Ngày 20.7, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long, bệnh viện này vừa cứu sống sản phụ mắc hội chứng HELLP và thai nhi 38 tuần, hiện tại sức khỏe mẹ và bé ổn định đã được xuất viện về nhà.
Trước đó, sản phụ Đ.T.C.H (32 tuổi) mang thai lần hai, thai 38 tuần, nhập viện vì đau trằn bụng. Trong thai kỳ, sản phụ khám thai chưa đều; từ tuần thai thứ 28 đã được phát hiện tăng huyết áp nhưng chưa được theo dõi và điều trị đầy đủ.
Khi nhập viện, sản phụ tỉnh, huyết áp 150/100 mmHg, có phù ngoại biên nhưng không đau vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải; tim thai 140 lần/phút, chưa có dấu hiệu chuyển dạ.
Kết quả xét nghiệm ghi nhận số lượng tiểu cầu của sản phụ giảm còn khoảng 60 G/L; men gan tăng; siêu âm phát hiện thai chậm tăng trưởng trong tử cung, cân nặng ước tính khoảng 2.400 gram.
Trên cơ sở kết hợp diễn biến lâm sàng, tiền sử giảm tiểu cầu mạn tính, ê kíp chẩn đoán tiền sản giật có dấu hiệu nặng, biến chứng hội chứng HELLP; đồng thời đánh giá nguy cơ xuất huyết và các nguyên nhân giảm tiểu cầu liên quan.
Chỉ khoảng 3 giờ sau khi nhập viện, sản phụ được mổ lấy thai. Bé trai chào đời với cân nặng hơn 2.300 gram, được theo dõi và chăm sóc sau sinh. Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, cầm máu tốt và không ghi nhận biến chứng trong quá trình phẫu thuật.
Theo các bác sĩ, HELLP là một biến chứng nặng trong thai kỳ, đặc trưng bởi 3 nhóm bất thường tán huyết; tăng men gan; giảm tiểu cầu. Bệnh có thể tiến triển nhanh và gây nhiều biến chứng nghiêm trọng như sản giật, rối loạn đông máu, xuất huyết, suy gan, suy thận, nhau bong non, đột quỵ hoặc đe dọa tính mạng của mẹ và thai nhi.
Đáng lưu ý, người bệnh không phải lúc nào cũng có đầy đủ các triệu chứng điển hình. Một số thai phụ vẫn tỉnh táo, không đau đầu hoặc không đau vùng thượng vị nhưng đã có tổn thương cơ quan trên xét nghiệm. Các bác bác sĩ khuyến cáo, thai phụ cần khám thai định kỳ và đến cơ sở y tế ngay khi có dấu hiệu bất thường.
Những cảm xúc mãnh liệt khi theo dõi bóng đá đóng vai trò như một "nghiệm pháp gắng sức", gây áp lực đột ngột lên hệ tuần hoàn, GS Hùng nhận định.
Theo chuyên gia, đây là thời điểm người hâm mộ cần đặc biệt lưu ý khi cường độ các giải đấu diễn ra liên tục. Nghiên cứu đăng trên The New England Journal of Medicine theo dõi hơn 4.200 ca cấp cứu tim mạch tại Munich (Đức) trong World Cup 2006 cho thấy, vào những ngày đội tuyển Đức thi đấu, số ca cấp cứu tăng 2,66 lần so với bình thường. Ở nam giới, nguy cơ tăng hơn ba lần; với người mắc bệnh mạch vành, nguy cơ biến cố tim mạch gần gấp bốn lần. Các biến cố bao gồm nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định, rối loạn nhịp tim và ngừng tim đột ngột.
Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận tại nhiều quốc gia. Sau trận Anh thua Argentina tại World Cup 1998, số ca nhập viện vì nhồi máu cơ tim ở nam giới tăng khoảng 25% trong ba ngày. Tại Hà Lan, số ca tử vong do tim mạch tăng bất thường sau khi đội tuyển quốc gia bị loại khỏi Euro 1996. Ở Brazil, tỷ lệ nhồi máu cơ tim trong thời gian diễn ra World Cup tăng 8-15%, đặc biệt vào những ngày đội tuyển thi đấu.
