Tiếc nuối vì không thể điều trị cho bệnh nhân kịp thời
Chia sẻ với Báo điện tử Tuổi Trẻ, bác sĩ Lực cho hay bệnh nhân là một người đàn ông trung niên nhập viện cấp cứu vì cơn đau thắt lưng phải dữ dội. Sau khi được xử trí giảm đau, truyền dịch và nhập viện theo dõi, đến sáng hôm sau, khi triệu chứng đau giảm, bệnh nhân kiên quyết xin xuất viện để về điều trị bằng thuốc nam.
Kiểm tra lại hồ sơ bệnh án và kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT), bác sĩ phát hiện người bệnh có viên sỏi niệu quản kích thước khoảng 17 x 11mm, mắc kẹt tại niệu quản, gây tắc nghẽn hoàn toàn đường lưu thông nước tiểu.
Hậu quả là thận phải đã bị ứ nước độ III, nhu mô thận bắt đầu mỏng dần, dấu hiệu cho thấy chức năng thận đang bị đe dọa.
Muốn trực tiếp giải thích về mức độ nguy hiểm của bệnh, bác sĩ nhờ điều dưỡng mời bệnh nhân và người nhà vào phòng tư vấn.
Tuy nhiên khi đó người bệnh đã hoàn tất thủ tục xuất viện và rời bệnh viện.
Không yên tâm trước nguy cơ người bệnh có thể mất chức năng thận, bác sĩ Lực quyết định gọi điện theo số điện thoại lưu trong hồ sơ.
Ông giải thích với bệnh nhân viên sỏi đã gây ứ nước thận độ III, khả năng điều trị nội khoa gần như không còn hiệu quả.
Nếu chưa tin tưởng cơ sở điều trị hiện tại, người bệnh hoàn toàn có thể đến bất kỳ bệnh viện chuyên khoa lớn nào để được tư vấn và can thiệp sớm.
Điều khiến bác sĩ lo lắng nhất không phải là cơn đau lưng hiện tại, mà là việc cơn đau đã giảm trong khi viên sỏi vẫn nằm nguyên tại chỗ, tiếp tục âm thầm phá hủy quả thận.
Thế nhưng dù đã được tư vấn, bệnh nhân vẫn lựa chọn trở về uống thuốc nam với lý do trước đây từng uống thuốc và đã tiểu ra được một số viên sỏi nhỏ.
“Câu trả lời ấy khiến tôi chỉ biết thở dài. Tôi không thể ép bệnh nhân điều trị khi họ đã từ chối. Trong đầu tôi lại hiện lên những trường hợp người bệnh điều trị không đúng chỉ định, đến khi nhập viện thì thận đã ứ mủ, mất chức năng, không còn cơ hội cứu chữa”, bác sĩ Lực trăn trở.
Theo bác sĩ Lực, Việt Nam có nền y học cổ truyền lâu đời với nhiều giá trị đã được khẳng định. Tuy nhiên cũng như y học hiện đại, mỗi phương pháp điều trị đều có chỉ định và giới hạn riêng.
Đối với bệnh sỏi tiết niệu, thuốc nam có thể hỗ trợ trong những trường hợp sỏi nhỏ, thường dưới 5-6mm, bề mặt nhẵn, chưa gây tắc nghẽn và chức năng thận vẫn bình thường. Khi đó tác dụng lợi tiểu và chống viêm của một số dược liệu có thể giúp cơ thể đào thải sỏi theo đường tự nhiên.
Ngược lại, khi viên sỏi đã có kích thước lớn hoặc mắc kẹt tại niệu quản gây tắc nghẽn, đặc biệt đã xuất hiện tình trạng ứ nước thận độ II hoặc độ III, việc kỳ vọng thuốc làm tan sỏi hoặc giúp sỏi tự ra ngoài gần như không khả thi.
