Tại Việt Nam, theo quy định mới được bổ sung trong Luật số 118/2025, nghĩa vụ sử dụng thiết bị an toàn cho trẻ em không áp dụng đối với ô tô kinh doanh vận tải hành khách. Điều này đồng nghĩa taxi truyền thống, taxi công nghệ, xe hợp đồng chở khách, xe khách chạy tuyến cố định hoặc xe du lịch… sẽ không bắt buộc phải sử dụng ghế trẻ em khi chở trẻ em.
Đây là điểm thay đổi đáng chú ý và cũng gây nhiều tranh luận so với quy định ban đầu của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024.
Việc bổ sung trường hợp ngoại lệ này của cơ quan chức năng xuất phát từ thực tế hoạt động vận tải hành khách, khi nhiều ý kiến cho rằng nếu bắt buộc mọi taxi và xe công nghệ phải trang bị ghế trẻ em sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp, tài xế cũng như hành khách.
Nhiều nước miễn quy định ghế trẻ em đối với taxi và xe khách
Tham khảo quy định tại một số nơi trên thế giới cho thấy việc không bắt buộc ô tô kinh doanh vận tải hành khách phải trang bị ghế trẻ em là khá phổ biến.
Tại Mỹ, không có quy định thống nhất ở cấp liên bang về việc sử dụng ghế trẻ em trên ô tô; mỗi bang áp dụng quy định riêng. Nhìn chung, hầu hết các bang miễn trừ taxi khỏi quy định sử dụng ghế trẻ em.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho trẻ nhỏ của các gia đình, hãng Uber đã triển khai dịch vụ Uber Car Seat tại một số thành phố lớn như New York. Hành khách phải trả thêm phí để sử dụng xe có trang bị sẵn ghế trẻ em.
Một số doanh nghiệp vận tải hành khách cũng có dịch vụ tương tự nhưng khách hàng thường phải đặt trước để họ chuẩn bị loại ghế phù hợp với độ tuổi, chiều cao của trẻ.
Tại châu Âu, hầu hết các nước không quy định taxi và xe hợp đồng phải trang bị ghế trẻ em, nên việc bảo đảm trẻ được sử dụng thiết bị an toàn phù hợp chủ yếu thuộc trách nhiệm của người đi cùng trẻ. Với xe khách và xe buýt, trẻ 3-12 tuổi phải sử dụng dây an toàn trang bị sẵn trên xe như tất cả hành khách khác.
Tuy nhiên, vẫn có một số ít nước ở châu Âu quy định bắt buộc taxi trang bị ghế trẻ em, như Croatia, Đức, Hy Lạp, Cộng hòa Síp, Iceland, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ. Khách hàng thường phải thông báo trước về việc đi cùng trẻ nhỏ và phải trả thêm phí cho ghế trẻ em.
Trong khi đó, Phần Lan quy định phải sử dụng ghế trẻ em trên taxi đối với trẻ dưới 3 tuổi. Trẻ trên 3 tuổi và có chiều cao dưới 135cm được miễn sử dụng ghế trẻ em nhưng không được ngồi ở hàng ghế trước.
Tại Tây Ban Nha, taxi hoạt động trong khu vực đô thị không cần trang bị ghế trẻ em, nhưng khi chở khách di chuyển ngoài thành phố hoặc trên các tuyến đường liên tỉnh thì cần trang bị ghế trẻ em.
Tại châu Á, phần lớn các nước cũng không có quy định bắt buộc taxi và xe khách trang bị ghế trẻ em. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ.
Ví dụ, Hong Kong (Trung Quốc) và Singapore có sự phân biệt rõ giữa taxi truyền thống và xe công nghệ. Theo đó, taxi truyền thống và phương tiện công cộng (xe buýt) được miễn trừ khỏi quy định bắt buộc sử dụng ghế trẻ em, nhưng xe công nghệ như Uber, Grab, Gojek… lại được phân loại như ô tô cá nhân và phải tuân thủ quy định bắt buộc sử dụng ghế trẻ em.
