Sau mỗi vụ gặt tại Vĩnh Long, Đồng Tháp, máy cuộn rơm nhanh chóng xuất hiện để thu gom phụ phẩm. Theo khảo sát thị trường, rơm tươi bán ngay tại ruộng có giá 70.000-110.000 đồng một công, tương đương khoảng 700.000-1,1 triệu đồng mỗi ha. Rơm cuộn bán sỉ dao động 15.000-25.000 đồng một cuộn, tùy thời điểm.
Ông Nguyễn Văn Hùng, nông dân canh tác 2 ha lúa ở Vĩnh Long, cho biết mỗi vụ thu thêm vài triệu đồng từ bán rơm, coi như khoản bù một phần chi phí phân bón. Theo các thương lái, lượng rơm này được bán cho các cơ sở trồng nấm, chăn nuôi hoặc sản xuất phân hữu cơ thay vì bị đốt bỏ như trước.
Chia sẻ với VnExpress, PGS TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không chỉ nhằm giảm phát thải mà còn là quá trình tái tạo giá trị từ những nguồn tài nguyên từng bị bỏ phí.
Theo ông, thay vì đốt rơm rạ sau thu hoạch, người dân có thể xử lý bằng chế phẩm vi sinh để sản xuất phân hữu cơ hoặc than sinh học (biochar), qua đó tham gia thị trường tín chỉ carbon. Khoảng 80% sinh khối cây cà phê cũng chưa được khai thác hiệu quả nhưng có thể dùng để trồng nấm, sau đó tiếp tục tái chế thành phân hữu cơ và biochar, mở rộng chuỗi giá trị.
Ngoài việc tận dụng phụ phẩm, chuyển đổi xanh còn giúp giảm chi phí sản xuất nhờ ứng dụng công nghệ. Theo ông Thọ, việc ứng dụng drone, cảm biến và công nghệ số giúp giảm lượng nước tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chi phí nhân công, đồng thời nâng hiệu quả sản xuất và giảm phát thải.
Thực tế, tại một số địa phương ở TP HCM, nhiều nông dân và hợp tác xã đã đưa máy bay không người lái (drone) vào gieo sạ, phun thuốc bảo vệ thực vật. Với 2 ha lúa, ông Thành ở xã Long Điền cho biết mỗi ha tiết kiệm khoảng 500.000 đồng tiền thuốc, 350.000 đồng tiền nhân công, đồng thời năng suất tăng thêm 3-5% nhờ hạn chế giẫm đạp lên lúa.
Không chỉ trong nông nghiệp, nhiều doanh nghiệp cũng tận dụng quá trình chuyển đổi xanh để gia tăng giá trị từ hoạt động sản xuất.
Chia sẻ tại hội thảo “Chuyển đổi xanh, cần gì để tăng tốc” ở TP HCM, ông Võ Chánh Ngữ, Giám đốc Ban Chuyển đổi số, Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), cho biết doanh nghiệp đã xây dựng mô hình nhà máy thông minh, ứng dụng AI trong quản lý vận hành và bảo trì dự báo. Trong gần 5 năm qua, các giải pháp này giúp giảm khoảng 5% mức tiêu hao năng lượng, đồng thời phát hiện sớm nguy cơ hỏng hóc để hạn chế các đợt dừng nhà máy ngoài kế hoạch.
Theo ông Ngữ, lượng CO₂ phát sinh trong quá trình sản xuất được thu hồi để chế biến thành CO₂ thực phẩm thay vì phát thải trực tiếp ra môi trường, qua đó gia tăng giá trị của nguồn tài nguyên này. Tại nhiều quốc gia, CO₂ thu hồi từ các nhà máy phân bón, ethanol hoặc hóa chất được tinh chế để cung cấp cho ngành đồ uống, chế biến và bảo quản thực phẩm, vừa giảm phát thải vừa tạo thêm nguồn thu từ sản phẩm phụ.
Không chỉ tạo thêm giá trị từ phụ phẩm, nhiều doanh nghiệp còn xem chuyển đổi xanh là điều kiện để nâng sức cạnh tranh trên thị trường.
