Có lẽ chưa bao giờ tôi cảm nhận rõ sự căng thẳng của mùa tuyển sinh đại học như năm nay, khi con trai của chị gái tôi vừa hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT và nhận được kết quả mà nhiều người mơ ước.
Cháu đạt 9 điểm môn Toán, 8 điểm môn Tiếng Anh và 8 điểm môn Ngữ văn, 8,5 điểm môn Vật Lý. Đó là thành quả của mười hai năm học tập, đặc biệt là ba năm THPT với biết bao ngày thức khuya, dậy sớm, những buổi học thêm kéo dài đến tối muộn và cả những lần áp lực đến mức muốn bỏ cuộc.
Khi điểm thi được công bố, cả gia đình đều vui mừng vì kết quả ấy phản ánh đúng năng lực của cháu. Thế nhưng niềm vui ấy lại nhanh chóng nhường chỗ cho sự thấp thỏm. Cháu vẫn lo mình có thể trượt đại học chỉ vì thiếu 0,25 hoặc 0,5 điểm khi các trường công bố điểm chuẩn.
Nhiều người nghe đến điều đó có thể cho rằng thật vô lý. Điểm số như vậy đâu phải thấp. Thậm chí ở nhiều thời điểm trước đây, với kết quả ấy, cơ hội bước chân vào đại học là rất lớn. Nhưng tuyển sinh đại học ngày nay đã khác. Ở nhiều ngành học và nhiều trường đại học có sức hút lớn, điểm chuẩn luôn ở mức rất cao.
Có những ngành chỉ chênh nhau đúng 0,25 điểm nhưng số phận của hàng trăm thí sinh đã khác nhau hoàn toàn. Có người trở thành tân sinh viên của ngôi trường mơ ước, có người phải chấp nhận lựa chọn thứ hai dù năng lực gần như tương đương.
Chính vì thế, nỗi lo của cháu không phải là nỗi lo vô cớ mà là tâm trạng chung của rất nhiều học sinh sau khi biết điểm thi. Kỳ thi vào đại học từ lâu đã được xem là một trong những bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời mỗi người.
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất không phải là điểm số của cháu, mà là cảm giác bất an sau khi đã cố gắng hết sức. Cháu nói với tôi rằng nếu thiếu 0,25 điểm để đỗ vào ngành mình yêu thích, có lẽ cháu sẽ tiếc nuối rất lâu.
Tôi hiểu cảm giác ấy. Bởi 0,25 điểm nghe thì rất nhỏ nhưng để có thêm từng ấy điểm, học sinh phải trả giá bằng hàng tháng, thậm chí hàng năm học tập nghiêm túc. Một câu hỏi làm đúng thay vì làm sai, một lỗi trình bày được tránh, một phút bình tĩnh hơn trong phòng thi cũng có thể tạo nên sự khác biệt. Trong tuyển sinh đại học hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng lớn.
Nhiều trường sử dụng nhiều phương thức xét tuyển khác nhau như xét học bạ, xét chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, xét kết quả kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy và xét điểm thi tốt nghiệp THPT. Điều đó khiến số lượng chỉ tiêu dành cho từng phương thức thay đổi theo từng năm. Với những ngành “nóng” như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, kinh tế, y khoa, luật hay sư phạm ở các trường tốp đầu, mức điểm chuẩn luôn rất cao.
Chỉ cần một sự chênh lệch nhỏ cũng có thể khiến kết quả hoàn toàn khác. Có người sẽ hỏi rằng nếu trượt nguyện vọng một thì có phải cuộc đời sẽ khép lại hay không. Câu trả lời chắc chắn là không.
Cháu hiểu rằng đại học sẽ là môi trường giúp cháu phát triển năng lực, theo đuổi nghề nghiệp và hiện thực hóa những dự định sau này. Chính vì thế, cháu mong muốn mình được bước vào ngôi trường đã lựa chọn từ nhiều năm trước.
Sự lo lắng ấy không phải biểu hiện của sự yếu đuối mà là minh chứng cho việc cháu thực sự coi trọng tương lai của bản thân. Là người lớn, chúng ta cần chia sẻ với các em nhiều hơn trong khoảng thời gian chờ điểm chuẩn. Đây là quãng thời gian tưởng như ngắn nhưng lại dài đối với tâm lý của một thí sinh.
Mỗi ngày trôi qua đều đi kèm với sự hồi hộp. Các em liên tục theo dõi dự báo điểm chuẩn, đọc thông tin tuyển sinh, so sánh điểm số của mình với bạn bè và không ngừng đặt ra những giả thiết. Chính lúc này, gia đình nên là chỗ dựa tinh thần thay vì tạo thêm áp lực. Một lời động viên đúng lúc có thể giúp các em bình tĩnh hơn rất nhiều.