Bác sĩ giải thích niệu quản vốn là một ống rất nhỏ. Khi viên sỏi lớn hơn nhiều lần đường kính của niệu quản và đã kẹt lại, thuốc không thể khiến viên sỏi “chui qua” vị trí tắc nghẽn.
Theo bác sĩ, một trong những sai lầm phổ biến của người bệnh sỏi tiết niệu là cho rằng hết đau đồng nghĩa với đã khỏi bệnh. Sau cơn đau quặn thận cấp, cơ thể có cơ chế thích nghi khiến cảm giác đau giảm dần. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa viên sỏi đã biến mất.
Nếu sỏi vẫn tiếp tục gây bít tắc, nước tiểu sẽ không thể lưu thông, khiến thận phía trên ngày càng giãn, ứ nước hoặc ứ mủ. Quá trình này diễn ra âm thầm trong thời gian dài, làm chức năng thận suy giảm từng bước.
Đến khi người bệnh xuất hiện triệu chứng trở lại hoặc phát hiện suy thận, nhiều trường hợp quả thận đã mất chức năng và không còn khả năng bảo tồn.
“Trong khi đó hiện nay y học đã có nhiều kỹ thuật điều trị sỏi tiết niệu hiện đại, ít xâm lấn như tán sỏi nội soi ngược dòng hay tán sỏi qua da giúp loại bỏ sỏi hiệu quả, đồng thời bảo tồn tối đa chức năng thận nếu được can thiệp đúng thời điểm”, bác sĩ Lực nói.
Sáng 9/5, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Trị cho biết xét nghiệm do Viện Pasteur Nha Trang, với 12 mẫu thực phẩm và 7 mẫu bệnh phẩm lấy ngày 3 và 4/5. Kết quả, cả 7 mẫu bệnh phẩm và 4 mẫu thực phẩm gồm rau ngò, trứng, nước mắm chan, bánh mì ổ xíu phát hiện Salmonella.
Vi khuẩn Bacillus cereus xuất hiện trong 4 mẫu thực phẩm gồm rau ngò, bánh mì thành phẩm, chả lụa và cháo bột mì.
CDC cho hay thông báo kết quả trên nhằm phục vụ quá trình điều tra và kết luận vụ ngộ độc thực phẩm, đồng thời khuyến cáo người dân nhằm ngăn ngừa nguy cơ ngộ độc.
Đến sáng nay, 68 người ngộ độc sau ăn bánh mì đã được Bệnh viện Đa khoa khu vực Hướng Hóa cho xuất viện.
Salmonella và Bacillus cereus là hai loại vi khuẩn hàng đầu gây bệnh đường tiêu hóa, với dấu hiệu khởi phát gồm sốt cao kéo dài, đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, tiêu chảy. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong do mất nước.
Vi khuẩn Salmonella có thể tồn tại trong nước từ hai đến ba tuần, trong phân từ hai đến ba tháng, bị tiêu diệt ở 100 độ C trong vòng 5 phút hoặc bởi các chất sát khuẩn thông thường. Bacillus cereus phổ biến trong môi trường, phân và đất nên dễ nhiễm vào thực phẩm. Vi khuẩn này có khả năng tồn tại ở dạng bào tử và đề kháng với nhiệt độ cao.
Con đường lây truyền vi khuẩn chủ yếu qua các món ăn không được nấu chín hoặc trong quá trình chế biến thực phẩm bị nhiễm khuẩn. Điều kiện vệ sinh môi trường kém, nguồn nước không đảm bảo, hệ thống thoát nước không đạt chuẩn... cũng là nguồn lây bệnh.
Vi khuẩn Bacillus cereus là một tác nhân gây ngộ độc thực phẩm chỉ xếp sau Salmonella. Bacillus cereus phổ biến trong môi trường, trong phân, đất nên dễ bị nhiễm vào thực phẩm. Khuẩn này có khả năng tồn tại ở dạng bào tử và đề kháng với nhiệt cao.
