Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội vừa mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, tuyên hủy án sơ thẩm của TAND tỉnh Phú Thọ, liên quan đến vụ 11 anh chị em kiện chia thừa kế đất. Đây là lần thứ 3 vụ việc được đưa về cấp sơ thẩm, sau 4 năm ròng rã kiện tụng, cả nguyên đơn và bị đơn tóc đã bạc trắng.
Ông V.T.A (76 tuổi) là con cả trong gia đình có 11 anh chị em, còn ông V.K.B (68 tuổi) là con thứ tư. Năm 1962, cha mẹ ông A. và ông B. mua thửa đất 1.213 m2, sau đó cắt 138 m2 cho ông B. làm nhà riêng.
Năm 2001 rồi năm 2015, cha mẹ lần lượt qua đời, không để lại di chúc. 5 năm sau, ông A. họp gia đình bàn xây dựng nhà từ đường trên phần diện tích hơn 1.000 m2 còn lại.
Tuy nhiên, ông B. không đồng ý, nói toàn bộ 1.213 m2 đất đã đứng tên mình và được cấp “sổ đỏ” từ năm 2005. Sau khi cho ông thửa đất này, cha mẹ mua một thửa đất khác và chuyển đến đây sinh sống. Cha mẹ qua đời, thửa đất mới đã bán, lấy tiền chia cho mọi người.
Cho rằng “sổ đỏ” cấp cho ông B. là sai, không ai trong gia đình hay biết, ông A. đại diện 9 người anh em khởi kiện ông B., đề nghị hủy bỏ sổ này, chia đều phần diện tích hơn 1.000 m2 cho tất cả các anh chị em, đồng thời hủy bỏ hợp đồng mà ông B. đang thế chấp thửa đất tại ngân hàng.
Tại phiên sơ thẩm, TAND tỉnh Phú Thọ nhận định thửa đất 1.213 m2 do cha mẹ ông A. và ông B. nhận chuyển nhượng từ một người cùng xã. Năm 2001, địa phương chủ trương cấp “sổ đỏ” cho toàn dân, ông B. kê khai và được cha mẹ cho và đứng tên toàn bộ thửa đất này.
Sau khi rà soát, hồ sơ của ông B. và hơn 600 hộ dân khác đủ điều kiện được cấp sổ, UBND xã đã thành lập hội đồng tư vấn, niêm yết công khai, đồng thời thông báo trên loa phát thanh. Đủ 15 ngày không thấy ai khiếu nại, xã mới trình UBND huyện cấp sổ cho các hộ.
Tòa nói, việc cấp sổ là cho toàn dân chứ không riêng gì ông B. Thời gian cấp kéo dài suốt 5 năm, thông báo công khai, nhưng không ai có ý kiến. Ông A. cho rằng không biết là không khách quan. Quá trình sử dụng đất, ông B. tiến hành tôn tạo, xây dựng các công trình trên đất, nhiều lần thế chấp đất tại ngân hàng nhưng cũng không ai phản đối.
Lời khai của một số nhân chứng, trong đó có nguyên cán bộ địa chính, cũng cho thấy cha mẹ ông B. có công bố chuyện cho ông B. toàn bộ thửa đất. Lý do vì trong số các anh chị em chỉ có ông B. không biết kinh doanh nên được “ưu tiên”.
Theo tòa, pháp luật quy định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản và công chứng, chứng thực. Song, thực tiễn nhiều trường hợp không tuân thủ đầy đủ về hình thức pháp lý, bên tặng cho đã giao đất, bên nhận tặng cho đã quản lý, sử dụng đất ổn định. Trường hợp này được coi là chiếm hữu ngay tình.
Do đó, việc tặng cho quyền sử dụng đất trên thực tế đã hoàn thành và công nhận quyền sử dụng đất đối với bên nhận tặng cho. Tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngược lại với nhận định của cấp sơ thẩm, tại phiên phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát cho rằng việc cán bộ địa chính gạch tên cha ông B. để thay bằng tên ông B. trong hồ sơ đất đai mà chỉ dựa trên “lời nói miệng” của người cha là sai phạm nghiêm trọng, không thể coi là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho ông B.
Hơn nữa, thửa đất là tài sản chung của hai vợ chồng nên việc một mình người cha quyết định cho tặng là không hợp pháp.
