“Lọc máu liên tục (CRRT) đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh nhân hồi sức nặng, đặc biệt là bệnh nhân suy thận cấp, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan”, PGS.TS Đỗ Ngọc Sơn, Giám đốc Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai, nói tại chương trình đào tạo Cập nhật xu hướng mới trong lọc máu liên tục (CRRT) và các giải pháp tối ưu hóa điều trị hôm 25/4.
CRRT là kỹ thuật điều trị thay thế thận nhân tạo trong hồi sức cấp cứu, thực hiện chậm rãi, liên tục 24/24 giờ (thường 2-7 ngày). Phương pháp này giúp loại bỏ chất độc, độc tố viêm, và cân bằng nước – điện giải cho bệnh nhân suy thận cấp, suy đa tạng hoặc huyết động không ổn định.
PGS Sơn cho hay tổn thương thận cấp là vấn đề các bác sĩ trăn trở với bệnh nhân hồi sức. Nếu không có chiến lược sớm ngay từ đầu, thận sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến tổn thương mãn tính. Nhiều bệnh nhân khi qua được giai đoạn hồi sức thì phải đối mặt với biến chứng thận mãn.
Trước đây, lọc máu liên tục được chỉ định như một phương pháp để thay thế cho chức năng thận. Ngày nay, lọc máu liên tục được chỉ định cho những nhóm bệnh nhân hồi sức chưa tổn thương thận, hoặc có nguy cơ. Phương pháp này không chỉ giúp thận được “nghỉ ngơi”, còn hỗ trợ, bảo vệ cho các tạng khác như phổi, tim, gan…
Đây là một chiến lược và xu hướng mới hiện nay trong điều trị bệnh nhân hồi sức. Tập trung để ngăn ngừa nguy cơ này, bằng việc phát hiện sớm tình trạng tổn thương thận cấp là rất quan trọng, theo PGS Sơn. Nếu đơn vị hồi sức không có hệ thống lọc máu thì rất khó nói là hồi sức đầy đủ. Rất nhiều người bệnh sẽ mất cơ hội sống nếu thiếu phương tiện này.
Các chuyên gia cũng nhìn nhận với sự phát triển của công nghệ hiện đại, hệ thống lọc máu liên tục ngày nay không chỉ xử lý rối loạn chức năng thận mà còn góp phần kiểm soát dịch, cân bằng toan kiềm, loại bỏ độc chất, đồng thời hỗ trợ tim mạch, hô hấp, gan và thần kinh trong nhiều tình huống bệnh lý phức tạp. Đây được xem là bước tiến quan trọng của hồi sức tích cực khi điều trị không còn tập trung vào một cơ quan riêng lẻ mà hướng tới bảo vệ toàn diện cơ thể người bệnh.
ThS.BSNT Khương Quốc Đại, Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết CRRT đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong điều trị người bệnh nặng. Tuy nhiên, việc lựa chọn chiến lược chống đông phù hợp để vừa đảm bảo hiệu quả điều trị, vừa an toàn cho người bệnh vẫn là thách thức lớn trong thực hành lâm sàng hằng ngày. Vì vậy, các chuyên gia đã thảo luận, cập nhật chiến lược chống đông Citrate vùng (RCA) và hệ thống OMNI trong lọc máu liên tục.
Giáo sư Antoine G. Schneider, Trưởng bộ phận Chấn thương thận cấp tính của Hiệp hội Y học Chăm sóc tích cực châu Âu, nhấn mạnh RCA được xem là chiến lược chống đông hiệu quả, giúp kéo dài thời gian sử dụng quả lọc, giảm nguy cơ chảy máu và cải thiện chất lượng điều trị ở nhóm bệnh nhân hồi sức phức tạp. Tích hợp RCA một cách bài bản và an toàn trên các hệ thống hiện đại mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả bác sĩ và bệnh nhân.
Tại sự kiện, các bác sĩ được thực hành chuyên sâu trong kỹ thuật lọc máu và xử trí các tình huống sự cố thường gặp nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân nặng tại Việt Nam.
Theo ông Hưng, cha mẹ của bé (36 và 32 tuổi) đã mong con 5 năm mà chưa được toại nguyện, lần này mẹ bé mang thai đôi nhờ hỗ trợ sinh sản (IVF).
Đến tuần thai thứ 20 (cuối 2025 vừa qua), mẹ bé có dấu hiệu dọa sảy thai nên đã vào Bệnh viện Phụ sản Hà Nội điều trị, các bác sĩ đã nỗ lực cấp cứu nhưng đến tuần thai thứ 25 thì bé gái trong cặp song sinh đã chào đời.
