Chính quyền Tổng thống Donald Trump từng chịu áp lực rất lớn khi giá xăng ở Mỹ liên tục tăng vì ảnh hưởng từ chiến sự Iran. Mỹ đã xuất dầu từ kho dự trữ chiến lược để tìm cách ổn định tình hình, nhưng vẫn không ghìm được giá xăng, cùng với đó là lạm phát và chi phí sinh hoạt của người Mỹ leo thang.
Đây được coi là một trong những động lực thúc đẩy ông Trump ký bản ghi nhớ hồi giữa tháng 6 để bắt đầu giai đoạn đàm phán 60 ngày, hướng đến thỏa thuận hòa bình chấm dứt xung đột. Một điều khoản quan trọng của bản ghi nhớ là Iran đồng ý mở lại eo biển Hormuz, tuyến đường vận chuyển 20% nguồn cung dầu mỏ và khí đốt toàn cầu.
Tuy nhiên, trong những tuần sau đó, Iran vẫn duy trì áp lực với Hormuz, coi đây là một trong những đòn bẩy lớn nhất trên bàn đàm phán, bởi họ tin rằng chính quyền Tổng thống Trump cần ổn định kinh tế trong nước để tránh khiến đảng Cộng hòa gặp bất lợi trong bầu cử giữa kỳ vào tháng 11.
Tuy nhiên, một diễn biến gần đây đang làm đảo lộn tính toán của Tehran. Giá dầu Brent đã giảm mạnh sau khi Mỹ – Iran ký bản ghi nhớ, và dù các vụ đụng độ vẫn xảy ra ở Hormuz, giá dầu Brent vẫn duy trì ổn định quanh 70 USD một thùng như trước chiến sự. Sự hạ nhiệt này đã mang lại lợi thế lớn cho Tổng thống Trump, giúp ông thoát khỏi áp lực phải nhanh chóng đạt thỏa thuận với Iran.
“Với nguy cơ lạm phát tạm thời được kiểm soát, các nhà đàm phán Mỹ giờ đây có thể gia tăng sức ép, buộc đối thủ phải chấp nhận các điều khoản khắt khe hơn”, David Goldman, nhà bình luận của CNN, nói.
Ngân hàng đầu tư JPMorgan ước tính thị trường toàn cầu mất khoảng 1,4 tỷ thùng dầu do nguồn cung bị gián đoạn trong thời gian xung đột. Dữ liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết vào thời điểm tệ nhất, nguồn cung toàn cầu đã mất 14 triệu thùng mỗi ngày.
Tuy nhiên, khi lưu lượng tàu thuyền qua Hormuz từng bước phục hồi nhờ bản ghi nhớ, thị trường nhanh chóng chuyển sang trạng thái trái ngược. Hàng chục triệu thùng dầu từ vùng Vịnh bắt đầu được bơm trở lại thị trường, trong khi nhu cầu tiêu thụ không tăng tương ứng.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và Đồng minh (OPEC+) ngày 5/7 thông báo sản lượng dầu sẽ tăng thêm 188.000 thùng một ngày kể từ tháng 8, mức tăng tương tự tháng 6 và 7.
Natasha Kaneva, giám đốc chiến lược hàng hóa toàn cầu tại JPMorgan, cho rằng sau thời gian khủng hoảng ban đầu, thế giới đã thích nghi với tình trạng nguồn cung nhiên liệu hạn chế bằng cách tiết kiệm năng lượng hoặc chuyển sang các nguồn thay thế.
“Nguồn cung giờ đây lại tăng mạnh đúng vào thời điểm thị trường chưa thực sự cần thêm lượng dầu này”, bà Kaneva nói.
Mức độ sử dụng dầu của các nền kinh tế phát triển hiện chỉ bằng khoảng một nửa so với thời kỳ khủng hoảng năng lượng thập niên 1970. Trung Quốc, nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, giảm đáng kể nhu cầu khi xe điện mở rộng thị phần và tích trữ lượng lớn dầu từ trước chiến sự.
Khi chiến sự bùng phát, Trung Quốc có gần 1,4 tỷ thùng dầu dự trữ, theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA). Con số này cao hơn mức 1,2 tỷ thùng của 32 thành viên IEA gộp lại, trong đó Mỹ chiếm 413 triệu thùng. Cùng khả năng điều chỉnh sản lượng dầu và hóa dầu linh hoạt, Trung Quốc góp phần đáng kể giảm áp lực lên thị trường.
“Họ điều tiết thị trường tốt hơn nhiều so với những gì Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từng làm”, Ilia Bouchouev, chuyên gia tại Viện Oxford về Nghiên cứu Năng lượng, nói với Reuters.