Viện Kiểm sát cũng không đồng tình với nhận định các anh chị em đã biết và chấp thuận việc cấp sổ đỏ cho ông B. Bởi lẽ, việc địa phương niêm yết danh sách, thông báo trên loa phát thanh 15 ngày chỉ là thủ tục hành chính, không thể thay thế cho thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giữa 11 người con.
Đồng tình với Viện Kiểm sát, hội đồng xét xử đánh giá ông B. không cung cấp được tài liệu chứng minh cha mẹ tặng cho toàn bộ thửa đất cho mình. Sau khi cha mẹ chết, các con không có văn bản chia di sản thừa kế, mà chỉ công nhận phần diện tích 138 m2 đã chia cho ông B. Phần diện tích còn lại là di sản của hai cụ.
Tòa cho rằng, không có cơ sở để xác định ông B. được cha mẹ tặng cho toàn bộ 2 thửa đất. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông A. là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những người con còn lại.
Do thửa đất hiện được ông B. thế chấp tại ngân hàng, việc phân chia di sản ngay tại phiên phúc thẩm không thể thực hiện. Vì vậy, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ để TAND tỉnh Phú Thọ xét xử lại.
Chiều 20-4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
Đại biểu Phạm Trọng Nhân (TP.HCM) cho hay theo báo cáo của Chính phủ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2025 đạt 8,02%.
Đóng góp vào kết quả này không chỉ từ kinh tế nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mà còn đến từ sự bền bỉ của kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên phía sau những con số tăng trưởng đó, số lượng doanh nghiệp rời khỏi thị trường vẫn ở mức cao.
Và dù đóng góp hơn một nửa GDP, khu vực này chỉ chiếm khoảng 30% xuất khẩu, số còn lại thuộc về FDI.
"Chênh lệch đó phản ánh thực tế kinh tế tư nhân vẫn chủ yếu hoạt động ở thị trường nội địa, gia công hoặc các phân khúc giá trị thấp. Trong khi những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vắng vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân", ông Nhân nói.
Theo đại biểu, Nghị quyết 198 của Quốc hội là một nỗ lực quan trọng nhằm lấp các khoảng trống của các quy định hiện hành. Tuy nhiên các ưu đãi lãi suất chủ yếu gắn với điều kiện dự án xanh, tiêu chuẩn ESG, tức là hỗ trợ có điều kiện, chứ chưa phải là quyền được bảo vệ một cách thực chất.
Dù đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện chính sách, nhưng cách tiếp cận vẫn thiên về hỗ trợ, trong khi điều doanh nghiệp cần không phải là hỗ trợ, bởi còn tư duy hỗ trợ thì khó xóa rào cản xin - cho.
"Điều họ cần là một khung pháp lý vững chắc, ổn định, bình đẳng và có thể thi hành để họ có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đặc biệt trong những lĩnh vực mà nền kinh tế đang rất cần như hạ tầng, năng lượng và công nghệ cao", ông Nhân nói.
Đại biểu đoàn TP.HCM nhìn nhận Việt Nam đã hệ thống các nghị quyết, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng các luật này chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể.
Điều còn thiếu là một nguyên tắc xuyên suốt, có tính nền tảng, bảo đảm quyền và tạo lập niềm tin cho khu vực kinh tế tư nhân trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
"Từ việc xác định động lực quan trọng đến động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là một bước nhảy lớn trong quan điểm, tư duy, nhưng rất tiếc từ trước đến nay, trên bàn nghị sự của Quốc hội chưa có một báo cáo thường niên chuyên đề về tình hình thực thi các quyền của kinh tế tư nhân", ông Nhân nói.
Theo đại biểu, tại Hội nghị Trung ương ban hành Nghị quyết 68, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ đạo phải kiến tạo hệ sinh thái công bằng.
Cùng với đó, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân bứt phá, hình thành các tập đoàn tư nhân đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và các lĩnh vực chiến lược, đặt mục tiêu kinh tế tư nhân đóng góp 70% GDP vào năm 2030.
Thủ tướng cũng cam kết tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Tuy nhiên từ Nghị quyết 68 đến nay, Quốc hội mới chỉ ban hành thêm Nghị quyết 198.
Theo tinh thần Kết luận 17 của Bộ Chính trị, yêu cầu hoàn thành việc thể chế hóa ngay trong năm 2026 các nghị quyết chiến lược, trụ cột của Trung ương và Bộ Chính trị, mà Nghị quyết 68 là một trong số đó.
