Một lon Coca-Cola hoặc Pepsi dung tích 330ml có giá hơn 6 USD tại Thụy Sĩ, bao thuốc lá gần 45 USD ở Australia hay chiếc iPhone 17 Pro có giá gần 2.600 USD tại Thổ Nhĩ Kỳ. Những con số tưởng như phi lý này đều xuất hiện trong báo cáo Mapping the World’s Prices 2026 của Viện Nghiên cứu Deutsche Bank, khảo sát chi phí sinh hoạt tại 69 thành phố trên toàn cầu.
Điều đáng chú ý là mức giá cao chưa hẳn đồng nghĩa với cuộc sống đắt đỏ. Đằng sau mỗi nhãn giá là câu chuyện về thu nhập, sức mạnh đồng nội tệ, chính sách thuế và cả chiến lược phát triển của từng quốc gia.
Đắt đỏ nhất thế giới nhưng người dân vẫn “dễ thở”
Zurich và Geneva tiếp tục nằm trong nhóm thành phố có chi phí sinh hoạt cao nhất thế giới. Một ly cappuccino tại Zurich có giá hơn 7 USD, chuyến taxi khoảng 5 km lên tới gần 32 USD, trong khi một bữa tối 3 món cho 2 người tại nhà hàng tầm trung có giá khoảng 149 USD. Ngay cả những mặt hàng phổ thông cũng không rẻ. Một chiếc quần jeans cơ bản tại Geneva có giá khoảng 141 USD, gần gấp đôi so với New York.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào mức giá, người ta rất dễ đi đến kết luận sai rằng Thụy Sĩ là nơi khó sống nhất. Theo Business Insider, đây lại là quốc gia có thu nhập thuộc nhóm cao nhất thế giới. Sau khi trừ thuế, tiền thuê nhà và các chi phí thiết yếu, một cặp vợ chồng thuê căn hộ 3 phòng ngủ tại Zurich vẫn có thể còn dư hơn 10.000 USD/tháng để chi tiêu và tiết kiệm.
Theo ông Jim Reid, Trưởng bộ phận Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô của Deutsche Bank, mức giá cao tại Thụy Sĩ phản ánh sức mạnh bền vững của đồng franc Thụy Sĩ trong nhiều thập kỷ. Đồng tiền mạnh khiến hầu hết hàng hóa và dịch vụ quy đổi sang USD đều trở nên đắt đỏ, nhưng đồng thời cũng giúp người dân địa phương duy trì sức mua rất cao.
Vì sao cùng một chiếc iPhone nhưng có nơi đắt gấp đôi?
Một trong những ví dụ rõ nhất về sự chênh lệch giá là iPhone 17 Pro. Theo Deutsche Bank, tại Thổ Nhĩ Kỳ, mẫu điện thoại này có giá khoảng 2.592 USD, gần gấp đôi thị trường Mỹ. Theo báo cáo, sự chênh lệch lớn này chủ yếu phản ánh tác động của hệ thống thuế, chi phí nhập khẩu và sự mất giá kéo dài của đồng lira. Khi một sản phẩm được định giá dựa trên USD nhưng đồng nội tệ suy yếu, giá bán đến tay người tiêu dùng sẽ tăng mạnh.
Chính vì vậy, Deutsche Bank xem iPhone là một trong những thước đo hữu ích để so sánh tác động của tỷ giá và chính sách thuế giữa các nền kinh tế.
Thuế cũng là lý do khiến nhiều mặt hàng tiêu dùng có mức giá cao bất thường. Tại Sydney, một bao thuốc lá có giá hơn 44 USD do Australia áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt rất cao nhằm hạn chế hút thuốc. Tại Singapore, giá rượu vang cũng thuộc nhóm đắt nhất thế giới nhờ chính sách đánh thuế theo dung tích cồn.
Trong khi đó, tại Dubai, người dân phải trả gần 95 USD mỗi tháng cho gói Internet băng thông rộng tốc độ cao và khoảng 13,6 USD cho một chai bia nhập khẩu, phản ánh đặc thù thị trường và chính sách quản lý của từng quốc gia.