Vì sao nhiều nước miễn quy định ghế trẻ em đối với taxi, xe khách?
Các cơ quan quản lý ở Anh, Australia, Singapore… đều đưa ra những lý do khá giống nhau cho việc miễn trừ taxi và xe khách khỏi quy định sử dụng ghế trẻ em trên ô tô.
Thứ nhất, taxi và xe dịch vụ không thể luôn trang bị đầy đủ các loại ghế trẻ em phù hợp với mọi độ tuổi, cân nặng. Trong khi đó, việc phụ huynh mang ghế theo trong mọi chuyến đi cũng không thực tế.
Thứ hai, việc lắp đặt và tháo ra sau mỗi chuyến đi sẽ kéo dài thời gian phục vụ của taxi, xe dịch vụ. Bên cạnh đó, nhiều nơi có quy định về thời gian và địa điểm dừng đỗ tối đa của taxi, xe khách… để tránh gây ùn tắc giao thông, nên việc tháo lắp ghế trẻ em là không phù hợp.
Thứ ba, nhiều chuyến taxi mang tính đột xuất, khẩn cấp, nên khó đáp ứng ngay nếu bắt buộc phải có ghế trẻ em phù hợp.
Thay vì bắt buộc mọi xe dịch vụ phải trang bị ghế trẻ em, nhiều quốc gia lựa chọn chuyển trách nhiệm bảo đảm an toàn cho trẻ sang phụ huynh hoặc người giám hộ. Theo đó, nếu muốn mức an toàn cao nhất, họ có thể mang theo ghế riêng hoặc đặt trước các dịch vụ taxi, xe công nghệ có trang bị ghế trẻ em.
Nhắc đến Suzuki, người Việt lâu nay thường nghĩ ngay đến những mẫu xe thực dụng, bền bỉ và tiết kiệm nhiên liệu, hơn là cảm xúc thiết kế hay công nghệ. Vì vậy, Fronx có thể xem là một bước chuyển đáng chú ý của hãng xe Nhật. Một mẫu xe đô thị phá cách hơn, mang dáng dấp trẻ trung và hiện đại, hướng nhiều đến nhóm khách hàng trẻ.
Nhưng còn một điều thú vị hơn. Sau 10 ngày cầm lái phiên bản cao cấp Suzuki Fronx GLX Plus qua nhiều điều kiện vận hành khác nhau, ấn tượng lớn nhất về chiếc xe này thực tế không phải ở kiểu dáng hay trang bị. Thay vào đó là một mẫu xe cân bằng, vừa vặn trong tầm giá.
Đầu tiên phải thừa nhận, điểm dễ nhận ra nhất trên Fronx là thiết kế khác biệt khá rõ so với phần còn lại trong dải sản phẩm Suzuki hiện nay. Nếu XL7 hay Ertiga vẫn trung tính và có phần chững chạc, già dặn; thì Fronx mang dáng dấp hiện đại hơn với kiểu SUV lai coupe. Phần đầu xe tạo hình sắc cạnh, mui xe vuốt nhẹ về sau, tạo cảm giác năng động hơn. Cùng với đó là trang bị cụm đèn LED mang phong cách trẻ trung.
Dù vậy, Fronx vẫn giữ chất "xe Nhật" khá rõ. Mẫu xe này không đi theo hướng phá cách quá mạnh hay cố tạo cảm giác tương lai như nhiều đối thủ đến từ Hàn Quốc hoặc Trung Quốc. Các đường nét ngoại thất vẫn có sự tiết chế nhất định, vừa đủ tạo khác biệt nhưng không quá phô trương. Đây cũng là kiểu thiết kế giúp xe "bền dáng" và ít gây tranh cãi hơn.