Từ đó, ông Nhân kiến nghị Quốc hội đưa vào chương trình lập pháp một đạo luật khung có tính nền tảng, Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân, và không thể chậm trễ hơn nữa.
"Đây không phải là một đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh cụ thể, cũng không tạo thêm cơ chế ưu đãi riêng lẻ, mà là xác lập các nguyên tắc nền tảng về bảo vệ quyền, bảo đảm sự ổn định và tính dự báo của môi trường pháp lý, làm cơ sở để các luật chuyên ngành tham chiếu và thực thi thống nhất", ông Nhân nói.
Ngày 17/7, Thành ủy Huế đã có thông báo về quyết định thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm liên quan dự án Nhà khách Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.
Trước đó, ngày 16/7, ông Nguyễn Đình Trung, Bí thư Thành ủy Huế, đã chủ trì cuộc họp của Ban Thường vụ Thành ủy để xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Lưu Đức Hoàn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Chân Mây - Lăng Cô.
Lãnh đạo Ban Thường vụ Thành ủy Huế nhận định với vai trò nguyên Bí thư Đảng ủy, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy, đại diện chủ đầu tư dự án Nhà khách Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (từ tháng 12/2020 đến tháng 4/2024), ông Lưu Đức Hoàn đã thiếu kiểm tra, giám sát, vi phạm quy định về trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai dự án.
Ông Lưu Đức Hoàn đã vi phạm quy chế làm việc, quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương, gây hậu quả, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và bản thân.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả và nguyên nhân vi phạm; căn cứ quy định của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Ban Thường vụ Thành ủy Huế quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Lưu Đức Hoàn.
Liên quan đến các sai phạm tại dự án Nhà khách Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, trước đó Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Huế đã thi hành kỷ luật khiển trách Đảng ủy Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và phát triển đô thị thành phố Huế (nhiệm kỳ 2025-2030) - đơn vị được Văn phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế ủy thác quản lý dự án Nhà khách Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (cũ).
Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng với các ông Hà Xuân Hậu, Giám đốc; ông Đặng Quang Ngọc, Phó giám đốc và ông Trần Hùng, Trưởng phòng Kế hoạch thẩm định, Ban Quản lý đầu tư xây dựng và phát triển đô thị thành phố Huế. Đơn vị này còn có 2 cán bộ bị kỷ luật khiển trách, 2 cựu cán bộ bị kiểm điểm rút kinh nghiệm.
Cơ quan kiểm tra cũng đưa ra hình thức kiểm điểm rút kinh nghiệm với ông Huỳnh Minh Khang, Phó giám đốc Sở Xây dựng thành phố Huế.
Trước đó, Thanh tra thành phố Huế đã phát hiện nhiều sai phạm tại dự án Nhà khách Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. Dự án được phê duyệt năm 2020, điều chỉnh năm 2021 với tổng mức đầu tư 49,5 tỷ đồng.
Nhà khách này được nâng cấp, cải tạo, sửa chữa từ cơ sở nhà, đất số 22 Tố Hữu, phường Vỹ Dạ - từng là trụ sở của Công ty xổ số kiến thiết Thừa Thiên Huế trước đây.
Từ ngày 18.5.2026, Nghị định 109/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, thay thế Nghị định 82/2020/NĐ-CP. Một trong những điểm đáng chú ý là tăng mạnh mức xử phạt đối với hành vi ngoại tình.
Theo khoản 1 điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, người có hành vi ngoại tình sẽ bị phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng. Trong đó, các hành vi được xem là ngoại tình gồm:
Hiện hành, tại khoản 1 điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, các hành vi ngoại tình nêu trên chỉ bị phạt từ 3 - 5 triệu đồng.
Như vậy, mức phạt mới đối với hành vi ngoại tình đã tăng gấp đôi, nâng mức tối đa từ 5 - 10 triệu đồng, đồng thời tăng cả mức tối thiểu từ 3 triệu đồng lên 5 triệu đồng.
Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm khác liên quan đến kết hôn, ly hôn như cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn cũng được áp dụng cùng mức phạt từ 5 - 10 triệu đồng theo quy định mới, thay vì mức 3 - 5 triệu đồng như trước đây.
Ngoài ra, Nghị định 109/2026/NĐ-CP sẽ có những thay đổi về xử phạt vi phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.