Tại Hội nghị khoa học quý 2 năm 2026 của Bệnh viện Da liễu TPHCM, diễn ra ngày 28/6, BSCKII Trần Vũ Anh Đào, Phó trưởng khoa Thẩm mỹ da cho biết, hiện nay các công nghệ sử dụng thiết bị năng lượng như laser, ánh sáng, RF, siêu âm hội tụ… ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực thẩm mỹ.
Đây là một xu hướng tất yếu, vì thiết bị công nghệ có khả năng điều trị đa dạng các tình trạng rối loạn sắc tố, mạch máu, sẹo, trẻ hóa da và triệt lông… với thời gian hồi phục ngắn. Tuy nhiên, hiệu quả và sự an toàn của việc điều trị phụ thuộc vào chẩn đoán, lựa chọn bệnh nhân, đặc điểm thiết bị, thông số và khả năng chăm sóc sau điều trị.
BSCKII Trần Vũ Anh Đào cho biết, Bệnh viện Da liễu TPHCM thường xuyên tiếp nhận các trường hợp biến chứng liên quan đến các thiết bị công nghệ trong thẩm mỹ. Trong đó, tỷ lệ biến chứng do thiết bị năng lượng chiếm khoảng 16% trong nhóm các tai biến thẩm mỹ mà khoa Thẩm mỹ da điều trị.
Biến chứng thường gặp nhất bao gồm bỏng, nhiễm trùng, tăng sắc tố sau viêm (PIH), giảm sắc tố, sẹo phì đại/sẹo lồi, đỏ da kéo dài… Ngoài ra, trên y văn còn có các báo cáo ghi nhận tổn thương mắt do laser.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc đánh giá bệnh chưa đầy đủ, chỉ định sai, lựa chọn thông số không phù hợp, không nhận diện lâm sàng hoặc chăm sóc sau thủ thuật không đúng…
“Tôi từng gặp rất nhiều những trường hợp bệnh nhân đến viện trong tình trạng da rỉ dịch kéo dài, thương tổn da sau laser chậm hồi phục sau nhiều tuần, do bệnh nhân đã thực hiện các thủ thuật này tại những cơ sở chưa được cấp phép.
Một số người chỉ đi khám bệnh vào giai đoạn trễ – sau vài tháng, thậm chí vài năm – khi đã đi rất nhiều nơi với tình trạng sẹo hồng ban kéo dài, sẹo phì đại hoặc thay đổi sắc tố, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ, chất lượng cuộc sống và giao tiếp của bệnh nhân.
Điều đáng chú ý là bản thân bệnh nhân cũng không biết mình được điều trị bằng phương pháp gì, người thực hiện có phải bác sĩ hay không và cần chăm sóc theo dõi như thế nào sau điều trị… mà chỉ tin vào những quảng cáo làm một lần sẽ đẹp”, bác sĩ dẫn chứng.
Cũng theo bác sĩ Đào, hiện nay có nhiều người cho rằng thiết bị hiện đại thì việc điều trị sẽ an toàn và hiệu quả. Quan điểm này đúng nhưng chưa đủ, vì máy móc chỉ là công cụ.
Trong khi đó, hiệu quả và mức độ an toàn điều trị phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức của bác sĩ trong việc chẩn đoán đúng bệnh, nắm rõ về tương tác giữa thiết bị và da, kinh nghiệm vận hành hay khả năng xử trí biến chứng.
Chính vì lý do trên, phần lớn các danh mục kỹ thuật về thực hành các công nghệ phải là nhân viên y tế đã được đào tạo bài bản về laser ánh sáng.
Bác sĩ cảnh báo, người dân trước khi quyết định thực hiện các dịch vụ thẩm mỹ nói chung và các thiết bị năng lượng nói riêng cần lưu ý lựa chọn cơ sở chuyên khoa, được khám trực tiếp bởi bác sĩ.
Song song đó, cần khai báo đầy đủ thuốc đang dùng, tiền sử sẹo lồi, tiền sử bệnh nhiễm trùng da, tình trạng rám nắng… cũng như được tư vấn kỹ để hiểu rõ thời gian hồi phục, nguy cơ biến chứng của các thủ thuật.
Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường sau điều trị bằng các thiết bị phát năng lượng như bỏng, phồng rộp, tăng sắc tố hoặc sẹo… người dân không nên tự xử trí bằng thuốc không rõ nguồn gốc mà cần đến bệnh viện chuyên khoa sớm để được thăm khám, chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Ngày 18.6, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh (thành phố Đồng Nai), bệnh viện này vừa phẫu thuật cấp cứu cứu sống sản phụ bị vỡ tử cung nguy kịch.
Trước đó, sản phụ L.T.T.K (31 tuổi, mang thai tuần 36, có tiền sử 2 lần mổ lấy thai), nhập viện trong tình trạng đau bụng dữ dội, vật vã. Qua thăm khám và đánh giá nhanh, các bác sĩ nhận định đây là trường hợp có nguy cơ rất cao xảy ra biến chứng sản khoa nghiêm trọng trên nền vết mổ lấy thai cũ, cần được xử trí khẩn cấp.
Ngay sau khi tiếp nhận, ê kíp trực Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh đã kích hoạt quy trình báo động đỏ nội viện; đồng thời hội chẩn khẩn với bác sĩ gây mê hồi sức, chuẩn bị máu, xét nghiệm và huy động nhân lực, phương tiện phục vụ cấp cứu. Chỉ khoảng 12 phút từ khi nhập viện, sản phụ đã được chuyển lên phòng mổ.
Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ xác định sản phụ đã bị vỡ tử cung tại vị trí vết mổ cũ. Ê kíp đã lập tức mổ lấy thai cấp cứu. Đến 10 giờ 45 phút cùng ngày, một bé trai nặng 2,7 kg chào đời an toàn, sức khỏe ổn định.
Sau phẫu thuật và hồi sức tích cực, sản phụ tỉnh táo, các dấu hiệu sinh tồn ổn định, vết mổ khô, phục hồi tốt; trẻ sơ sinh hồng hào, bú tốt, tiếp tục được theo dõi và chăm sóc.
Từ trường hợp trên, các bác sĩ Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh khuyến cáo phụ nữ mang thai có tiền sử mổ lấy thai cần khám thai định kỳ đầy đủ, tuân thủ lịch hẹn của bác sĩ và đến ngay cơ sở y tế khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như đau bụng nhiều, ra huyết âm đạo, giảm cử động thai hoặc các dấu hiệu chuyển dạ để được thăm khám và xử trí kịp thời.
Với đồng nghiệp, Nam, ở Tây Hồ, Hà Nội, là "cỗ máy in tiền" không biết mệt. Với gia đình, anh là người con hoàn hảo khi xây nhà, chu cấp sinh hoạt phí hàng tháng cho bố mẹ. Nhưng tại phòng khám của bác sĩ Nguyễn Viết Chung, Trưởng khoa Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện E, bệnh án của Nam ghi nhận tình trạng nhịp tim đập dồn dập, khó thở và hệ thần kinh luôn ở trạng thái cảnh giác cao độ. Kết quả khám kết luận người bệnh bị rối loạn lo âu nặng, cần điều trị bằng thuốc và trị liệu.
Người bệnh tâm sự gần đây công ty làm ăn khó khăn, nợ nần chồng chất, nguy cơ phá sản, khiến Nam lo âu, mất ngủ nhưng vẫn phải tỏ ra bên ngoài là người mạnh mẽ, nhiều năng lượng để tránh "sụp đổ hình tượng".
"Tôi không thể tỏ ra yếu đuối, tiêu cực vì đang là trụ cột cho hàng chục nhân viên và cả đại gia đình", người đàn ông tâm sự.
Tương tự, Lan, 35 tuổi, tìm đến bệnh viện trong tình trạng kiệt quệ thần kinh. Không gặp áp lực tài chính, nhưng cô bị vắt kiệt bởi tiêu chuẩn "người trẻ thành đạt". Ở công ty, cô tự đặt ra nguyên tắc bất thành văn là dù ốm mệt hay stress cũng không được phép bộc lộ ra ngoài vì sợ khách hàng phát hiện. Mỗi ngày hai đến ba cốc cà phê để trụ vững. Tối về nhà, cô gắt gỏng với con và phó mặc việc nhà cho người giúp việc vì cạn kiệt năng lượng. Qua thăm khám, bác sĩ xác định người bệnh bị suy nhược, rối loạn lo âu, khuyên nên giảm bớt công việc và nghỉ ngơi, trị liệu tâm lý.