Đại diện C.P. Việt Nam cho biết doanh nghiệp triển khai chuyển đổi xanh trên toàn bộ chuỗi sản xuất, từ thức ăn chăn nuôi, trang trại đến chế biến thực phẩm. Hiện khoảng 34% năng lượng doanh nghiệp sử dụng đến từ nguồn tái tạo; công ty đã chấm dứt sử dụng than đá từ giai đoạn 2020-2021 và tận dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất khí sinh học phục vụ hoạt động sản xuất.
Theo đại diện C.P. Việt Nam, việc đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững giúp doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính. Đến nay, công ty đã xuất khẩu khoảng 10.000 tấn thịt gà sang Nhật Bản và lần đầu đưa sản phẩm vào thị trường Singapore.
Cùng với doanh nghiệp, các ngân hàng cũng tăng quy mô tín dụng xanh để đáp ứng nhu cầu đầu tư cho quá trình chuyển đổi.
Đại diện Nam A Bank cho biết tín dụng xanh hiện chiếm khoảng 10% tổng dư nợ của ngân hàng, cao hơn mức bình quân 4-5% của toàn ngành. Ngân hàng triển khai các gói vay có lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-2% dành cho các dự án năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao và công trình xanh, đồng thời kết nối doanh nghiệp với các quỹ đầu tư quốc tế.
Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh khu vực 2, tín dụng xanh hiện chiếm khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn ngành nhưng duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20% mỗi năm kể từ năm 2017. Dòng vốn này hiện tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, nông thôn với các hoạt động sản xuất xanh, sạch (32%) và năng lượng (30%).
Ông cho biết Chính phủ đã ban hành danh mục phân loại dự án xanh, tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng triển khai chính sách ưu đãi. Ngân hàng Nhà nước cũng đang xây dựng dự thảo hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh.
Tuy nhiên, theo ông, việc thẩm định các dự án vay vốn xanh vẫn cần được cụ thể hóa hơn do các tiêu chí đánh giá và cơ sở pháp lý phục vụ công tác thẩm định vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
Công ty Xổ số Điện toán Việt Nam (Vietlott) bắt đầu bán vé số đầu tiên từ tháng 7/2016. Hôm 1/6 - sau gần 10 năm kinh doanh, đơn vị này cho biết đã trả thưởng gần 31.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 1,18 tỷ USD. Trong đó, hơn một nửa là các giải Jackpot của sản phẩm Mega và Power, với tổng giá trị trả thưởng gần 18.340 tỷ đồng.
Theo thống kê của Vietlott, 533 khách hàng đã trúng các giải thưởng Jackpot tiền tỷ của hai sản phẩm Mega, Power với tổng giá trị gần 12.180 tỷ đồng. Trong số này, 130 người trở thành "tỷ phú Vietlott" thông qua kênh mua vé trên điện thoại (SMS), còn 403 người mua vé tại đại lý truyền thống.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Với các loại xổ số còn lại, công ty này ghi nhận 144 người trúng giải trên 1 tỷ của Max 3D với tổng giá trị 224 tỷ đồng. Tương tự, Max 3D Pro có 77 người trúng với 262 tỷ.
Lotto 5/35 ghi nhận 80 người trúng giải hơn 1 tỷ đồng với tổng giá trị 460 tỷ. Loại hình Keno có 13 người trúng tiền tỷ, với tổng giá trị khoảng 28 tỷ đồng.
Như vậy, sau 10 năm, 847 khách hàng đã trúng các giải thưởng từ 1 tỷ đồng trở lên với 6 loại hình xổ số của Vietlott. Tổng số tiền trả thưởng cho nhóm khách hàng này khoảng 13.152 tỷ đồng.
Về hoạt động kinh doanh, Vietlott đạt doanh thu lũy kế 58.000 tỷ đồng. Riêng năm ngoái, đơn vị này thu 9.686 tỷ, tương ứng mức bình quân 26,5 tỷ mỗi ngày. 2026 cũng là năm đầu tiên Vietlott đặt mục tiêu doanh thu trên 10.000 tỷ đồng kể từ khi ra mắt đến nay.