Bên trong khoang lái, Fronx GLX Plus được trang bị màn hình giải trí cảm ứng trung tâm kích thước 9 inch, hỗ trợ Apple CarPlay và Android Auto không dây. Cụm đồng hồ hiển thị sau vô lăng dạng kết hợp giữa analog và màn hình đa 4,2 inch, hiển thị các thông tin vận hành như mức tiêu thụ nhiên liệu, hỗ trợ lái hay cảnh báo an toàn.
Điểm đáng chú ý nằm ở cách Suzuki giữ lại sự cân bằng giữa hiện đại và thực dụng. Dù có màn hình cảm ứng, xe vẫn duy trì hệ thống nút bấm vật lý cho điều hòa và các chức năng cơ bản, giúp người lái thao tác nhanh mà không cần "chìm" trong các lớp menu trên màn hình cảm ứng. Đây là chi tiết nhỏ nhưng lại thể hiện rõ tư duy ưu tiên trải nghiệm thực tế thay vì chạy theo xu hướng cảm ứng hóa hoàn toàn.
Trang bị tiện nghi trên xe cũng khá đầy đủ trong phân khúc, với khởi động nút bấm, sạc không dây, điều hòa tự động và camera 360 độ. Đặc biệt trong điều kiện di chuyển đô thị dày đặc như ở TP.HCM hay các tuyến đường nhỏ, camera 360 tỏ ra rất hữu dụng khi xoay xở hoặc đỗ xe trong không gian hẹp.
Suzuki Fronx GLX Plus sử dụng động cơ xăng 1.5 lít kết hợp hệ thống mild-hybrid (hybrid nhẹ), cho công suất khoảng 103 mã lực và mô-men xoắn cực đại 138 Nm, đi kèm hộp số tự động 6 cấp (6AT). Nếu đọc thông số thuần túy, hầu hết người dùng sẽ nghĩ khả năng vận hành của mẫu xe này khó đáp ứng kỳ vọng.
Tuy nhiên thực tế lại khá bất ngờ khi hệ truyền động này dù không tạo ra khác biệt quá lớn về sức mạnh, nhưng lại giúp phản hồi ga đầu mượt hơn và giảm cảm giác ì hay trễ. Đặc biệt ở dải tốc độ thấp. Khả năng xoay xở trong phố cũng là điểm cộng lớn của Fronx. Thân xe gọn, vô-lăng nhẹ ở tốc độ thấp cùng bán kính quay đầu nhỏ (chỉ 4,8 mét) giúp xe linh hoạt hơn.
Nhưng điểm bất ngờ lớn nhất phải kể đến cảm giác vận hành ở tốc độ cao. Không quá lời nếu xem đây là một trong những mẫu A-SUV mang lại cảm giác lái chắc tay hàng đầu phân khúc hiện nay. Ở dải tốc độ 80 - 100 km/giờ (thậm chí 120 km/giờ trên một số tuyến cao tốc), Suzuki Fronx vẫn cho cảm giác ổn định và tương đối đầm chắc, hơn rõ nếu so với một số mẫu xe đô thị cỡ nhỏ cùng phân khúc.
Ngoài ra, cách vô-lăng xe phản hồi cũng mang đến cảm giác thật và chính xác. Độ nặng thay đổi vừa vặn theo dải tốc độ, thân xe ít tạo cảm giác chòng chành và hệ thống treo xử lý khá gọn ở những đoạn mặt đường xấu. Nhìn chung, Fronx không mang đến cảm giác thể thao kèm sự phấn khích, nhưng đủ ổn định để tạo sự tự tin cho người lái.
Một điểm nhấn đáng chú ý nữa trên mẫu xe Suzuki nữa là sự hỗ trợ hiệu quả từ các tính năng an toàn chủ động trong gói ADAS. Đặc biệt là tính năng ga tự động thích ứng (Adaptive Cruise Control), hỗ trợ giữ làn hay cảnh báo điểm mù. Nhóm trang bị này đặc biệt rất nhạy và hoạt động khá ổn định. Người lái có thể ít nhiều "yên tâm" khi cài đặt và hoàn toàn có thể thư giãn chân ga hơn khi điều khiển xe đi trên cao tốc hay các cung đường dài.