Về mặt y khoa, hiện tượng gồng mình để tỏ ra ổn được các chuyên gia gọi là tích cực độc hại (Toxic Positivity). Khác với lạc quan lành mạnh là khả năng chấp nhận thực tại đau buồn để tìm cách thích nghi, tích cực độc hại là sự chối bỏ cảm xúc thật.
Khi một người liên tục đè nén nỗi buồn hay sự lo âu, hạch hạnh nhân trong não bộ, trung tâm xử lý cảm xúc, vẫn liên tục phát ra tín hiệu cảnh báo. Điều này kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, đưa cơ thể vào trạng thái chiến đấu hoặc bỏ chạy (fight or flight) kéo dài.
Bác sĩ Chung cho rằng việc kìm nén áp lực quá lâu chính là yếu tố kích hoạt các cơn rối loạn lo âu và trầm cảm. Bệnh nhân thường có biểu hiện đánh trống ngực, khó thở và luôn ở trạng thái cảnh giác cao độ.
Giaso sư tâm lý học James Gross tại Đại học Stanford, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về điều tiết cảm xúc, cũng chứng minh qua nhiều thập kỷ nghiên cứu rằng "expressive suppression" (kìm nén biểu đạt cảm xúc) không làm giảm cảm xúc tiêu cực bên trong, mà chỉ tắt đi phần biểu hiện ra bên ngoài. Nói cách khác, nỗi đau không biến mất, nó bị đẩy sâu vào bên trong và tiếp tục âm ỉ.
Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này bắt nguồn từ sự kết hợp giữa kỳ vọng xã hội và cấu trúc văn hóa. Trong môi trường Á Đông, người trẻ thành đạt thường bị gắn chặt với hình mẫu hoàn hảo. Việc bộc lộ sự yếu đuối hay mệt mỏi bị xem là thiếu bản lĩnh.
Thêm vào đó, một nghiên cứu kéo dài hơn 80 năm của Đại học Harvard về sự phát triển của con người đã chỉ ra một nghịch lý. Khi người trẻ càng đạt được nhiều thành tựu tài chính và địa vị, họ càng dễ rơi vào bẫy độc lập. Họ dần mất đi những kết nối chân thành, tự cô lập bản thân vì áp lực phải duy trì hình ảnh thành công trước mắt người khác.
"Tiền bạc và địa vị tạo ra một tiêu chuẩn sống mà họ không dám từ bỏ, biến họ thành những người tù trong chính chiếc lồng kính do mình tạo ra", Thạc sĩ Cao Trần Thành Trung, Giám đốc điều hành Trung tâm Tham vấn và Trị liệu Tâm lý Lumos, nói.
Hệ lụy của việc duy trì lớp mặt nạ này rất tàn khốc. Khi sự căng thẳng vượt quá giới hạn chịu đựng của hệ thần kinh trung ương, cơ thể sẽ tự động sập nguồn. Ở giai đoạn này, lý trí bệnh nhân vẫn muốn tiếp tục làm việc nhưng cơ thể từ chối tuân lệnh, dẫn đến cảm giác tội lỗi và tự trách móc.
Điều đáng chú ý là phần lớn những người có vấn đề sức khỏe tâm thần không tìm kiếm sự giúp đỡ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính khoảng cách điều trị tại các nước thu nhập trung bình như Việt Nam lên đến 70–80%, tức cứ 10 người cần hỗ trợ thì có đến 7-8 người không được tiếp cận dịch vụ phù hợp. Stress tích tụ lâu ngày có thể dẫn đến nhiều bệnh thể chất và tinh thần nguy hiểm, trong đó có vấn đề tự sát.
Bác sĩ Chung nhấn mạnh khi đã rơi vào trạng thái này, việc nghỉ ngơi vài ngày không còn tác dụng. Bệnh nhân bắt buộc phải có sự can thiệp y tế chuyên sâu hoặc trị liệu tâm lý dài hạn để phục hồi các chức năng dẫn truyền thần kinh. Thạc sĩ Trung cũng cảnh báo rằng ép bản thân hạnh phúc không chỉ bất khả thi mà còn tàn phá trực tiếp đến sức khỏe tinh thần.