Gia đình chúng tôi cũng hồi hộp không kém. Chúng tôi hy vọng cháu sẽ đạt được nguyện vọng của mình, nhưng nếu kết quả không như mong muốn, chúng tôi vẫn sẽ ở bên để động viên cháu tiếp tục bước đi. Bởi điều đáng quý nhất không chỉ nằm ở những con số trên bảng điểm, mà còn nằm ở hành trình cháu đã dũng cảm vượt qua để có được những con số ấy.
Tôi tin rằng có hàng chục nghìn gia đình trên khắp cả nước đang có tâm trạng giống như gia đình tôi. Họ vui vì con đã hoàn thành một kỳ thi quan trọng, nhưng cũng lo lắng vì tương lai vẫn còn phụ thuộc vào điểm chuẩn.
Nhiều người nói: "Tuổi trẻ nên ở thuê, tận hưởng cuộc sống, đừng ôm cục nợ mua nhà". Nghe cũng hợp lý vì không phải ai cũng muốn vừa đi làm đã gồng mình trả ngân hàng suốt 15-20 năm. Nhưng càng chứng kiến bạn bè xung quanh, tôi càng thấy một điều: nỗi vất vả khi mua nhà thực ra chỉ tập trung trong vài năm đầu, còn cái giá của việc ở thuê kéo dài lại âm thầm đeo bám cả đời.
Nhiều người thường so sánh tiền trả góp với tiền thuê nhà ở hiện tại rồi kết luận bỏ ra một khoản lớn để mua nhà "không đáng". Ví dụ, một căn hộ hai phòng ngủ ở TP HCM hay Hà Nội có giá thuê khoảng 12-15 triệu đồng mỗi tháng, trong khi tiền trả góp ngân hàng để mua lên tới 20-25 triệu đồng. Khoảng chênh lệch đó khiến không ít người chọn ở thuê cho "dễ thở".
Nhưng vấn đề là tiền thuê nhà không đứng yên. Giả sử hôm nay bạn thuê nhà với giá 12 triệu đồng mỗi tháng. Nếu giá thuê chỉ tăng trung bình 5% mỗi năm - mức rất phổ biến ở các thành phố lớn - thì sau 10 năm, tiền thuê đã lên gần 20 triệu đồng mỗi tháng. Sau 20 năm, con số có thể vượt 30 triệu đồng.
Như vậy, tổng số tiền thuê phải trả trong 20 năm có thể lên tới 4 tỷ đồng, chưa kể chi phí chuyển nhà, đặt cọc, sửa chữa, nội thất. Và sau ngần ấy năm, bạn vẫn không sở hữu gì tài sản gì giá trị.
>> 'Thu nhập 30 triệu không nên mua nhà quá 1,8 tỷ'
Trong khi đó, người mua nhà trả góp lại đi theo một quỹ đạo khác. Ví dụ một căn hộ giá 3 tỷ đồng, bạn vay ngân hàng 2 tỷ trong 20 năm. Những năm đầu có thể phải trả khoảng 22-25 triệu đồng mỗi tháng cả gốc lẫn lãi, đúng là khá áp lực. Nhưng khoản "đau" nhất thường chỉ nằm ở 3-5 năm đầu tiên. Sau giai đoạn đó, có ba điều xảy ra cùng lúc:
Thứ nhất, thu nhập của đa số người đi làm thường tăng theo thời gian. Một người 28 tuổi chỉ kiếm 15 triệu đồng mỗi tháng rất có thể đến năm 35 tuổi đã đạt mức 40-50 triệu nếu công việc ổn định. Khoản trả góp từng là gánh nặng rồi sẽ dần trở thành chi phí bình thường.
Thứ hai, dư nợ gốc giảm dần. Càng về sau, áp lực lãi vay sẽ càng nhẹ hơn, nên chuyện trả nợ ngân hàng sẽ không còn lấy đi của bạn toàn bộ tài chính.
Thứ ba, giá trị căn nhà có xu hướng tăng theo chu kỳ dài hạn. Một căn hộ 3 tỷ hôm nay, sau 10 năm hoàn toàn có thể tăng gấp đôi hoặc hơn, đặc biệt ở các đô thị lớn nơi quỹ đất ngày càng hạn chế. Nói cách khác, người mua nhà không chỉ "tiêu tiền", họ đang chuyển thu nhập hiện tại thành tài sản tương lai.
