Muối và nước mắm là hai gia vị phổ biến trong bữa ăn người Việt, tùy theo sở thích từng người để lựa chọn. Đối với sức khỏe, “nguyên tắc cốt lõi không phải là chọn muối hay chọn nước mắm, mà là kiểm soát tổng lượng natri bạn nạp vào cơ thể mỗi ngày”, PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên cán bộ Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội, nói. Bởi, thói quen ăn quá nhiều muối hay chấm nước mắm quá mặn đều gây hại.
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một người trưởng thành chỉ nên tiêu thụ dưới 5 g muối/ngày (tương đương với dưới 2.000 mg Natri). Ước tính, 5 g muối tương đương với khoảng 2,5 thìa nước mắm hoặc 1,5 thìa bột canh hay hai thìa hạt nêm.
Thực tế, hầu hết gia đình Việt đều đang tiêu thụ lượng muối vượt xa ngưỡng an toàn trên. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trung bình một người Việt đang ăn lượng muối cao gần gấp đôi khuyến nghị, dao động khoảng từ 8 – 10 g/ngày.
TS Lê Thị Hương Giang (Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8, Bộ Công an) cho biết, một chén nước mắm nguyên chất dung tích từ 30 – 50 ml có chứa khoảng 1.500 – 3.000 mg Natri. Con số này đã xấp xỉ, thậm chí vượt quá tổng lượng Natri mà WHO khuyến nghị cho một người trong cả một ngày (dưới 2.000 mg).
Như vậy, khi lạm dụng muối hay nước mắm đều khiến cơ thể phải nạp lượng lớn natri. Nhiều người lầm tưởng nước mắm pha nhạt, nên thường chấm đẫm, chấm nhiều. Song, nếu không kiểm soát thói quen này, cơ thể sẽ rất dễ rơi vào tình trạng quá tải muối, dẫn đến các nguy cơ về tim mạch, huyết áp và thận.
Do đó, “thay vì cố gắng thay thế hoàn toàn gia vị này bằng gia vị kia, giải pháp tối ưu nhất cho sức khỏe là bạn nên chủ động ưu tiên nêm nếm nhạt, giảm bớt liều lượng của cả muối lẫn nước mắm trong thực đơn hàng ngày”, tiến sĩ nói.
Để an toàn, bạn nên giảm lượng muối khi chế biến món ăn. Không tẩm ướp quá nhiều muối vào thực phẩm, ưu tiên món luộc, hấp thay vì rang, kho, rim… Nước mắm nên pha loãng, hạn chế ăn nước mắm nguyên chất. Áp dụng quy tắc “rót một nửa”, tức là chủ động rót lượng nước chấm bằng một nửa so với mọi khi. Nếu thiếu, bạn hoàn toàn có thể rót thêm, tránh việc để thừa lãng phí.
Nên cho trẻ em ăn thực phẩm tự nhiên và không thêm muối khi nấu. Không nên lạm dụng bột nêm khi nấu thức ăn và thay thế muối i-ốt.
Hạn chế sử dụng các sản phẩm có hàm lượng muối cao như khoai tây chiên, xúc xích, giò chả, các loại khô mắm, dưa muối và các loại thực phẩm chế biến sẵn. Nên chọn các sản phẩm có hàm lượng muối thấp khi mua thực phẩm chế biến sẵn.
Đọc nhãn khi mua thực phẩm đã được chế biến sẵn để kiểm tra hàm lượng muối. Hạn chế ăn tiệm, nhà hàng và không nên ăn hết nước sốt. Khi ăn thức ăn chế biến sẵn như mì ăn liền, chỉ nên nêm nửa gói gia vị và nên bổ sung rau vào bát mì để được đầy đủ chất dinh dưỡng và ngon miệng hơn.
“Bạn nên cắt giảm từ từ để vị giác thích nghi, đảm bảo an toàn và ngon miệng, phù hợp với khẩu vị của từng thành viên trong gia đình”, chuyên gia nói.