Một số nghiên cứu sử dụng đồng hồ thông minh còn ghi nhận nhịp tim của người hâm mộ có thể đạt 130-170 nhịp/phút trong những thời điểm căng thẳng như loạt sút luân lưu hoặc bàn thắng quyết định, tương đương khi vận động cường độ cao.
"Khi cảm xúc dâng cao, hệ thần kinh giao cảm hoạt động mạnh, cơ thể giải phóng nhiều adrenaline và noradrenaline khiến nhịp tim tăng nhanh, huyết áp tăng, mạch máu co lại và nhu cầu oxy của cơ tim tăng cao. Đồng thời, khả năng hình thành cục máu đông cũng tăng lên", GS Hùng nói, thêm rằng ở người khỏe mạnh, những thay đổi này thường chỉ diễn ra tạm thời.
Tuy nhiên, với người có mảng xơ vữa động mạch vành, tình trạng căng thẳng đột ngột có thể làm nứt vỡ mảng xơ vữa, tạo cục huyết khối gây tắc mạch và dẫn đến nhồi máu cơ tim cấp.
Ngoài yếu tố cảm xúc, thói quen thức khuya, lạm dụng bia rượu, đồ ăn mặn và thuốc lá trong mùa bóng cũng trực tiếp tàn phá trái tim. Việc tiêu thụ đồ uống có cồn quá mức dễ dẫn đến "Hội chứng trái tim ngày nghỉ" (Holiday Heart Syndrome), gây rung nhĩ ngay cả ở người khỏe mạnh. Thức đêm kéo dài làm đảo lộn nhịp sinh học, gây rối loạn đường huyết và tăng gánh nặng cho cơ tim.
Để bảo vệ sức khỏe, ông Hùng khuyến cáo nhóm nguy cơ cao như người mắc bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc béo phì cần tuân thủ phác đồ điều trị và hạn chế thức trắng nhiều đêm. Người xem nên đứng dậy đi lại, hít thở sâu hoặc uống nước để thư giãn khi trận đấu quá căng thẳng. Nếu xuất hiện triệu chứng đau ngực, khó thở, vã mồ hôi lạnh hoặc choáng váng, người bệnh cần đến bệnh viện ngay lập tức thay vì cố theo dõi cho hết trận đấu.
Giá trị dinh dưỡng của cá không chỉ phụ thuộc vào việc chúng được nuôi hay đánh bắt tự nhiên, mà còn liên quan đến loài cá, nguồn thức ăn, vùng đánh bắt, phương pháp nuôi trồng và cách bảo quản sau khi bắt, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong một số trường hợp, cá tự nhiên có tỷ lệ omega-3 cao hơn. Nhưng ở những trường hợp khác, cá nuôi lại có hàm lượng omega-3 tương đương, giá rẻ và đôi khi có mức thủy ngân thấp hơn.
Với protein, một số quan điểm rằng cá tự nhiên giàu protein hơn vì chúng phải bơi nhiều hơn trong môi trường tự nhiên. Điều này có thể đúng ở một số loài nhưng mức chênh lệch thường không đáng kể.
Một nghiên cứu công bố trên chuyên san Current Research in Food Science cho thấy cá hồi tự nhiên có hàm lượng protein và tổng a xít amin cao hơn một chút so với cá hồi nuôi. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy mức khác biệt này không quá lớn.
Trên thực tế, nếu ăn cá đều đặn mỗi tuần, lựa chọn cá nuôi hay cá tự nhiên thường không ảnh hưởng quá nhiều đến tổng lượng protein hấp thụ.