Dù vậy, cũng phải khách quan nhìn nhận, Fronx vẫn còn không ít chi tiết "mất điểm". Đầu tiên là bộ ghế ngồi dạng da pha nỉ, kể cả trên phiên bản GLX Plus. Ngoài khiến nội thất xe "kém sang", chi tiết này còn gây một số bất tiện, đặc biệt là khó vệ sinh, lau chùi nếu thấm mồ hôi hay bám bẩn.
Một điểm khó ưng ý nữa là hệ thống Idling Stop. Dù mang lại lợi ích rõ ràng về tiết kiệm nhiên liệu trong đô thị, nhưng trải nghiệm cho thấy, quá trình động cơ khởi động lại vẫn còn hơi giật nhẹ. Trong điều kiện giao thông đô thị phải dừng - chạy liên tục, cảm giác khựng và rung liên tục sẽ ít nhiều khiến người lái khó chịu nếu chưa thực sự quen xe.
Ngoài ra, với kiểu dáng SUV lai coupe, không gian ở hàng ghế thứ hai của Fronx bị hạn chế đôi chút. Bởi dù khoảng để chân vẫn khá rộng, nhưng với người có chiều cao tương đối (trên 1,75 mét), khoảng hở trên trần xe không nhiều, tạo cảm giác hơi bí.
Sau hơn 10 ngày trải nghiệm thực tế, có thể thấy Suzuki Fronx GLX Plus không phải mẫu xe tạo ấn tượng mạnh ngay từ đầu, nhưng càng sử dụng lâu, người lái sẽ càng yêu thích hơn. Đây là một mẫu A-SUV thực dụng nhưng không quá nhàm chán; phù hợp với nhu cầu di chuyển hằng ngày nhờ kiểu dáng gọn gàng, dễ lái, tiết kiệm, cùng nhiều công nghệ hỗ trợ.
Đặc biệt với những khách hàng muốn tìm kiếm một mẫu xe phục vụ gia đình nhỏ, cần sự yên tâm nhưng đồng thời vẫn trẻ trung, năng động, Suzuki Fronx thực sự là cái tên đáng cân nhắc.
Một chiếc Suzuki eVitara đã được bắt gặp tại trung tâm thử nghiệm khí thải ở Hà Nội, cho thấy khả năng mẫu SUV thuần điện cỡ B này đang hoàn tất các thủ tục cần thiết trước khi mở bán trong thời gian tới.
Về ngoại hình, chiếc Suzuki eVitara xuất hiện lần này có nhiều điểm tương đồng với xe trưng bày tại sự kiện ra mắt Suzuki Fronx hồi tháng 10-2025.
Đây cũng là thời điểm mẫu xe điện này lần đầu được giới thiệu tại Việt Nam, dù hãng xe Nhật Bản khi đó chưa công bố kế hoạch phân phối chính thức.
Những hình ảnh khác của chiếc Suzuki eVitara được bắt gặp - Ảnh: Bí mật Xe Biz
Suzuki eVitara thuộc phân khúc SUV cỡ B với kích thước dài x rộng x cao lần lượt 4.275 x 1.800 x 1.635 (mm), chiều dài cơ sở đạt 2.700mm. Thông số này đặt mẫu xe ở mức tương đương một số đối thủ cùng tầm, trong đó có BYD Dolphin.
Dù mang tên gọi gợi nhớ dòng SUV Vitara nổi tiếng trước đây, eVitara gần như không có điểm chung với thế hệ Vitara gần nhất (ra mắt từ năm 2014) cũng như không liên quan đến Grand Vitara (2022). Thay vào đó, đây là phiên bản thương mại của concept eVX (2023), sử dụng nền tảng khung gầm Heartect-e chuyên biệt cho xe điện.