Hiện tại, Vietlott có hơn 6.100 điểm bán hàng tại 34 tỉnh, thành phố. Công ty đồng thời duy trì hệ thống bán vé qua điện thoại với hơn 4 triệu tài khoản dự thưởng. Doanh nghiệp này cũng đóng góp cho ngân sách các địa phương gần 16.000 tỷ đồng từ 2016 đến nay.
Thời gian sắp tới, công ty dự kiến ra mắt thêm kênh bán xổ số qua Internet. Vietlott là doanh nghiệp nhà nước do Bộ Tài chính đại diện sở hữu 100% vốn.
Công ty cổ phần Dịch vụ hàng không sân bay Đà Nẵng (MASCO) vừa gửi văn bản giải trình biện pháp và lộ trình khắc phục tình trạng chứng khoán bị cảnh báo.
Cụ thể, ngày 27-3-2026, công ty nhận được thông báo của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội về việc cổ phiếu MAS tiếp tục duy trì diện bị cảnh báo do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tại ngày 31-12-2025 trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán là số âm.
Mặc dù lợi nhuận sau thuế năm 2025 doanh nghiệp đạt 8,6 tỉ đồng, tăng gần 18% nhưng lỗ lũy kế tại thời điểm cuối năm là 1,7 tỉ đồng. Số lỗ lũy kế cuối năm 2024 là 9,1 tỉ đồng.
Công ty này cho biết hoạt động kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực liên quan đến ngành hàng không, như cung ứng suất ăn máy bay cho các hãng hàng không, bán hàng tại các sân bay miền Trung, đào tạo nghề lái xe ô tô, mô tô... Tuy nhiên, giai đoạn 2020-2022 ngành hàng không bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi dịch COVID-19. Do đó doanh thu bị giảm mạnh và ghi nhận lỗ lớn năm 2020 và năm 2021.
Giai đoạn 2022-2025, thị trường hàng không phục hồi chậm nên lượng khách tại các sân bay miền Trung tuy có tăng trưởng nhưng vẫn còn thấp.
Trong văn bản giải trình, doanh nghiệp cho biết mặc dù doanh thu năm 2025 tăng trưởng mạnh (gần 27%) nhưng có sự thay đổi về cơ cấu. Mảng cung ứng suất ăn cho các chặng bay quốc tế (tỉ lệ lãi gộp cao) vẫn còn thấp. Ngoài ra, chi phí sản xuất tăng cao trong khi giá dịch vụ cung cấp cho các hãng tăng chậm hơn, ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Bên cạnh đó, sự thay đổi, sáp nhập các sở ngành và chuyển đổi chức năng quản lý lĩnh vực sát hạch lái xe, thay đổi chủng loại phương tiện đào tạo hạng C tác động lớn đến mảng đào tạo lái xe ô tô, mô tô. Doanh thu và lợi nhuận lĩnh vực này cùng sụt giảm.
Công ty này hiện có 2 trung tâm đào tạo lái xe tại Đà Nẵng và Huế. Doanh thu mảng đào tạo lái xe năm 2025 ở mức 36,22 tỉ đồng, chiếm khoảng 16% tổng doanh thu.
Năm vừa qua, doanh thu đào tạo lái xe tại thị trường Huế giảm do thay đổi chính sách đào tạo cho các học viên là bộ đội xuất ngũ. Ngoài ra, việc chuyển đổi đơn vị sát hạch, cấp giấy phép lái xe giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đã làm gián đoạn hoạt động đào tạo từ tháng 12-2024 đến tháng 7-2025 ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh của đơn vị.
Báo cáo thường niên năm 2025 cho biết công ty có 5 lĩnh vực kinh doanh chính gồm cung cấp suất ăn trên tàu bay; bán hàng và dịch vụ nhà hàng tại khu vực nhà ga hàng không sân bay; dịch vụ phòng chờ hạng C; dịch vụ vận chuyển hành khách và tổ lái tiếp viên; đào tạo lái xe mô tô, ô tô các hạng. Dịch vụ cung ứng suất ăn trên tàu bay là lĩnh vực cốt lõi chiếm tỉ trọng gần 70 % doanh thu và lợi nhuận.
