ô tô có sự thay đổi về trang, thiết bị nội thất, ngoại thất nhưng không được coi là cải tạo. Với những trường hợp này, nếu các hạng mục còn lại đều đạt, chủ xe sẽ được cấp chứng nhận đăng kiểm điện tử và tem kiểm định.
Với trang thiết bị nội thất gồm bọc nội thất, thay đổi cơ cấu điều chỉnh ghế, màn hình giải trí, thiết bị âm thanh, camera quan sát, camera hành trình, điều khiển điều hòa, đèn trang trí trong xe.
Với trang bị ngoại thất gồm thay đổi cản trước, cản sau, lưới tản nhiệt, ốp sườn, ốp viền chắn bùn, cánh gió đuôi, ốp vành bánh xe theo tùy chọn của nhà sản xuất. Các trang bị ngoại thất thay thế phải do nhà sản xuất cung cấp, đảm bảo sau khi lắp đặt, kích thước bao (dài x rộng x cao) của xe thực tế không vượt quá 100 mm so với thông số ban đầu; đồng thời khối lượng cơ bản không vượt quá sai số cho phép theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Dự thảo cũng quy định cụ thể các trường hợp, gồm: xe cơ giới thay đổi một số kết cấu thùng hàng như bịt kín hoặc thay đổi kết cấu cánh cửa thùng hàng, thay thế tôn bọc dạng phẳng thành dạng sóng hoặc ngược lại; bọc thêm tôn phần khung mui của xe mui phủ; lắp thêm hoặc tháo bỏ nắp chắn bụi cho thùng chở hàng của ô tô tải tự đổ, rơ-moóc tải tự đổ, sơ mi rơ-moóc tải tự đổ; lắp thay thế hoặc tháo bỏ nắp che khoang chở hàng, hành lý của ô tô pickup, lắp đặt thêm bậc bước chân lên xuống, trang trí ống xả, đai trang trí bảo hiểm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, cánh lướt gió, mui gió, cũng không được coi là cải tạo.
Tuy nhiên, Cục Đăng kiểm - đơn vị soạn thảo - yêu cầu những thay đổi vẫn phải đảm bảo kích thước cơ bản của xe, kích thước thùng hàng, khối lượng cơ bản của xe thực tế chênh lệch so với thông số tương ứng trong giấy chứng nhận kiểm định không vượt quá sai số cho phép theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Lý giải cho đề xuất này, Cục Đăng kiểm cho rằng việc mở rộng danh mục trang thiết bị của xe cơ giới không bị coi là cải tạo hoặc không phải lập hồ sơ thiết kế cải tạo nhằm tháo gỡ điểm nghẽn trong thủ tục chứng nhận cải tạo.
Chủ xe có thể cắt giảm chi phí thuê đơn vị thiết kế, chi phí thẩm định bản vẽ và thời gian chờ đợi cho chủ phương tiện khi thực hiện những nâng cấp cơ bản, hợp lý trên xe. Việc bổ sung, chỉnh sửa kỹ thuật nhằm làm rõ quy định và thuận lợi cho quá trình thực hiện của chủ xe khi nâng cấp phương tiện.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 12/6, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 khai mạc kỳ họp thứ tư (kỳ họp chuyên đề) để xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng thuộc thẩm quyền, trong đó tập trung cụ thể hóa và triển khai các cơ chế, chính sách theo Luật Thủ đô năm 2026.
Tại phiên thảo luận tổ số 5, nhiều đại biểu đã tập trung góp ý vào các dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội và kinh tế - ngân sách. Nhiều ý kiến đánh giá cao các cơ chế đặc thù được đề xuất theo Luật Thủ đô năm 2026, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện để các chính sách sớm phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Góp ý vào dự thảo Nghị quyết Quy định hoạt động đầu tư kinh doanh sản phẩm, dịch vụ được tổ chức và vận hành trong thời gian ban đêm, đại biểu Phạm Thị Thanh Hương nhận định đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế đêm, phát huy lợi thế về văn hóa, du lịch và dịch vụ, từ đó hình thành động lực tăng trưởng mới cho Thủ đô.