Hiện, nhiều người trẻ bắt đầu nhận thức rõ hơn về giới hạn của bản thân. Khảo sát của Decision Lab năm 2021 ghi nhận 64% Gen Z tại Việt Nam coi trọng sự cân bằng giữa công việc, cuộc sống và sức khỏe tinh thần hơn là mức lương cao.
Các chuyên gia y tế khuyên người trẻ cần học cách lắng nghe tín hiệu cầu cứu của cơ thể, thừa nhận sự mệt mỏi và tìm kiếm sự giúp đỡ từ những mối quan hệ thân thiết hoặc chuyên gia tâm lý trước khi mọi thứ vượt tầm kiểm soát.
"Hơn một phần tư người trưởng thành từ 18-69 tuổi bị tăng huyết áp, gần 5 triệu người bệnh đái tháo đường tương đương hơn 7% dân số trưởng thành, đằng sau các con số là nguy cơ đột quỵ, suy tim, suy thận, tàn phế và tử vong sớm", Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn nói tại lễ ký Bản ghi nhớ chương trình hợp tác Tăng cường quản lý bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam giai đoạn 2026-2028, giữa Cục Quản lý khám, chữa bệnh và Boehringer Ingelheim Việt Nam, hôm 11/5 tại Hà Nội.
Thứ trưởng Thuấn cho rằng bệnh không lây nhiễm không còn là câu chuyện riêng của bệnh viện hay từng chuyên khoa, mà trở thành thách thức đối với sức khỏe cộng đồng, năng suất lao động và sự phát triển bền vững của quốc gia.
Việt Nam hiện trong nhóm quốc gia có tỷ lệ đột quỵ cao với 222.000 ca mỗi năm song phần lớn chưa tiếp cận kịp thời hệ thống cấp cứu. Chỉ 23,2% bệnh nhân đến viện trong vòng 4,5 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng - khoảng thời gian "vàng" để can thiệp hiệu quả. Ngoài ra, khoảng 20% người bệnh được đưa đến bệnh viện bằng hệ thống cấp cứu chuyên nghiệp.
Ngoài ra, bệnh lý tim mạch - thận - chuyển hóa, bệnh phổi mô kẽ... cũng ngày càng gia tăng và trẻ hóa, gây áp lực lớn đến hệ thống y tế. Song, nhiều trường hợp bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa, phát hiện sớm, quản lý tốt và điều trị hiệu quả hơn.
"Không thể chỉ chờ người bệnh đến bệnh viện để điều trị, hệ thống y tế cần chuyển từ điều trị muộn sang phát hiện sớm, từ chăm sóc phân mảnh sang quản lý liên tục và toàn diện", ông nói, thêm rằng kiểm soát hiệu quả các bệnh không lây nhiễm là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngành y tế Việt Nam giai đoạn hiện nay.
TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh, nói quản lý hiệu quả bệnh không lây nhiễm đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp, liên tục và đồng bộ giữa các các cơ sở khám chữa bệnh đa khoa và chuyên khoa. Vì vậy, chương trình hợp tác tập trung vào 4 mục tiêu trọng tâm gồm: chuẩn hóa hướng dẫn chuyên môn; nâng cao năng lực cho khoảng 2.000 bác sĩ; củng cố mạng lưới điều trị đột quỵ; tăng cường truyền thông cộng đồng về phát hiện sớm, xử trí kịp thời bệnh không lây nhiễm.
Song song đó, Bộ Y tế đang xây dựng Đề án Cấp cứu Ngoại viện, hướng tới rút ngắn "thời gian vàng" trong cấp cứu đột quỵ, chuẩn hóa hệ thống xe cứu thương, mở rộng đào tạo sơ cứu cộng đồng và ứng dụng AI trong điều phối cấp cứu. Đề án dự kiến thí điểm tại 6 tỉnh, thành phố trước khi mở rộng toàn quốc.
Ông Apisak Khunwet, đại diện Boehringer Ingelheim, đánh giá Việt Nam đang ngày càng khẳng định vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực chăm sóc và điều trị đột quỵ, với hơn 130 bệnh viện được Tổ chức Đột quỵ Thế giới chứng nhận là bệnh viện sẵn sàng điều trị đột quỵ. Thông qua hợp tác này, hai bên hướng tới mục tiêu tiếp tục nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và quản lý các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là các bệnh tim mạch - thận - chuyển hóa, đột quỵ.