Đơn vị này nêu ra một số giải pháp khắc phục tình trạng lỗ lũy kế như giảm chi phí, tăng lợi nhuận như đẩy mạnh marketing, tìm kiếm hợp đồng cung cấp suất ăn cho các hãng hàng không nước ngoài, phát triển thêm các mảng kinh doanh ngoài ngành hàng không, tìm kiếm và khai thác thêm các nhà cung cấp có giá tốt hơn...
Cụ thể, tổng số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại ba ngân hàng gồm Vietcombank, BIDV và VietinBank đạt 563.035 tỉ đồng, tăng gần 39% so với thời điểm cuối năm 2025.
Tại VietinBank (CTG), tính đến cuối quý 1-2026, lượng tiền Kho bạc Nhà nước gửi tại ngân hàng này đạt khoảng 185.250 tỉ đồng, tăng gần 38% so với đầu năm.
Ở BIDV (BID), số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước cũng tăng, lên gần 188.626 tỉ đồng, tăng gần 39% so với đầu năm. Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn đạt gần 3.376 tỉ đồng, còn lại chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn với 185.250 tỉ đồng.
Dữ liệu cũng cho thấy, Vietcombank (VCB) vẫn là nơi giữ lượng tiền lớn nhất từ Kho bạc Nhà nước. Đến cuối quý 1 năm nay, tiền gửi thanh toán của Kho bạc Nhà nước tại VCB đạt hơn 189.159 tỉ đồng, tăng 39% so với đầu năm.
Cơ cấu tiền gửi chủ yếu là tiền có kỳ hạn bằng VND với 185.250 tỉ đồng, trong khi tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, gồm 2.656 tỉ đồng bằng VND và 1.252 tỉ đồng bằng ngoại tệ.
Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thường mang tính mùa vụ. Ở một số thời điểm còn phụ thuộc vào tiến độ giải ngân đầu tư công.
Song với các ngân hàng quốc doanh, đây vẫn là nguồn hỗ trợ thanh khoản quan trọng khi việc huy động vốn trên thị trường dân cư gặp áp lực.
Theo chuyên gia phân tích Chứng khoán SSI, tỉ lệ cho vay trên huy động của toàn hệ thống ở mức gần 112% vào cuối tháng 3-2026, cho thấy "áp lực vốn dai dẳng".
Các biện pháp bơm tiền qua OMO và nâng trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước đã giúp ổn định tình hình, nhưng chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề, theo chuyên gia SSI.
Gần đây, Thông tư 22/2019/TT-Ngân hàng Nhà nước có điểm đáng chú ý là việc điều chỉnh cách tính tỉ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động (LDR), chuyển sang một khái niệm cập nhật hơn là CDR, với trần vẫn giữ ở mức 85% nhưng thay đổi đáng kể về cấu phần tính toán.
Trong đó Ngân hàng Nhà nước đề xuất cho phép tính 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động.
Trước đó, lộ trình từng bước loại tiền gửi Kho bạc Nhà nước theo tỉ lệ từ 50% lên 100% vào năm 2026 góp phần tạo sức ép thanh khoản, đặc biệt với nhóm ngân hàng quốc doanh vốn nắm giữ lượng lớn tiền gửi từ kho bạc.
Việc điều chỉnh này được xem là một bước "nới lỏng tương đối", giúp các ngân hàng như BID, CTG hay VCB cải thiện hệ số thanh khoản mà không cần đẩy mạnh huy động bằng mọi giá.
Tuy nhiên ở chiều ngược lại, công thức mới lại loại bỏ tiền gửi liên ngân hàng khỏi nguồn vốn huy động. Điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào thị trường 2 - chủ yếu là khối tư nhân - có thể đối mặt áp lực lớn hơn trong việc cân đối vốn.