"Những em bé sinh ở tuần thứ 25 của thai kỳ được coi là rất non, bệnh viện đã phối hợp các chuyên khoa sản khoa - nhi khoa - gây mê hồi sức và chống nhiễm khuẩn phối hợp điều trị, hiện bé đã có cân nặng khoảng 1,9 kg và phát triển khá tốt, hy vọng bé có các chỉ số bình thường. Nhưng thời điểm đó, giữ em bé còn lại là thách thức với y khoa" - bác sĩ Hưng nói.
Lý do dẫn đến khó khăn trong chăm sóc em bé còn lại là vì khi bé thứ nhất chào đời thì tử cung người mẹ có cơn co để sinh bé, ảnh hưởng đến việc giữ bé còn lại trong bụng mẹ. Thứ 2 là vấn đề chống nhiễm khuẩn, bé trong bụng mẹ có hai hàng rào bảo vệ là tử cung và nước ối, khi sinh bé thứ nhất nguy cơ vi khuẩn xâm nhập, ảnh hưởng tới an toàn của bé thứ 2" - ông Hưng cho hay.
Trong tình huống khó khăn này, ông Hưng nói bên cạnh sự nỗ lực của y bác sĩ là sự phối hợp của cha mẹ bé, đặc biệt mẹ bé đã có 13 tuần vừa qua rất vất vả để giữ con. Kết quả em bé còn lại là một bé trai đã chào đời ở tuần thai thứ 38, nặng 2,4 kg và có các chỉ số sức khỏe như các em bé sơ sinh bình thường.
Theo Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, việc giữ được em bé còn lại trong cặp song sinh ở tình huống tương tự đến tuần thai thứ 38 chưa từng được ghi nhận ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng như ở Việt Nam.
"Chúng tôi hy vọng những phương pháp hỗ trợ đã áp dụng điều trị cho mẹ con bé sẽ góp thêm kiến thức để các đồng nghiệp có thêm thông tin cho điều trị trong sản khoa" - ông Hưng nói.
Nhiều người sau khi nhận kết quả kiểm tra sức khỏe có chỉ số cholesterol vượt ngưỡng đã lập tức chuyển sang chế độ ăn thanh đạm. Tuy nhiên, chỉ số LDL (cholesterol xấu) của một số người không những không giảm mà còn tăng vọt mất kiểm soát.
Bác sĩ Hoàng Hiên đã đăng tải một bài phân tích sâu về tình trạng này. Ông nhấn mạnh rằng khi nhắc đến tình trạng cholesterol vượt mức, vấn đề thực chất không nằm ở "dầu mỡ" mà nằm ở 3 yếu tố thường bị mọi người bỏ qua: Carbohydrate tinh chế, yếu tố di truyền và thiếu hụt chất xơ. Một khi lượng đường quá nhiều và chất xơ quá ít, dù bạn có ăn uống "sạch" đến đâu, cholesterol vẫn sẽ vượt tầm kiểm soát.
Bác sĩ Hoàng Hiên chia sẻ trên trang cá nhân rằng ông thường xuyên nhận được câu hỏi từ bệnh nhân tại phòng khám: "Tại sao tôi ăn rất thanh đạm mà cholesterol lại cao hơn?". Ông thẳng thắn thừa nhận, rất nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần không ăn dầu mỡ, không ăn thịt thì cholesterol sẽ ngoan ngoãn giảm xuống.
"Sai rồi. Chỉ số mỡ máu của nhiều người thực tế lại càng mất kiểm soát hơn sau khi chuyển sang chế độ ăn được gọi là 'thanh đạm' này", bác sĩ Hiên khẳng định.
3 "thủ phạm" ẩn mình khiến cholesterol xấu tăng vọt
Theo bác sĩ Hoàng Hiên, chỉ số LDL tăng cao có thể không phải do dầu mỡ, mà xuất phát từ:
Carbohydrate tinh chế - "Kẻ đẩy tay" thầm lặng: Đây mới là nguyên nhân thực sự khiến nồng độ insulin tăng cao, từ đó kích thích gan tổng hợp nhiều cholesterol hơn.
Yếu tố di truyền - "Vạch xuất phát" của mỗi người: Gene quyết định ngưỡng cholesterol cơ bản. Có những người mắc chứng tăng cholesterol máu gia đình bẩm sinh, dù chế độ ăn uống có lành mạnh đến đâu, chỉ số này vẫn sẽ ở mức cao.
Thiếu hụt chất xơ: Chất xơ hòa tan (có trong yến mạch, các loại đậu, rau xanh...) có khả năng hỗ trợ đào thải axit mật, đồng nghĩa với việc "cuốn trôi" cholesterol ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, lượng hấp thụ của người hiện đại thường không bằng một nửa mức khuyến nghị.