IEA dự báo nhu cầu dầu thế giới năm 2027 chỉ tăng khoảng 2 triệu thùng mỗi ngày, trong khi nguồn cung có thể tăng tới 8 triệu thùng mỗi ngày. JPMorgan cho rằng giá dầu có thể xuống khoảng 60 USD một thùng trong năm tới.
“Thậm chí là về 50 USD một thùng trong năm 2028”, theo Kieran Tompkins, chuyên gia về hàng hóa tại Capital Economics.
Những yếu tố trên khiến khả năng Iran tạo cú sốc giá dầu thông qua Hormuz suy giảm đáng kể so với giai đoạn đầu xung đột, khi mà mỗi tuần căng thẳng kéo dài đều có thể tác động đến lạm phát, giá nhiên liệu và tâm lý thị trường.
Khi đòn bẩy Hormuz của Tehran không còn nhiều sức nặng như họ kỳ vọng, Washington giờ đây có thêm dư địa để theo đuổi tiến trình đàm phán theo tốc độ mà chính quyền ông Trump cho là phù hợp.
Dù có thêm đòn bẩy, Washington vẫn chưa hoàn toàn ở thế chủ động. Do phải xuất kho để bù đắp nguồn cung thiếu hụt, lượng dầu dự trữ chiến lược tại nhiều quốc gia đã xuống mức thấp kỷ lục. Theo EIA, kho dự trữ dầu chiến lược (SPR) của Mỹ hiện còn khoảng 320 triệu thùng, thấp nhất kể từ đầu những năm 1980.
Không chỉ SPR, lượng dầu lưu trữ tại Cushing, bang Oklahoma, trung tâm trung chuyển dầu lớn của Mỹ, tuần trước đã giảm xuống dưới 20 triệu thùng và chưa phục hồi. Khi lượng dầu trong các bể chứa giảm xuống dưới mốc này, hệ thống bơm gặp khó khăn trong việc hút và đẩy dầu qua các đường ống, làm giảm hiệu suất vận hành.
Dự trữ xuống quá thấp nguy cơ đẩy Mỹ vào thế bị động nếu phải ứng phó với tình huống khẩn cấp, như thiên tai nghiêm trọng hoặc căng thẳng leo thang trở lại với Iran. Do đó, Nhà Trắng dường như muốn tận dụng khoảng thời gian bình lặng mà bản ghi nhớ mang lại để củng cố thị trường năng lượng và cải thiện vị thế.
Chiến lược này được Phó tổng thống JD Vance đề cập trong cuộc phỏng vấn với nhà bình luận bảo thủ Michael Knowles tuần trước.
“Tôi nghĩ điều mà Tổng thống yêu cầu chúng tôi làm là tận dụng bản ghi nhớ này để bổ sung nguồn cung cho thị trường dầu thế giới, bổ sung các kho dự trữ, rồi sau đó xem Iran còn những quân bài nào”, ông Vance nói.
Bộ trưởng Quốc phòng Ahn Gyu-back ngày 26/6 cho biết Hàn Quốc tới năm 2029 sẽ chế tạo 110.000 máy bay không người lái (UAV) và drone cho các binh chủng của quân đội.
Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc sau đó điều chỉnh con số xuống khoảng 60.000, trong đó 11.000 chiếc sẽ được biên chế trong năm nay. Theo Bộ Quốc phòng Hàn Quốc, drone sẽ trở thành trang bị tiêu chuẩn cho từng binh sĩ.
"Drone sẽ không chỉ là thiết bị được sử dụng bởi một số đơn vị, thay vào đó là công cụ tác chiến đa năng. Các binh sĩ sẽ sử dụng chúng như vũ khí cá nhân thứ hai", Bộ trưởng Ahn Gyu-back nói. "Để đảm bảo an ninh, Hàn Quốc sẽ chế tạo drone và UAV với 100% linh kiện nội địa".
Thông báo được đưa ra khi cả Triều Tiên lẫn Hàn Quốc đều đẩy nhanh phát triển năng lực tác chiến không người lái, dựa trên bài học từ xung đột Nga - Ukraine và Trung Đông. Những hệ thống này được đánh giá là một trong các yếu tố làm thay đổi cục diện chiến trường.
"UAV và drone giá rẻ được vận hành với số lượng lớn đang làm thay đổi căn bản hoạt động tác chiến", ông Ahn Gyu-back nói, đồng thời nhận định các hệ thống không người lái của Triều Tiên "đang làm gia tăng mối đe dọa đối với hạ tầng quân sự và dân sự Hàn Quốc".
Hàn Quốc cũng lên kế hoạch phát triển hệ thống chống UAV và drone như vũ khí laser, vũ khí vi sóng công suất cao, cũng như chuyển đổi phương thức tác chiến để các quân binh chủng tự thực hiện giám sát và đánh chặn, thay vì dựa vào một bộ chỉ huy tập trung.