Tôi thấy nhiều người trẻ hiện nay có tâm lý sợ khổ. Họ muốn sống ở trung tâm, đi du lịch đều đặn, dùng xe đẹp, ăn uống thoải mái và tránh mọi áp lực tài chính dài hạn. Điều đó không sai. Ai cũng có quyền tận hưởng tuổi trẻ. Nhưng điều đáng nói là thời gian không đứng yên.
Tuổi 25 bạn có thể thấy ở thuê rất tự do. Tuổi 35 bạn có thể vẫn ổn. Nhưng đến tuổi 40-50, cảm giác phải tiếp tục trả tiền thuê nhà mỗi tháng sẽ rất khác. Khi sức khỏe giảm đi, cơ hội nghề nghiệp ít lại, áp lực nuôi con và chăm sóc cha mẹ tăng lên, việc không có một chỗ ở ổn định sẽ trở thành nỗi bất an rất lớn.
Nhiều người nói "đem tiền đi đầu tư còn lời hơn mua nhà". Điều này có thể đúng nếu họ thực sự có kỷ luật tài chính và khả năng đầu tư tốt trong 15-20 năm liên tục. Nhưng thực tế, không ít người nói vậy rồi cuối cùng tiền lại trôi vào xe cộ, điện thoại, du lịch hay những khoản tiêu dùng ngắn hạn.
Nhà ở có một ưu điểm rất đặc biệt: nó ép con người tích lũy. Khoản trả góp hàng tháng giống như một hình thức "bắt buộc để dành". Dù áp lực, nhưng sau mỗi năm đi qua, tài sản của bạn lại dày thêm một chút. Đó là thứ mà tiền thuê nhà không bao giờ mang lại.
Tất nhiên, nếu thu nhập chưa ổn định, khoản vay vượt khả năng chi trả hoặc phải hy sinh toàn bộ chất lượng sống thì rõ ràng không nên cố mua nhà. Nhưng nếu có công việc tương đối vững, tài chính đủ để trả trước và chấp nhận vài năm đầu chật vật, việc mua nhà sớm vẫn là lựa chọn đáng cân nhắc.
Cái khổ của người mua nhà thường hữu hạn. Họ thắt lưng buộc bụng vài năm để đổi lấy sự ổn định hàng chục năm sau. Còn sự thoải mái của việc ở thuê đôi khi chỉ là cảm giác dễ chịu trước mắt, nhưng cái giá phải trả lại nằm ở tương lai rất xa, khi tuổi trẻ qua đi mà tài sản vẫn chưa có gì trong tay.
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Mỗi lần thấy người ta tranh luận về trường chuyên, tôi lại thấy xuất hiện một cụm từ quen thuộc: "gà chọi". Nhiều người nghĩ những đứa trẻ ở đó chỉ biết học, chỉ biết đi thi, giỏi giành giải, nhưng thiếu kỹ năng sống, thiếu trải nghiệm, lớn lên khó hòa nhập xã hội.
Tôi không biết trường chuyên bây giờ đã thay đổi đến đâu. Nhưng tôi từng học trường thường, rồi vào trường chuyên. Bây giờ tôi có hai con, một học trường công, một học trường tư. Tôi không cho rằng trường chuyên là con đường duy nhất để thành công. Nhưng tôi cũng thấy không công bằng nếu chỉ nhìn vài ví dụ tiêu cực rồi phủ nhận cả một môi trường đã giúp rất nhiều đứa trẻ thay đổi cuộc đời.
Nhiều người cho rằng học trường chuyên quá khổ, con cái không có thời gian phát triển thể lực hay các hoạt động khác. Ít nhất với trải nghiệm của mình cách đây hơn 20 năm thì không phải vậy. Quanh tôi, các lớp chuyên khác rất mạnh về thể thao. Ngày nào tôi cũng thấy các bạn trai cao trên 1,7 m chơi bóng rổ ngoài sân. Cuối tuần, các lớp, các khối đá bóng, cổ vũ rất hoành tráng.
Nói về văn hóa thì, tôi học chuyên Anh. Hồi đó, ai cũng biết học sinh chuyên Anh khá "chịu chơi". Tôi vẫn nhớ cảm giác rất choáng của một đứa nhóc 15 tuổi mới vào trường khi cả khối tự tổ chức một đêm ca nhạc ở nhà văn hóa. Hàng trăm học sinh các trường khác đến xem. Ca nhạc, tạp kỹ, biểu diễn thời trang... tất cả đều do học sinh tự làm.