Một trong những khác biệt dễ thấy nhất giữa cá nuôi và cá tự nhiên là tổng lượng mỡ cá. Cá nuôi thường được cho ăn theo chế độ giúp tăng trưởng nhanh hơn, đồng thời mức vận động cũng thấp hơn cá sống ngoài tự nhiên. Điều này khiến nhiều loại cá nuôi có xu hướng có nhiều mỡ hơn.
Ví dụ điển hình là cá hồi nuôi thường có phần thịt béo hơn, mềm hơn và nhiều calo hơn cá hồi tự nhiên. Trong khi đó, cá đánh bắt tự nhiên thường có phần thịt săn chắc hơn, ít mỡ hơn và phù hợp với những người đang muốn kiểm soát calo.
Một quan niệm khá phổ biến là cá sống trong môi trường tự nhiên luôn sạch hơn cá nuôi. Nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Cá tự nhiên có thể tiếp xúc với thủy ngân, vi nhựa và nhiều chất ô nhiễm khác tồn tại trong sông, hồ hoặc đại dương. Đặc biệt, những loài cá lớn sống lâu và đứng cao trong chuỗi thức ăn như cá kiếm, cá mập hoặc cá thu thường có nguy cơ tích lũy thủy ngân cao hơn.
Trong khi đó, một số nghiên cứu cho thấy nhờ thay đổi công thức thức ăn chăn nuôi, nhiều trang trại thủy sản hiện đại đã có thể giảm nồng độ một số chất ô nhiễm hữu cơ trong cá nuôi. Vì vậy, yếu tố quan trọng hơn không nằm ở cá được nuôi hay đánh bắt mà là loài cá và nguồn gốc của chúng.
Bên cạnh yếu tố cá nuôi hay cá tự nhiên, mọi người cũng nên quan tâm nhiều hơn đến loại cá cụ thể và nguồn gốc sản phẩm. Ưu tiên các loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp, nguồn cung rõ ràng và được bảo quản đúng cách, theo Healthline.
Khoản 2 điều 9 Thông tư 01/2025/TT-BYT (Thông tư 01/2025) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BHYT, các trường hợp chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám chữa bệnh (KCB) BHYT theo đúng trình tự bao gồm:
Chuyển người bệnh giữa các cơ sở KCB BHYT trong cùng cấp KCB; từ cơ sở KCB cấp ban đầu đến cơ sở KCB cấp cơ bản; từ cơ sở KCB cấp cơ bản đến cơ sở KCB cấp chuyên sâu theo yêu cầu chuyên môn, tình trạng của người bệnh hoặc vượt khả năng đáp ứng của cơ sở KCB.
Chuyển người bệnh từ cơ sở KCB cấp ban đầu đến cơ sở KCB cấp chuyên sâu trong trường hợp vượt khả năng đáp ứng của cơ sở KCB cấp cơ bản tại tỉnh.
Chuyển người bệnh đã điều trị ổn định từ cơ sở KCB cấp chuyên sâu về cơ sở KCB cấp cơ bản hoặc cấp ban đầu; chuyển người bệnh từ cơ sở KCB cấp cơ bản về cơ sở KCB cấp ban đầu để tiếp tục điều trị, theo dõi.
Chuyển người bệnh từ cơ sở KCB cấp chuyên sâu hoặc cấp cơ bản về cơ sở KCB BHYT ban đầu để điều trị, quản lý, theo dõi đối với các bệnh mạn tính (theo quy định tại điều 10 Thông tư 01/2025).
Quy định cũng nêu rõ, cơ sở KCB BHYT chuyển người bệnh về quản lý, theo dõi, điều trị tại cơ sở KCB BHYT cấp ban đầu có trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin với cơ sở tiếp nhận bảo đảm cung ứng thuốc, thiết bị y tế và không ảnh hưởng đến quá trình điều trị của người bệnh; chuyển thuốc, thiết bị y tế trong thời gian cơ sở KCB tiếp nhận người bệnh chưa có sẵn thuốc, thiết bị y tế để cung cấp cho người bệnh…