Theo công bố thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, CTCP Di chuyển Xanh và Thông minh GSM (Green SM) đã hoàn tất nâng vốn điều lệ từ 43.400 tỷ đồng lên 54.000 tỷ đồng, tương ứng 5,4 tỷ cổ phần phổ thông.
Trong cơ cấu tài sản góp vốn, tiền và các khoản tương đương tiền chiếm 94,72%, phần còn lại là các tài sản khác.
Đây là lần tăng vốn thứ tư của Green SM kể từ đầu năm 2026. Trước đó, doanh nghiệp đã ba lần điều chỉnh vốn trong quý I, nâng vốn điều lệ từ 25.000 tỷ đồng lên 43.400 tỷ đồng.
Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh Green SM liên tục mở rộng hoạt động. Cuối tháng 2/2026, doanh nghiệp hoàn tất sáp nhập CTCP Thương mại và Dịch vụ Green Future (GF), qua đó mở rộng hệ sinh thái trong lĩnh vực cho thuê xe và kinh doanh xe điện đã qua sử dụng.
Ở thị trường quốc tế, đầu tháng 6, Green SM ra mắt dịch vụ Green SM Limo tại New Delhi (Ấn Độ), đưa quốc gia này trở thành thị trường thứ năm mà doanh nghiệp hiện diện, sau Việt Nam, Lào, Indonesia và Philippines.
Trước đó, tại Philippines, Green SM đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác với 75 doanh nghiệp vận tải và hợp tác xã địa phương, dự kiến triển khai gần 18.500 xe điện VinFast thông qua hình thức đầu tư trực tiếp và cho thuê dài hạn.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Ngày 29/5, tại Hội nghị Doanh nghiệp khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026, do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh miền Trung - Tây Nguyên tổ chức, câu chuyện chuyển đổi xanh trở thành mối quan tâm lớn của cộng đồng doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc VCCI miền Trung - Tây Nguyên, cho hay, trên những mái xưởng dệt may ở miền Trung, các tấm pin mặt trời lặng lẽ hứng nắng. Bên dưới, dây chuyền vẫn vận hành, công nhân vẫn vào ca đều đặn. Nhưng cách doanh nghiệp làm ăn đã không còn như trước.
Điện mặt trời, tiết kiệm nước, giảm hóa chất, đo phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc… những việc từng được xem là "làm thêm cho đẹp hồ sơ", nay trở thành yêu cầu sống còn. Hàng hóa muốn vào các thị trường lớn không chỉ cần đúng mẫu mã, đúng giá, giao đúng hẹn, mà còn phải chứng minh được sản xuất ra sao, phát thải bao nhiêu, có trách nhiệm với môi trường và người lao động thế nào.
Ông Quang nhìn nhận, môi trường kinh doanh đang thay đổi rất nhanh. Biến động địa chính trị, bảo hộ thương mại, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng, lạm phát và yêu cầu phát triển bền vững đang tạo ra một "luật chơi" khác trước.
"Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh bằng giá thành hay quy mô, mà còn bằng năng lực thích ứng, tốc độ đổi mới, khả năng chuyển đổi xanh và trách nhiệm với xã hội, môi trường, cộng đồng", ông Quang nói.
Với nhiều doanh nghiệp miền Trung - Tây Nguyên, "cơn sóng xanh" đến cùng lúc với nhiều sức ép. Phần lớn doanh nghiệp còn nhỏ, vốn mỏng, công nghệ chưa đồng bộ, nhân lực thiếu hụt. Chuyển đổi xanh vì thế không dễ, nhưng nếu đứng ngoài, nguy cơ mất đơn hàng, mất thị trường có thể đến rất nhanh.
Ông Quang ví chuyển đổi xanh như "giấy thông hành" mới của hàng hóa. Doanh nghiệp đi chậm sẽ mất lợi thế cạnh tranh, trong khi doanh nghiệp đi trước có thể mở ra cơ hội lớn hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bà Trần Thị Lan Anh, Tổng thư ký VCCI, cho rằng chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế carbon thấp và thực hành ESG không còn là câu chuyện khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để doanh nghiệp bước vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Những khái niệm như CBAM, truy xuất nguồn gốc xanh, hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số hay báo cáo phát triển bền vững đang dần đi vào đời sống doanh nghiệp xuất khẩu. Một chiếc áo, một cuộn vải hay một lô hàng nông sản không chỉ được hỏi "giá bao nhiêu", mà còn bị hỏi "làm từ đâu, phát thải bao nhiêu, có tái chế được không".