Khối tôi cũng rất cập nhật văn hóa phương Tây lúc đó: bóng đá, âm nhạc, phim ảnh... cái gì cũng biết. Đến các dịp quan trọng, chúng tôi cũng đi bán hoa, kinh doanh gây quỹ, tham gia cắm hoa, văn nghệ, nhạc cụ... hoạt động nào cũng có mặt. Đấy là những thứ học sinh không được dạy ở trong trường. Đơn giản vì chúng tôi được bao quanh bởi những con người cũng thích tìm hiểu, khám phá, thích cạnh tranh và dám nghĩ dám làm.
>> Con tôi học trường tư 10 triệu một tháng không phải để chạy đua trường chuyên
Điều mình thấy may mắn nhất khi học trường chuyên không chỉ là cơ sở vật chất, mà còn là thầy cô. Phải công nhận các thầy cô ở trường chuyên được đầu tư nên rất giỏi. Không chỉ giỏi chuyên môn mà họ còn rất tâm lý, hiểu và thương học sinh. Tôi cũng không thấy mình bị thiệt thòi gì khi học trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Bây giờ, tôi thấy càng ngày người ta càng đầu tư cho các trường chuyên để cơ sở vật chất tốt hơn. Trường tư thì những gia đình có điều kiện mới dễ tiếp cận. Còn với trường chuyên, những học sinh có năng lực mới có cơ hội vào. Nếu trường chuyên được đầu tư tốt, thì những đứa trẻ có khả năng nhưng điều kiện kinh tế hạn chế vẫn có cơ hội học trong một môi trường chất lượng. Chỉ riêng điều đó thôi, theo tôi đã rất đáng.
Nhà tôi ngày ấy không khá giả. Có những lúc tôi thấy hơi lạc lõng giữa nhiều bạn có điều kiện hơn. Nhưng nhìn lại, tôi thấy đó là một giai đoạn rất may mắn. Nhờ học lực, tôi được học trong một môi trường mà nếu phải đóng học phí như trường tư thời đó, gia đình chắc chắn không thể kham được. Nếu không có kỳ thi tuyển ấy, có lẽ tôi đã không có nhiều cơ hội như sau này.
Tất nhiên, phải thừa nhận để vào được trường chuyên rất vất vả. Đúng là tôi phải học thêm và tự học rất nhiều, cả ở trường lẫn ở nhà. Tôi mất gần cả mùa hè để ôn thi chuyển cấp. Có điều, quanh tôi lúc ấy ai cũng học như vậy nên cũng thấy bình thường. Đổi lại, tôi rèn được sự tập trung, tinh thần cạnh tranh và quan trọng nhất là không bỏ cuộc. Môi trường chuyên rèn cho tôi "resilience" - sự kiên cường và khả năng phục hồi sau thất bại.
Khi sang nước ngoài học, tôi chẳng có ai ở bên cạnh. Có những lúc tôi cảm thấy lạc lõng, thậm chí đôi khi như bị "cô lập". Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Đến bây giờ nhìn lại, mình vẫn nghĩ phần nào đó là nhờ ba năm học trong một môi trường luôn buộc mình phải cố gắng thêm một chút nữa.
Dĩ nhiên bây giờ khác ngày xưa rất nhiều. Các em học sinh có Internet, có AI, có rất nhiều nguồn học liệu. Không học trường chuyên vẫn có thể giỏi Tiếng Anh, giỏi STEM hay săn học bổng. Nhưng theo mình vẫn có một khác biệt. Một học sinh giỏi ở trường thường vẫn có thể rất giỏi. Chỉ là các em phải tự tạo động lực cho mình. Điều đó không hề dễ, nhất là ở tuổi mới lớn, khi các em còn đang loay hoay đi tìm mình là ai.
Ở trường chuyên thì khác. Thầy cô và bạn bè chính là sợi dây kéo tôi đi tiếp. Có những lúc tôi nản, nhìn quanh, ai cũng đang học, ai cũng đang cố, thế là tôi lại tiếp tục. Việc phải cố gắng mỗi ngày dần trở thành một thói quen. Theo tôi, đó mới là giá trị lớn nhất của trường chuyên.
Thời bây giờ, bố mẹ lo cho con nhiều hơn ngày xưa rất nhiều. Sợ con áp lực, sợ con trầm cảm, sợ con không phát triển toàn diện, sợ con thấp bé, sợ con bị bắt nạt. Tôi hiểu tất cả những nỗi lo ấy. Nhưng đôi khi tôi có cảm giác, chúng ta đang kỳ vọng ba năm cấp ba phải biến các con thành một con người hoàn thiện: vừa học giỏi, vừa giỏi thể thao, vừa giỏi nghệ thuật, vừa có kỹ năng xã hội, vừa hạnh phúc.