Theo một quan chức quốc phòng cấp cao, quân đội Hàn Quốc sẽ nhanh chóng mua sắm hơn 20.000 drone tự sát giá rẻ, cũng như giới thiệu các hệ thống hoạt động theo bầy đàn dựa trên công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và đạn tuần kích.
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc cũng thông báo sẽ cải tổ quy định mua sắm để đẩy nhanh tiếp nhận công nghệ dân sự, xác định quân đội là bên mua chính nhằm xây dựng hệ sinh thái vũ khí không người lái nội địa.
Giới chức Hàn Quốc ngày 26/6 thông báo thành lập cơ quan mới thay cho bộ chỉ huy tác chiến không người lái bị giải thể trước đó. Cơ quan này sẽ tập trung vào chính sách, phát triển năng lực và hỗ trợ, trong khi các đơn vị quân đội sẽ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu.
Bộ tư lệnh Phòng thủ tên lửa của không quân Hàn Quốc hôm 23/6 tổ chức diễn tập đối phó drone tại bờ biển phía tây bán đảo Triều Tiên. Trong cuộc diễn tập, 8 khẩu pháo 6 nòng xoay M61 Vulcan 20 mm khai hỏa đồng thời vào 50 drone ở khoảng cách một km, hạ 44 chiếc. Những drone còn lại bị vũ khí laser di động và binh sĩ dùng súng đạn ghém bắn hạ.
"Đây là đợt diễn tập đầu tiên của chúng tôi nhằm đối phó mối đe dọa ngày càng tăng từ drone hoạt động theo bầy đàn bằng vũ khí hiện có, trong đó có pháo Vulcan", đại tá Nam Hyung-joo cho biết. "Chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển năng lực chống drone dựa trên kết quả và bài học từ hoạt động này".
Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ thông báo cuộc đàm phán dự kiến giữa phái đoàn Iran và Mỹ tại Thụy Sĩ vào ngày 19/6 đã bị hủy.
“Các cuộc đàm phán dự kiến giữa Mỹ, Iran, Qatar và Pakistan bị hủy. Thụy Sĩ vẫn sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đàm phán này. Công tác chuẩn bị liên quan tại Burgenstock vẫn đang tiếp tục. Hiện tại chưa thể cung cấp thêm thông tin nào khác”, Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ cho biết trong một tuyên bố.
Thông báo được đưa ra ngay sau khi phát ngôn viên Nhà Trắng xác nhận Phó Tổng thống Mỹ JD Vance sẽ không đến Thụy Sĩ như kế hoạch ban đầu để ký kết bản ghi nhớ về thỏa thuận hòa bình với Iran. Chuyến đi của ông Vance nhằm mục đích củng cố thỏa thuận đạt được giữa Tehran và Washington để chấm dứt xung đột ở Iran.
Theo phát ngôn viên Nhà Trắng, lý do khiến kế hoạch này bị hoãn lại là các vấn đề hậu cần chưa được giải quyết liên quan đến giai đoạn đàm phán tiếp theo.
“Như Phó Tổng thống đã nói trong cuộc họp báo, kế hoạch cho các cuộc đàm phán kỹ thuật sắp tới vẫn chưa được hoàn thiện, và phái đoàn Mỹ sẵn sàng khởi hành ngay khi có cơ hội. Nhưng các vấn đề hậu cần của những cuộc đàm phán này chưa bao giờ đơn giản hoặc dễ dự đoán”, phát ngôn viên Nhà Trắng cho biết trong một tuyên bố.
“Hiện tại, Phó Tổng thống sẽ không khởi hành tối nay. Chúng tôi sẽ thông báo ngay khi có thông tin cụ thể về bước tiếp theo. Chúng tôi mong muốn bắt đầu các cuộc đàm phán kỹ thuật càng sớm càng tốt”, phát ngôn viên Nhà Trắng nói thêm.
Trước đó, Phó Tổng thống Vance ngày 18/6 cho biết ông dự định đến Thụy Sĩ vào ngày 19/6 để ký kết trực tiếp bản ghi nhớ với Iran, mặc dù ông thừa nhận thời điểm này vẫn chưa chắc chắn.
Phó Tổng thống Vance từng nói rằng các cuộc đàm phán kỹ thuật nhằm hoàn tất thỏa thuận dự kiến sẽ bắt đầu vào cuối tuần này, đồng thời cho biết ông "chắc chắn đang lên kế hoạch" dẫn đầu nhóm đàm phán của Mỹ.
Ông Vance cũng lên tiếng bảo vệ bản ghi nhớ mà chính quyền Mỹ đã ký kết với Iran. Ông cho biết Mỹ đang nắm "tất cả các quân bài" vào lúc này, đồng thời nhấn mạnh rằng Iran sẽ không được hưởng lợi đáng kể cho đến khi nước này có thể "xác minh họ đang thay đổi hành vi của mình".