Theo bà Lan Anh, miền Trung - Tây Nguyên có lợi thế về logistics, kinh tế biển, du lịch, nông nghiệp và năng lượng tái tạo. Đây là nền tảng để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghiệp bền vững. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội, doanh nghiệp phải nâng năng lực quản trị rủi ro, chuyển đổi số, đa dạng hóa thị trường và tiếp cận tốt hơn với vốn, công nghệ xanh.
Trong ngành dệt may, sức ép này hiện rõ hơn cả. Ông Trần Đức Tý, Trưởng bộ phận Tuân thủ và Phát triển bền vững Phong Phú Group, cho rằng phát triển bền vững không nên được hiểu là việc làm ngắn hạn để hoàn thiện hồ sơ, mà phải là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp này hiện có hệ sinh thái sản xuất khá rộng, từ sợi, vải, may, in thêu đến giặt mài; với 30 nhà máy, 7 công ty con, 4 trung tâm thiết kế, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, cùng khoảng 19.000 lao động. Với quy mô này, chuyển đổi xanh không thể chỉ làm ở một phân xưởng hay thể hiện trên vài dòng báo cáo, mà phải đi vào toàn bộ chuỗi sản xuất.
Theo ông Tý, doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang chịu áp lực ngày càng lớn từ các thị trường xuất khẩu như châu Âu, Mỹ. Để giữ đơn hàng, doanh nghiệp phải chứng minh được nguyên liệu lấy từ đâu, sản xuất có gây ô nhiễm nhiều hay không, sản phẩm có thể tái chế ra sao và người lao động có được bảo đảm quyền lợi hay không.
"Chuyển đổi xanh không dừng ở thay đổi công nghệ, mà là quá trình thay đổi cách quản trị", ông Tý nói. Theo ông, mỗi nhân viên cần được đào tạo về sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên. Doanh nghiệp cũng xây dựng đội ngũ nòng cốt để lan tỏa các sáng kiến xanh trong nội bộ.
Trong khi đó, ông Nguyễn Thành Chung, đại diện Chương trình Khí hậu và Năng lượng (WWF Việt Nam), cho rằng Đà Nẵng sau khi mở rộng địa giới có thêm dư địa lớn để phát triển năng lượng tái tạo. Nhu cầu tiêu thụ điện của thành phố tăng từ 4.936 triệu kWh năm 2021 lên 6.198 triệu kWh năm 2025, bình quân 6,8% mỗi năm. Riêng công nghiệp - xây dựng và tiêu dùng dân cư chiếm khoảng 80% lượng điện tiêu thụ.
Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những giải pháp sát thực tế như điện mặt trời mái nhà, tiết kiệm năng lượng, thay lò hơi truyền thống bằng lò hơi điện, bơm nhiệt, điện hóa một số công đoạn. Một dự án điện mặt trời mái nhà 1 MW tại khu công nghiệp có chi phí khoảng 12 tỷ đồng, sản lượng ước 1,45 triệu kWh mỗi năm, thời gian hoàn vốn hơn 5 năm.
Đồng thời, ông Hồ Quang Bửu, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, cho biết địa phương này xác định phát triển xanh và bền vững là định hướng xuyên suốt.
Đà Nẵng đang cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển năng lượng sạch, logistics xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng cường kết nối quốc tế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Theo đó, khi về tay Masterise Homes, dự án đã được đổi tên thành Masterise Towers bao gồm văn phòng cao cấp, khu trung tâm thương mại - bán lẻ hạng sang và căn hộ hàng hiệu.
Chủ đầu tư cũng bắt tay với The Ritz - Carlton để phát triển khách sạn The Ritz - Carlton, Saigon và khu căn hộ hàng hiệu The Ritz - Carlton Residences, Saigon, đánh dấu sự hiện diện lần đầu của thương hiệu khách sạn huyền thoại này tại TP.HCM, bên cạnh văn phòng cao cấp và tiện ích thương mại, bán lẻ.
Sự xuất hiện của thương hiệu The Ritz - Carlton tại một trong những đô thị năng động bậc nhất cả nước được kỳ vọng thiết lập một chuẩn mực mới cho lĩnh vực khách sạn - nghỉ dưỡng siêu sang, phong cách sống hàng hiệu quốc tế và trải nghiệm đô thị tích hợp tại Việt Nam.
Hiện nay, danh mục bất động sản hàng hiệu quốc tế của Masterise Homes bao gồm nhiều dự án nổi bật như Grand Marina, Saigon - khu căn hộ hàng hiệu Marriott và JW Marriott, cùng khu căn hộ hàng hiệu The Ritz - Carlton Residences, Hanoi tại The Grand.
Dự án Masterise Towers tọa lạc đối diện chợ Bến Thành, tại phường Bến Thành (quận 1 cũ). Đây được xem là khu đất "kim cương" hiếm hoi còn sót lại khi nằm ở tứ giác Bến Thành với 4 mặt tiền: Phạm Ngũ Lão - Phó Đức Chính - Lê Thị Hồng Gấm - Calmette.