Bacillus cereus phát triển tốt nhất trong khoảng từ 4 đến 48 độ C, sinh sôi nhiều trong khoảng 28 đến 35 độ C. Thực phẩm chứa độc tố của vi khuẩn này thường gây hai dạng ngộ độc. Dạng thứ nhất, độc tố gây buồn nôn, nôn ói, đau bụng, khởi phát nhanh trong vòng 6 giờ sau khi ăn. Dạng thứ hai xảy ra chậm hơn, từ 6 đến 15 giờ, gây tiêu chảy khi vi khuẩn ở trong đường ruột.
Ngành y tế khuyến cáo người dân lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, ăn chín uống sôi, không sử dụng thực phẩm sống hoặc chế biến không đảm bảo vệ sinh. Trong quá trình chế biến, cần rửa tay sạch, tách riêng thực phẩm sống và chín; dụng cụ phải được vệ sinh kỹ; thực phẩm sau khi nấu nên dùng ngay hoặc bảo quản, hâm nóng đúng cách.
Khi xuất hiện các triệu chứng như đau bụng, tiêu chảy, nôn ói sau ăn, người dân cần nghỉ ngơi, bù nước bằng dung dịch oresol theo hướng dẫn, không tự ý dùng thuốc, đặc biệt là kháng sinh hoặc thuốc cầm tiêu chảy khi chưa có chỉ định. Trường hợp có dấu hiệu nặng như sốt cao, tiêu chảy nhiều lần, phân có máu, mất nước hoặc mệt lả cần đến cơ sở y tế để được xử trí kịp thời.
Thời gian qua, cả nước liên tục xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm sau khi ăn bánh mì. Nguyên nhân thường do nguyên liệu ăn kèm như pate, rau, thịt... nhiễm khuẩn Salmonella, gây nhiễm khuẩn chéo.
Muối và nước mắm là hai gia vị phổ biến trong bữa ăn người Việt, tùy theo sở thích từng người để lựa chọn. Đối với sức khỏe, "nguyên tắc cốt lõi không phải là chọn muối hay chọn nước mắm, mà là kiểm soát tổng lượng natri bạn nạp vào cơ thể mỗi ngày", PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên cán bộ Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội, nói. Bởi, thói quen ăn quá nhiều muối hay chấm nước mắm quá mặn đều gây hại.
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một người trưởng thành chỉ nên tiêu thụ dưới 5 g muối/ngày (tương đương với dưới 2.000 mg Natri). Ước tính, 5 g muối tương đương với khoảng 2,5 thìa nước mắm hoặc 1,5 thìa bột canh hay hai thìa hạt nêm.
Thực tế, hầu hết gia đình Việt đều đang tiêu thụ lượng muối vượt xa ngưỡng an toàn trên. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trung bình một người Việt đang ăn lượng muối cao gần gấp đôi khuyến nghị, dao động khoảng từ 8 - 10 g/ngày.
TS Lê Thị Hương Giang (Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8, Bộ Công an) cho biết, một chén nước mắm nguyên chất dung tích từ 30 - 50 ml có chứa khoảng 1.500 - 3.000 mg Natri. Con số này đã xấp xỉ, thậm chí vượt quá tổng lượng Natri mà WHO khuyến nghị cho một người trong cả một ngày (dưới 2.000 mg).
Như vậy, khi lạm dụng muối hay nước mắm đều khiến cơ thể phải nạp lượng lớn natri. Nhiều người lầm tưởng nước mắm pha nhạt, nên thường chấm đẫm, chấm nhiều. Song, nếu không kiểm soát thói quen này, cơ thể sẽ rất dễ rơi vào tình trạng quá tải muối, dẫn đến các nguy cơ về tim mạch, huyết áp và thận.
Do đó, "thay vì cố gắng thay thế hoàn toàn gia vị này bằng gia vị kia, giải pháp tối ưu nhất cho sức khỏe là bạn nên chủ động ưu tiên nêm nếm nhạt, giảm bớt liều lượng của cả muối lẫn nước mắm trong thực đơn hàng ngày", tiến sĩ nói.