Kết hôn từ năm 2016 nhưng nhiều năm không có con, vợ chồng anh Tú đã thăm khám tại nhiều cơ sở y tế. Kết quả xét nghiệm cho thấy anh Tú mắc hội chứng Klinefelter - một bất thường di truyền khiến nam giới thừa một nhiễm sắc thể X, dẫn đến suy giảm chức năng tinh hoàn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh tinh.
Đây là nguyên nhân gây vô tinh không tắc nghẽn, một trong những dạng vô sinh nam có tiên lượng điều trị khó. Nhiều trường hợp không tìm thấy tinh trùng trong tinh dịch và cơ hội có con đẻ rất thấp.
Năm 2023, vợ chồng anh Tú đến thăm khám tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội. Sau khi đánh giá lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, ThS.BS Đinh Hữu Việt, Trưởng khoa nam học, nhận định bệnh nhân vẫn còn khả năng tìm thấy tinh trùng trong mô tinh hoàn và chỉ định thực hiện kỹ thuật MicroTESE.
Đây là phương pháp vi phẫu sử dụng kính hiển vi có độ phóng đại lớn để tìm kiếm các ống sinh tinh còn hoạt động, từ đó thu nhận những tinh trùng còn sót lại phục vụ cho thụ tinh trong ống nghiệm.
May mắn hơn, gia đình anh Tú là một trong 12 gia đình nhận được gói hỗ trợ miễn phí mổ MicroTESE. "Tôi cảm thấy đó không chỉ đơn thuần là giảm chi phí mà nó còn mang lại động lực, niềm tin rằng nhất định vợ chồng mình sẽ có con", chị Hạnh chia sẻ.
Theo bác sĩ Việt, với bệnh nhân mắc hội chứng Klinefelter, điều đáng lo ngại nhất là các ống sinh tinh đã thoái hóa hoàn toàn. Tuy nhiên qua thăm khám, anh Tú vẫn còn những dấu hiệu cho thấy có thể tồn tại các vùng sinh tinh, vì vậy ê kíp quyết định tiến hành phẫu thuật với hy vọng tìm được tinh trùng.
Sau ca vi phẫu, các bác sĩ đã tìm thấy tinh trùng trong mô tinh hoàn của bệnh nhân. Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện quy trình tạo phôi bằng kỹ thuật IVF.
Từ số tinh trùng thu được, vợ chồng anh Tú tiếp tục bước vào hành trình điều trị hỗ trợ sinh sản. Phôi được tạo thành công và chuyển vào tử cung người vợ và chị Hạnh sinh con gái khỏe mạnh, khép lại hành trình 7 năm tìm kiếm tiếng cười trẻ thơ.
Theo bác sĩ Việt, vô tinh không đồng nghĩa với việc nam giới mất hoàn toàn cơ hội có con. Nhờ sự phát triển của các kỹ thuật vi phẫu tinh hoàn và hỗ trợ sinh sản, nhiều trường hợp vô tinh không tắc nghẽn vẫn có thể tìm thấy tinh trùng để thực hiện IVF.
Đặc biệt, với bệnh nhân mắc hội chứng Klinefelter, việc phát hiện và điều trị sớm có ý nghĩa quan trọng. Khi tuổi còn trẻ, mô tinh hoàn chưa thoái hóa nhiều nên khả năng tìm được tinh trùng sẽ cao hơn.
Các chuyên gia cũng khuyến cáo, khi kết hôn từ một năm trở lên, quan hệ đều đặn không sử dụng biện pháp tránh thai nhưng chưa có con, các cặp vợ chồng nên đi khám hiếm muộn sớm tại các cơ sở chuyên khoa. Việc chẩn đoán đúng nguyên nhân và áp dụng các kỹ thuật điều trị phù hợp sẽ giúp tăng cơ hội có con bằng chính tinh trùng và trứng của vợ chồng.