Theo đại biểu Hương, kinh tế đêm có thể mở rộng không gian tiêu dùng, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách. Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng liên quan trực tiếp đến giao thông, môi trường, an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy và đời sống dân cư. Vì vậy, việc phân cấp cho cấp xã quản lý các khu, tuyến, điểm kinh tế đêm cần được cân nhắc kỹ lưỡng để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý đô thị.
Nêu quan điểm về định hướng phát triển, đại biểu đặt vấn đề: "Điều quan trọng nhất cần làm rõ là Hà Nội đang xây dựng một nghị quyết về phát triển kinh tế đêm hay chỉ là một nghị quyết kéo dài thời gian các loại hình kinh doanh hiện có?"
Theo đại biểu, giá trị của kinh tế đêm không nằm ở việc các cơ sở kinh doanh mở cửa muộn hơn, mà ở khả năng tạo ra các sản phẩm văn hóa, du lịch đặc sắc mang bản sắc Hà Nội. "Đây mới là yếu tố quyết định sức hấp dẫn và tính bền vững của kinh tế đêm", đại biểu Hương nhấn mạnh.
Cùng góp ý về dự thảo nghị quyết này, đại biểu Nguyễn Hồng Dân đề nghị thành phố quy định rõ trách nhiệm của đơn vị vận hành và ban quản lý trong xử lý tiếng ồn, rác thải phát sinh vào ban đêm, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và chất lượng sống của người dân.
Còn đại biểu Nguyễn Danh Phúc cho rằng, thành phố đang đẩy mạnh cải cách hành chính nên cần làm rõ liệu các quy định mới từ kinh tế đêm có làm phát sinh thêm thủ tục, điều kiện kinh doanh và chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh hay không.
Đồng thời, đại biểu Phúc đề nghị UBND thành phố đánh giá cụ thể hơn hiệu quả dự kiến của chính sách, như mức đóng góp vào tăng trưởng GRDP, khả năng thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ, tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động trẻ và lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo.
Thảo luận về các nghị quyết thuộc lĩnh vực kinh tế - ngân sách, đại biểu Nguyễn Hồng Dân đánh giá cao nỗ lực của thành phố trong việc xây dựng các cơ chế đặc thù nhằm khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Trong đó, đại biểu đặc biệt quan tâm đến dự thảo Nghị quyết quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực công nghiệp môi trường và dịch vụ môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo đại biểu Dân, việc hỗ trợ tới 70% lãi suất vay vốn từ Quỹ Đầu tư phát triển thành phố trong thời gian ưu đãi 10 năm là bước đi mang tính đột phá để cụ thể hóa các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô năm 2026, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào các mô hình sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải.
Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế hỗ trợ linh hoạt đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề phụ nhưng thuộc các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ xanh, chuyển đổi số.
Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, đại biểu cho rằng thành phố cần sớm ban hành bộ tiêu chí kỹ thuật rõ ràng đơn giản, dễ áp dụng nhằm xác định thế nào là mô hình kinh tế tuần hoàn. "Nếu thủ tục xác nhận quá phức tạp, doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận chính sách và điểm nghẽn sẽ xuất hiện ngay từ khâu hồ sơ", đại biểu Nguyễn Hồng Dân lưu ý.
Đối với Nghị quyết quy định việc sử dụng, khai thác quỹ đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở các tuyến sông có đê để sản xuất nông nghiệp, đại biểu Phạm Hải Hoa đánh giá đây là một chính sách mang tính đột phá, mở ra cơ hội khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai còn nhiều dư địa của Thủ đô.
Theo đại biểu, Hà Nội hiện có hệ thống đê điều dài khoảng 770km, với hơn 36.000ha bãi sông và lòng sông. Nếu được khai thác hợp lý, đây sẽ là nguồn lực kinh tế quan trọng, tạo không gian phát triển cho nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch trải nghiệm.
Đại biểu cho rằng thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp du lịch tại các vùng bãi sông, bãi nổi cho hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, nếu không có quy định chặt chẽ, việc khai thác quỹ đất này rất dễ bị biến tướng, nhất là liên quan đến quy mô công trình, diện tích sử dụng và mục đích khai thác.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