Để an toàn, bạn nên giảm lượng muối khi chế biến món ăn. Không tẩm ướp quá nhiều muối vào thực phẩm, ưu tiên món luộc, hấp thay vì rang, kho, rim... Nước mắm nên pha loãng, hạn chế ăn nước mắm nguyên chất. Áp dụng quy tắc "rót một nửa", tức là chủ động rót lượng nước chấm bằng một nửa so với mọi khi. Nếu thiếu, bạn hoàn toàn có thể rót thêm, tránh việc để thừa lãng phí.
Nên cho trẻ em ăn thực phẩm tự nhiên và không thêm muối khi nấu. Không nên lạm dụng bột nêm khi nấu thức ăn và thay thế muối i-ốt.
Hạn chế sử dụng các sản phẩm có hàm lượng muối cao như khoai tây chiên, xúc xích, giò chả, các loại khô mắm, dưa muối và các loại thực phẩm chế biến sẵn. Nên chọn các sản phẩm có hàm lượng muối thấp khi mua thực phẩm chế biến sẵn.
Đọc nhãn khi mua thực phẩm đã được chế biến sẵn để kiểm tra hàm lượng muối. Hạn chế ăn tiệm, nhà hàng và không nên ăn hết nước sốt. Khi ăn thức ăn chế biến sẵn như mì ăn liền, chỉ nên nêm nửa gói gia vị và nên bổ sung rau vào bát mì để được đầy đủ chất dinh dưỡng và ngon miệng hơn.
"Bạn nên cắt giảm từ từ để vị giác thích nghi, đảm bảo an toàn và ngon miệng, phù hợp với khẩu vị của từng thành viên trong gia đình", chuyên gia nói.
PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Phó viện trưởng Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết béo phì là một vấn đề y tế toàn cầu với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng. Chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng, không chỉ giúp giảm cân mà còn cải thiện sức khỏe tổng thể, phòng ngừa bệnh tật.
Để giảm cân hiệu quả, cần tạo ra sự thâm hụt calo, tức là lượng calo tiêu thụ phải ít hơn lượng calo tiêu hao. Theo nghiên cứu từ Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), để giảm 0,5 kg trọng lượng cơ thể, cần tạo ra sự thâm hụt khoảng 3.500 Kcal. Mục tiêu giảm 500-1.000 Kcal mỗi ngày so với nhu cầu năng lượng ban đầu thường được khuyến cáo, giúp giảm khoảng 0,5-1 kg mỗi tuần.
Một chế độ ăn cân bằng cần bao gồm 45-65% carbohydrate, 10-35% protein và 20-35% chất béo. Chất xơ, đặc biệt từ ngũ cốc nguyên hạt và rau xanh, giúp cảm giác no lâu hơn, giảm nguy cơ béo phì và các bệnh liên quan. Ngoài ra chúng cũng giúp kiểm soát lượng đường trong máu và giảm mức cholesterol. Chọn thực phẩm giàu dinh dưỡng như rau củ quả, ngũ cốc nguyên hạt, protein từ thực vật và động vật ít béo. Hạn chế tiêu thụ nhiều thực phẩm chế biến sẵn, nhiều đường và chất béo bão hòa, tránh nước ngọt có gas và thức ăn nhanh.
Ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày có thể giúp kiểm soát cơn đói và ngăn chặn ăn quá nhiều, kiểm soát đường huyết, giảm cholesterol và duy trì cân nặng lý tưởng. Điều này cũng giúp duy trì mức năng lượng ổn định trong ngày.
Các chế độ ăn uống phổ biến để tạo ra thâm hụt calo, giảm mỡ hiệu quả, như sau:
Chế độ ăn ít calo (Low-calorie diet)
Chế độ này hạn chế lượng calo tiêu thụ hàng ngày xuống còn khoảng 1.200-1.500 Kcal cho nữ và 1.500-1.800 Kcal cho nam (lượng trung bình mỗi người cần 2.000 Kcal một ngày, chia ba bữa). Một nghiên cứu trên tạp chí Obesity cho thấy áp dụng chế độ ăn ít calo giúp giảm khoảng 8% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng đầu.