Trước đây, dự án do Công ty TNHH Tập đoàn Bitexco làm chủ đầu tư. Sau đó, UBND TP.HCM ban hành Quyết định số 5210, chấp thuận chuyển nhượng toàn bộ dự án từ Bitexco sang Công ty TNHH Sài Gòn Glory. Trong một thời gian ngắn, dự án từng về tay Tập đoàn Vạn Thịnh Phát.
Ngày 16.10.2025, UBND TP.HCM đã có Công văn số 2973 về điều chỉnh dự án, qua đó gia hạn tiến độ thêm 48 tháng.
Theo quy hoạch, dự án Masterise Towers gồm 2 tòa tháp cao 46 và 55 tầng, với 214 căn hộ, khoảng 250 phòng khách sạn và diện tích toàn khu 8.600 m2.
Dự án từng thi công phần hầm giai đoạn 2012 - 2013 nhưng sau đó dừng lại. Đến năm 2020, công trình được tái khởi động nhưng tiếp tục gián đoạn cho đến nay. Theo quan sát của Thanh Niên, trên công trường dự án đang thi công nhộn nhịp trở lại.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo tài liệu công bố để tổ chức Đại hội cổ đông thường niên 2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex, mã chứng khoán PLX) trình kế hoạch kinh doanh năm 2026 với sản lượng đạt 19,4 triệu m³/tấn, qua đó đưa doanh thu lên mức kỷ lục 315.000 tỉ đồng, tăng 2% so với năm trước. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế dự kiến giảm 7% so với năm vừa qua, xuống còn 3.380 tỉ đồng.
Lý giải về nguyên nhân đặt kế hoạch lợi nhuận đi lùi, Petrolimex cho biết với giả định nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng của Chính phủ (tối thiểu 10% trong giai đoạn này). Tuy nhiên, sản lượng bán nội địa của Petrolimex qua các năm trong giai đoạn từ 2026 - 2030 sẽ bị ảnh hưởng. Cụ thể, trong giai đoạn 2026 - 2027, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể dao động trong khoảng 8,5% đến 10% nhờ động lực tăng trưởng từ chủ trương, định hướng phát triển của Nhà nước và các dự án phát triển các tuyến cao tốc mới và nhu cầu kinh tế có thể phần nào bù đắp cho sự khởi đầu của các chính sách hạn chế phương tiện và sự gia tăng của xe điện. Xe điện bắt đầu có tác động rõ rệt hơn nhưng chưa chiếm lĩnh thị trường. Số lượng xe động cơ đốt trong vẫn rất lớn. Kế hoạch hạn chế xe xăng dầu vào nội đô bắt đầu từ 2027 sẽ ảnh hưởng đến sản lượng tại các thành phố lớn vào cuối giai đoạn này. Petrolimex với vai trò đảm bảo nguồn và mở rộng mạng lưới ra cao tốc, vùng ven có thể vẫn duy trì được mức tăng trưởng dương nhẹ, nhưng sẽ thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước và có thể thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP chung.
Trong bối cảnh đó, Petrolimex cho rằng việc mở rộng mạng lưới ra khu vực cao tốc và vùng ven, cùng vai trò đảm bảo nguồn cung, có thể giúp duy trì tăng trưởng dương, song tốc độ sẽ thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước, thậm chí có thể thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP.
Giai đoạn 2028 - 2030, tăng trưởng sản lượng được dự báo chậm lại, chỉ còn khoảng 6 - 7%/năm. Đây là thời điểm xe điện trở nên phổ biến hơn nhờ giá thành giảm, hạ tầng sạc được cải thiện và các chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả. Đồng thời, việc hạn chế phương tiện sử dụng xăng dầu tại các đô thị lớn được triển khai mạnh mẽ hơn, tạo áp lực giảm sản lượng ở những thị trường trọng điểm... Như vậy, với các nhận định trên, dự kiến sản lượng kinh doanh xăng dầu của tập đoàn trong giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.
Về chỉ tiêu tài chính, hoạt động kinh doanh xăng dầu là ngành hàng chịu tác động trực tiếp và hết sức trọng yếu của diễn biến giá dầu thế giới. Với giả định giá dầu thế giới biến động trong biên độ hẹp và dao động ở mức tương đồng với giá dầu bình quân của giai đoạn 2021 - 2025, tập đoàn dự kiến doanh thu giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu tăng trưởng bình quân không thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng sản lượng dự kiến đạt 7%/năm; lợi nhuận phấn đấu tăng trưởng bình quân từ 6 - 7%/năm.