Chế độ ăn hiệu quả
Bác sĩ Hoàng Hiên nhấn mạnh, chiến lược ăn uống thực sự hiệu quả không nằm ở việc ăn thanh đạm đơn thuần, mà nằm ở cấu trúc bữa ăn. Ông đưa ra lời khuyên cụ thể:
Bữa sáng: Ưu tiên chất xơ cao + protein (Ví dụ: yến mạch + sữa chua).
Bữa trưa: Sử dụng dầu tốt + nhiều rau xanh (Ví dụ: dầu oliu + lượng lớn rau).
Bữa tối: Ít đường + kiểm soát tinh bột (Phần tinh bột chỉ nên bằng kích cỡ một nắm tay).
Thực tế, vấn đề của nhiều người không phải là ăn quá nhiều dầu mỡ, mà là "ăn sai tỷ lệ". Bác sĩ kết luận: "Khi lượng đường quá nhiều và chất xơ quá ít, dù chế độ ăn của bạn có sạch đến mấy, cholesterol vẫn sẽ biểu tình".
Mới đây, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (TP.HCM) đã cứu sống bé gái T.B.C.A. (11 tuổi, ngụ An Giang) mắc viêm cơ tim tối cấp, sốc nhiễm trùng và nhiễm trùng huyết do phế cầu khuẩn.
Bé khởi bệnh với các triệu chứng sốt, ho đàm, đau họng, nôn ói, đau bụng trong 4 ngày. Sau khi gia đình tự mua thuốc điều trị nhưng không cải thiện nên nhập viện ở địa phương rồi chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng Thành phố.
Lúc này trẻ bị sốc nhiễm trùng nặng, viêm phổi, nhiễm trùng huyết, tổn thương tim, suy tuần hoàn. Kết quả xét nghiệm xác định tác nhân là vi khuẩn phế cầu khuẩn (Pneumococcus).
Gần hai tuần chạy ECMO, chức năng tim dần hồi phục, huyết áp ổn định và bé được cai ECMO.
Tuy nhiên bệnh nhi tiếp tục xuất hiện huyết khối động mạch não và chi dưới trái. Các bác sĩ đã can thiệp lấy huyết khối, kết hợp điều trị chống đông, giúp tái thông mạch máu, cải thiện tưới máu não và chi.
Sau gần một tháng điều trị tích cực, bé A. được cai máy thở, tỉnh táo, nhịp tim trở về bình thường, chức năng gan thận hồi phục hoàn toàn và xuất viện trong tình trạng ổn định.
Tại Bệnh viện Nhi đồng 1 cũng từng tiếp nhận điều trị các trẻ gặp biến chứng viêm màng não, viêm phổi nguy kịch vì phế cầu khuẩn.
Điển hình trường hợp bé 3 tháng tuổi nhập viện vì viêm màng não do phế cầu khuẩn. Dù được điều trị tích cực, tình trạng bệnh diễn tiến rất nặng do vi khuẩn kháng thuốc, để lại di chứng thần kinh nghiêm trọng, trẻ phải sống đời sống thực vật.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, BS.CKII Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết việc lạm dụng kháng sinh làm gia tăng tình trạng vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng, trong đó có phế cầu khuẩn.
Khi trẻ nhiễm các chủng vi khuẩn kháng thuốc, việc điều trị sẽ khó khăn hơn, thời gian điều trị có thể kéo dài và phải sử dụng các loại kháng sinh thế hệ cao hoặc phổ rộng hơn, dẫn đến chi phí điều trị tăng lên.
Bác sĩ Trương Hữu Khanh - Phó chủ tịch Liên chi Hội Truyền nhiễm TP.HCM - cũng cho biết một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tình trạng phế cầu khuẩn kháng thuốc ngày càng nghiêm trọng do việc sử dụng kháng sinh thiếu kiểm soát.
Thực tế, nhiều chủng phế cầu khuẩn có khả năng kháng thuốc, khiến bác sĩ không thể sử dụng các kháng sinh thông thường mà phải phối hợp ít nhất hai loại kháng sinh mạnh. Chi phí điều trị các ca nặng do biến chứng viêm phổi, viêm màng não có thể lên tới hàng chục đến hàng trăm triệu đồng.
“Hiện nay một số loại kháng sinh phổ biến đã không còn phản ứng với bệnh do phế cầu khuẩn, đặc biệt là khi vi khuẩn đã xâm lấn vào màng não hoặc phổi. Khi nghi ngờ nhiễm phế cầu khuẩn, bác sĩ thường phải dùng những loại kháng sinh mạnh", BS Khanh nói thêm.