Chế độ ăn rất ít calo (Very low-calorie diet)
Chế độ này thường giới hạn lượng calo tiêu thụ xuống dưới 800 Kcal mỗi ngày, chủ yếu áp dụng cho những người béo phì nặng và có các vấn đề sức khỏe liên quan. Những người theo chế độ ăn rất ít calo có thể giảm từ 1,5 đến 2,5 kg mỗi tuần trong 12-16 tuần đầu tiên. Tuy nhiên, chế độ này cần được giám sát y tế chặt chẽ do nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng và các biến chứng sức khỏe khác.
Chế độ ăn ít carbohydrate (Low-carbohydrate diet)
Giảm lượng carbohydrate dưới 20% tổng lượng calo hàng ngày, tăng lượng protein và chất béo. Nghiên cứu của New England Journal of Medicine (2008) chỉ ra rằng chế độ ăn ít carbohydrate có thể giúp giảm cân nhanh hơn so với chế độ ăn ít chất béo trong vòng 6 tháng đầu, nhưng hiệu quả này có thể không duy trì lâu dài.
Chế độ ăn Địa Trung Hải (Mediterranean diet)
Chế độ này tập trung vào việc tiêu thụ dầu ô liu, cá, rau củ quả và các loại hạt, rượu vang đỏ với lượng vừa phải. Theo một nghiên cứu đăng trên The American Journal of Medicine (2016), những người theo chế độ ăn Địa Trung Hải giảm trung bình 4,6 kg sau một năm và có sự cải thiện đáng kể về mức độ cholesterol và huyết áp.
Chế độ ăn Kiêng keto (Ketogenic diet)
Chế độ này giới hạn carbohydrate xuống dưới 50 gram mỗi ngày, dẫn đến trạng thái ketosis, trong đó cơ thể sử dụng chất béo làm nguồn năng lượng chính. Một nghiên cứu từ Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism (2019) cho thấy chế độ ăn keto giúp giảm cân nhanh chóng trong thời gian ngắn, nhưng cần phải theo dõi dài hạn vì có thể gây ra các tác dụng phụ như thiếu hụt chất dinh dưỡng và tăng cholesterol.
Chế độ ăn chay (Vegetarian and vegan diets)
Chế độ ăn chay, đặc biệt là ăn thuần chay, thường chứa ít calo và chất béo bão hòa hơn, giàu chất xơ. Nhiều nghiên cứu cho thấy người ăn chay có chỉ số BMI thấp hơn và tỷ lệ mắc bệnh béo phì cũng thấp hơn so với người ăn thịt.
Chế độ ăn gián đoạn (Intermittent fasting)
Các phương pháp phổ biến bao gồm 16/8 (ăn trong vòng 8 giờ và nhịn trong 16 giờ) và 5:2 (ăn bình thường trong 5 ngày và giảm calo trong 2 ngày còn 500-600 Kcal). Ăn gián đoạn có thể giúp giảm cân hiệu quả và cải thiện các chỉ số sức khỏe như cholesterol và đường huyết.
Bác sĩ lưu ý mỗi người có nhu cầu dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe khác nhau, do đó chế độ ăn cần được cá nhân hóa. Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, mức độ hoạt động thể chất và các bệnh lý nền cần được xem xét. Khuyến nghị từ Hiệp hội Dinh dưỡng Mỹ là cần có sự tư vấn của chuyên gia dinh dưỡng để lập kế hoạch ăn uống phù hợp.
Giảm cân bền vững đòi hỏi sự kiên nhẫn và cam kết lâu dài. Việc duy trì chế độ ăn uống lành mạnh quan trọng hơn so với chỉ tập trung vào việc giảm cân nhanh chóng.