Do là xe thuần điện, phần đầu của Suzuki eVitara không còn lưới tản nhiệt truyền thống, thay vào đó là hốc gió đặt thấp nhằm làm mát pin và các hệ thống vận hành. Bộ mâm thiết kế dạng kín giúp tối ưu khí động học, trong khi tay nắm cửa sau được bố trí ẩn trên cột C, tạo nên tổng thể thân xe liền mạch. Cụm đèn hậu LED nối liền hai bên là điểm nhấn ở khu vực phía sau.
Không gian nội thất của Suzuki eVitara được thiết kế hiện đại, khác biệt so với các mẫu Vitara sử dụng động cơ đốt trong. Táp lô nổi bật với màn hình kép cỡ lớn đặt liền khối, thay vì bố trí tách rời như trên Grand Vitara. Xe sử dụng vật liệu bọc da ở nhiều vị trí như ghế ngồi, tapi cửa và táp lô, trong khi bệ trung tâm tích hợp các nút chức năng cùng cần số dạng núm xoay.
Về vận hành, Suzuki eVitara có hai cấu hình truyền động. Phiên bản từng trưng bày tại Việt Nam sử dụng mô-tơ điện đặt ở cầu trước, cho công suất tối đa 171 mã lực và mô-men xoắn 190Nm. Đi kèm là bộ pin dung lượng 61kWh, cho phạm vi hoạt động tối đa khoảng 428km sau mỗi lần sạc theo công bố của hãng.
Ngày 17-10-2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2017/NĐ-CP quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô. Qua 7 năm triển khai thực hiện, về cơ bản Nghị định đã đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế triển khai, thực hiện đã phát sinh một số tình huống cần phải sửa đổi, bổ sung quy định.
Cụ thể, Nghị định số 117/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 2 theo hướng không áp dụng các điều kiện kinh doanh quy định tại Nghị định này đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô phục vụ mục đích xuất khẩu.
Nghị định số 117/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm a, c, đ khoản 3 Điều 8 về quy định trình tự cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô.
Theo quy định mới, trình tự cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô sẽ được thực hiện như sau:
Doanh nghiệp gửi 1 bộ hồ sơ theo quy định trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính tới Bộ Công Thương hoặc hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy định, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Công Thương có văn bản yêu cầu doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện theo đúng quy định;
Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Công Thương thông báo cụ thể thời gian tiến hành kiểm tra, đánh giá thực tế tại doanh nghiệp.
Thời hạn kiểm tra không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày thông báo. Các nội dung kiểm tra phải được lập thành biên bản (mẫu số 09 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này).
Trường hợp kết quả kiểm tra, đánh giá chưa đạt yêu cầu, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc kiểm tra, Bộ Công Thương thông báo để doanh nghiệp hoàn thiện;
Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô (mẫu số 04 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này) được cấp trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả thẩm định hồ sơ và kiểm tra thực tế đạt yêu cầu.
Trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận, Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
Doanh nghiệp nhận giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô trực tiếp tại Bộ Công Thương hoặc qua hệ thống bưu chính (nếu có yêu cầu) hoặc trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Nghị định số 117/2026/NĐ-CP sửa đổi, bãi bỏ điểm a, d khoản 3 của Điều 16 quy định về trình tự cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô.
Theo đó, trình tự cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô như sau:
Doanh nghiệp nộp 1 bộ hồ sơ theo quy định trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính tới Bộ Công Thương hoặc hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy định, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Công Thương có văn bản yêu cầu doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện theo đúng quy định;
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Bộ Công Thương xem xét cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô cho doanh nghiệp (mẫu số 08 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này).
Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương thông báo thời gian tiến hành kiểm tra tính xác thực của các điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định này.
Thời hạn kiểm tra không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày thông báo. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả kiểm tra, Bộ Công Thương xem xét cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô cho doanh nghiệp.
Trường hợp không cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô cho doanh nghiệp, Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Doanh nghiệp nhận giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô trực tiếp tại Bộ Công Thương hoặc qua hệ thống bưu chính (nếu có yêu cầu) hoặc trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.