ThS.BS. Nguyễn Hữu Lộc, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay khớp thái dương hàm là "bản lề" nối xương hàm dưới với hộp sọ, giúp há miệng, nhai, nói và nuốt. Rối loạn thái dương hàm (TMD) là nhóm tình trạng gây đau hoặc rối loạn chức năng ở khớp hàm và các cơ kiểm soát vận động hàm. Bệnh thường không đe dọa tính mạng, nhưng có thể làm giảm đáng kể chất lượng sống nếu kéo dài.
Khi khớp hàm, cơ nhai hoặc đĩa khớp hoạt động mất cân bằng, người bệnh không chỉ khó ăn nhai mà còn có thể đau lan lên thái dương, trước tai, cổ vai gáy và ảnh hưởng giấc ngủ, giao tiếp, công việc hằng ngày.
Dấu hiệu của bệnh là có tiếng "lách cách", "lục cục" hoặc tiếng lạo xạo khi há miệng, nhai, ngáp. Đau mỏi vùng hàm, trước tai hoặc thái dương; đau có thể lan xuống cổ, vai, gáy hoặc gây đau nửa đầu. Người bệnh cũng khó há miệng, há miệng bị lệch, cảm giác cứng khớp, kẹt hàm hoặc "khóa hàm".
Một số dấu hiệu khác như ù tai, chóng mặt, sưng đau một bên mặt, nhai nhanh mỏi hoặc nhai lệch một bên. Mọi người cần đi khám sớm nếu đau kéo dài trên 1-2 tuần, há miệng khó, hàm bị kẹt, đau tăng nhanh, có chấn thương vùng mặt hoặc triệu chứng ảnh hưởng ăn uống, giấc ngủ.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có thể do thói quen hằng ngày như hai kẹo cao su liên tục, ăn đồ quá cứng/dai, chống cằm, cắn móng tay, há miệng quá lớn khi ngáp. Stress cũng làm tăng siết chặt hàm hoặc nghiến răng vô thức, đặc biệt về đêm. Bên cạnh đó, sai khớp cắn, mất răng, răng mọc lệch, phục hình chưa phù hợp hoặc can thiệp răng miệng làm thay đổi điểm chạm. Va đập vùng mặt, viêm khớp, thoái hóa khớp hoặc các bệnh lý đau mạn tính đi kèm cũng là những nguyên nhân gây bệnh.
Bác sĩ Lộc cho hay điều trị ưu tiên bảo tồn, cá thể hóa theo nguyên nhân. Ở mức độ nhẹ, người bệnh thay đổi lối sống tại nhà như ăn mềm, cắt nhỏ thức ăn, tránh nhai kẹo cao su và đồ dai/cứng. Bệnh nhân có thể chườm ấm hoặc lạnh, massage nhẹ, tập thư giãn hàm, hạn chế há miệng quá lớn.
Bệnh nhân dùng thuốc giảm đau, kháng viêm hoặc giãn cơ cần dùng theo chỉ định; không tự ý dùng kéo dài. Các liệu pháp khác như sử dụng máng nhai, giúp giảm tải khớp và bảo vệ răng khi nghiến. Chỉnh nha hoặc phục hồi răng là giải pháp được cân nhắc khi sai lệch khớp cắn.
Liệu pháp vật lý trị liệu như bài tập vận động hàm, siêu âm, laser, nhiệt trị liệu hoặc các can thiệp phục hồi chức năng có thể hỗ trợ giảm đau và cải thiện vận động. Can thiệp hay phẫu thuật chỉ cân nhắc khi bệnh nặng, khóa hàm kéo dài, thoái hóa hay viêm khớp rõ hoặc thất bại với phương pháp bảo tồn.
Bác sĩ nhấn mạnh không phải mọi tiếng kêu ở khớp hàm đều nguy hiểm. Tuy nhiên, hãy đi khám nếu tiếng kêu kèm đau, há miệng khó, hàm bị kẹt, đau tăng nhanh, hoặc các triệu chứng ảnh hưởng đến ăn uống, giấc ngủ và sinh hoạt hằng ngày.