Giới chức Mỹ và Iran ngày 17/6 đều xác nhận Tổng thống của hai bên đã ký kết bản ghi nhớ theo hình thức trực tuyến và có hiệu lực ngay lập tức. Theo kế hoạch ban đầu, sau khi ký kết bản ghi nhớ bằng hình thức trực tuyến, phái đoàn Mỹ và Iran sẽ tiếp tục đàm phán tại Thụy Sĩ vào ngày 19/6 về các vấn đề khác còn tồn đọng.
Phía Iran cho biết, do ký kết đã hoàn tất, nên việc tổ chức lễ ký kết trực tiếp tại Geneva, Thụy Sĩ theo kế hoạch ban đầu có thể không cần thiết. Tuy nhiên, kế hoạch đàm phán vẫn giữ nguyên, hai bên sẽ tiếp tục thương thảo các vấn đề còn tồn đọng trong vòng 60 ngày.
Bản ghi nhớ giữa Iran và Mỹ đã được hoàn thiện vào hôm 14/6, sau nhiều tháng đàm phán căng thẳng do Pakistan làm trung gian, với sự hỗ trợ từ các quốc gia khu vực khác.
Theo thỏa thuận, cuộc xung đột và tất cả các hoạt động quân sự, bao gồm cả ở Li Băng, đã chấm dứt ngay lập tức, và lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ chống lại Iran đã được dỡ bỏ. Bản ghi nhớ cũng quy định việc mở cửa lại eo biển Hormuz cho hoạt động vận tải thương mại.
Một giai đoạn xác minh và đàm phán kéo dài 60 ngày sẽ diễn ra tiếp theo, trong đó các bên sẽ giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, bao gồm việc dỡ bỏ tất cả các lệnh trừng phạt, hồ sơ hạt nhân, tái thiết và phát triển kinh tế, cùng một cơ chế giám sát thực thi.
Bản ghi nhớ 14 điểm của Mỹ và Iran đã đưa ra một bộ khung khái quát cho một thỏa thuận, nhưng vẫn để lại một số điểm tranh chấp gai góc nhất chưa được giải quyết.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) hôm 18/6 thông báo các lực lượng Mỹ đã dỡ bỏ lệnh phong tỏa đối với các tàu thuyền ra vào các cảng biển và vùng duyên hải của Iran.
Về phần mình, Iran đã cam kết cho phép các tàu chở dầu di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz, nơi khoảng 20% lượng dầu của thế giới từng đi qua trước khi cuộc chiến bắt đầu.
Thỏa thuận được ký kết quy định rằng Iran sẽ cho phép các tàu thương mại quá cảnh qua eo biển Hormuz "chỉ trong vòng 60 ngày và không thu phí", sau thời gian này "các dịch vụ hàng hải và quản lý trong tương lai" sẽ do Iran cùng với Oman và các quốc gia Vùng Vịnh khác quyết định.
Trong tuần này, hải quân Trung Quốc cáo buộc rằng các tàu và máy bay Nhật Bản "liên tục tham gia vào các hoạt động theo dõi, giám sát, quấy rối và khiêu khích ở cự ly gần".
Theo hải quân Trung Quốc, một đội hình do tàu sân bay Liêu Ninh dẫn đầu đã hoạt động ở các khu vực bao gồm Biển Đông và Tây Thái Bình Dương trong "nhiều vòng tập trận tấn công và phòng thủ ngày đêm" trong suốt 40 ngày.
Cuộc tập trận mới có sự tham gia của tàu và máy bay, nhằm thử nghiệm "khả năng tác chiến dựa trên hệ thống ở vùng biển xa", theo AFP dẫn lại thông báo do hải quân Trung Quốc đăng trên tài khoản WeChat của mình.
Lực lượng này khẳng định đội hình tàu sân bay Liêu Ninh "duy trì trạng thái cảnh giác cao độ trong suốt thời gian tập trận, cho các máy bay hoạt động từ tàu sân bay xuất kích tác chiến... và liên tục đáp trả những hành động nguy hiểm của phía Nhật Bản".
Đáp lại, Văn phòng Tham mưu liên hợp thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản vào cuối ngày 24.6 viết trên mạng xã hội X rằng những tuyên bố trên "vô căn cứ".
Văn phòng Tham mưu liên hợp nhấn mạnh: "Bộ Quốc phòng và Lực lượng Phòng vệ sẽ tiếp tục tiến hành giám sát và theo dõi một cách chuyên nghiệp và ổn định trên vùng biển và không phận xung quanh đất nước chúng tôi".
Trong một tuyên bố ngày 1.6, Văn phòng Tham mưu liên hợp cho hay đội tàu chiến Trung Quốc nói trên đã tiến hành tập trận ở phía đông Philippines vào cuối tháng 5 và lực lượng Nhật Bản đã tiến hành "giám sát và thu thập thông tin", theo AFP.