"Lọc máu liên tục (CRRT) đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh nhân hồi sức nặng, đặc biệt là bệnh nhân suy thận cấp, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan", PGS.TS Đỗ Ngọc Sơn, Giám đốc Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai, nói tại chương trình đào tạo Cập nhật xu hướng mới trong lọc máu liên tục (CRRT) và các giải pháp tối ưu hóa điều trị hôm 25/4.
CRRT là kỹ thuật điều trị thay thế thận nhân tạo trong hồi sức cấp cứu, thực hiện chậm rãi, liên tục 24/24 giờ (thường 2-7 ngày). Phương pháp này giúp loại bỏ chất độc, độc tố viêm, và cân bằng nước - điện giải cho bệnh nhân suy thận cấp, suy đa tạng hoặc huyết động không ổn định.
PGS Sơn cho hay tổn thương thận cấp là vấn đề các bác sĩ trăn trở với bệnh nhân hồi sức. Nếu không có chiến lược sớm ngay từ đầu, thận sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến tổn thương mãn tính. Nhiều bệnh nhân khi qua được giai đoạn hồi sức thì phải đối mặt với biến chứng thận mãn.
Trước đây, lọc máu liên tục được chỉ định như một phương pháp để thay thế cho chức năng thận. Ngày nay, lọc máu liên tục được chỉ định cho những nhóm bệnh nhân hồi sức chưa tổn thương thận, hoặc có nguy cơ. Phương pháp này không chỉ giúp thận được "nghỉ ngơi", còn hỗ trợ, bảo vệ cho các tạng khác như phổi, tim, gan...
Đây là một chiến lược và xu hướng mới hiện nay trong điều trị bệnh nhân hồi sức. Tập trung để ngăn ngừa nguy cơ này, bằng việc phát hiện sớm tình trạng tổn thương thận cấp là rất quan trọng, theo PGS Sơn. Nếu đơn vị hồi sức không có hệ thống lọc máu thì rất khó nói là hồi sức đầy đủ. Rất nhiều người bệnh sẽ mất cơ hội sống nếu thiếu phương tiện này.
Các chuyên gia cũng nhìn nhận với sự phát triển của công nghệ hiện đại, hệ thống lọc máu liên tục ngày nay không chỉ xử lý rối loạn chức năng thận mà còn góp phần kiểm soát dịch, cân bằng toan kiềm, loại bỏ độc chất, đồng thời hỗ trợ tim mạch, hô hấp, gan và thần kinh trong nhiều tình huống bệnh lý phức tạp. Đây được xem là bước tiến quan trọng của hồi sức tích cực khi điều trị không còn tập trung vào một cơ quan riêng lẻ mà hướng tới bảo vệ toàn diện cơ thể người bệnh.
ThS.BSNT Khương Quốc Đại, Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết CRRT đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong điều trị người bệnh nặng. Tuy nhiên, việc lựa chọn chiến lược chống đông phù hợp để vừa đảm bảo hiệu quả điều trị, vừa an toàn cho người bệnh vẫn là thách thức lớn trong thực hành lâm sàng hằng ngày. Vì vậy, các chuyên gia đã thảo luận, cập nhật chiến lược chống đông Citrate vùng (RCA) và hệ thống OMNI trong lọc máu liên tục.
Giáo sư Antoine G. Schneider, Trưởng bộ phận Chấn thương thận cấp tính của Hiệp hội Y học Chăm sóc tích cực châu Âu, nhấn mạnh RCA được xem là chiến lược chống đông hiệu quả, giúp kéo dài thời gian sử dụng quả lọc, giảm nguy cơ chảy máu và cải thiện chất lượng điều trị ở nhóm bệnh nhân hồi sức phức tạp. Tích hợp RCA một cách bài bản và an toàn trên các hệ thống hiện đại mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả bác sĩ và bệnh nhân.
Tại sự kiện, các bác sĩ được thực hành chuyên sâu trong kỹ thuật lọc máu và xử trí các tình huống sự cố thường gặp nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân nặng tại Việt Nam.