Không chỉ hàng hóa, chi phí dịch vụ thiết yếu cũng chịu ảnh hưởng từ các quyết sách kinh tế. Tại Berlin, hóa đơn điện, nước và sưởi ấm cho căn hộ khoảng 85m2 đã tăng lên khoảng 410 USD mỗi tháng, cao hơn gần 50% so với một thập kỷ trước, sau quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng và chi phí đầu vào tăng cao.
Nhật Bản trở thành điểm đến dễ chịu hơn
Ở chiều ngược lại, Tokyo đang nổi lên như một trong những thành phố có chi phí hợp lý nhất trong nhóm các nền kinh tế phát triển. Đồng yên suy yếu trong nhiều năm khiến giá thuê nhà, ăn uống và mua sắm tại Nhật Bản trở nên hấp dẫn hơn đáng kể đối với du khách quốc tế.
Theo Deutsche Bank, giá thuê một căn hộ 3 phòng ngủ tại đây chỉ bằng chưa đến 1/3 so với New York, một suất ăn nhanh McDonald’s chỉ bằng 1/4 so với Tel Aviv, và đây cũng là nơi sở hữu mức giá mua iPhone rẻ nhất thế giới.
Sự thay đổi này phản ánh một xu hướng đáng chú ý, đó là bản đồ chi phí sinh hoạt toàn cầu đang dịch chuyển cùng với biến động của tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Trong khi New York và San Francisco vẫn thuộc nhóm thành phố đắt đỏ nhất nước Mỹ, khoảng cách với nhiều trung tâm tài chính khác đã thu hẹp hơn trước.
Theo lý giải của chuyên gia Jim Reid, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Mỹ đang có dấu hiệu chậm lại. Nguyên nhân là các nhà đầu tư không còn muốn bỏ tất cả trứng vào một giỏ trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu ngày càng phức tạp.
Sự phân hóa về chi phí sinh hoạt toàn cầu cho thấy việc đánh giá độ đắt đỏ không chỉ dựa vào con số tuyệt đối của nhãn giá. Nó là sự giao thoa phức tạp giữa chính sách thuế, sức mạnh của đồng nội tệ và đặc biệt là cán cân thu nhập của người dân địa phương.
Đối với người tiêu dùng, đặc biệt là những người có kế hoạch du lịch, học tập, làm việc hoặc mua sắm xuyên biên giới, việc chỉ nhìn vào nhãn giá là chưa đủ. Thuế, tỷ giá, thu nhập và chi phí sinh hoạt mới là những yếu tố quyết định một nơi thực sự đắt đỏ hay chỉ “đắt trên giấy”.
Công ty cổ phần Phát triển nhà Thủ Đức (Thuduc House) cho biết họ mới nhận thông báo thực hiện bản án hành chính phúc thẩm từ Thuế TP HCM theo bản án của TAND cấp cao tại thành phố. Theo đó, cơ quan thuế chấm dứt tất cả biện pháp cưỡng chế hành chính với công ty và thông báo nợ thuế liên quan đến phần chậm nộp của khoản tiền hơn 365 tỷ đồng.
"Việc thực thi bản án này cũng trực tiếp gỡ bỏ các biện pháp ngăn chặn với chuyển dịch, thế chấp tài sản thuộc sở hữu của Thuduc House", thông cáo báo chí ngày 21/4 viết. Ban lãnh đạo công ty gọi đây là cột mốc pháp lý giúp họ tháo gỡ những vướng mắc trong thời gian dài.
Thuduc House thành lập năm 1990, hoạt động chính trong lĩnh vực bất động sản với nguồn thu vài nghìn tỷ đồng mỗi năm. Công ty có giai đoạn kinh doanh linh kiện điện tử, sau đó bị cơ quan thuế cưỡng chế liên quan đến sai phạm về hoạt động xuất khẩu trong thời gian 2017-2019. Tuy nhiên, công ty khiếu kiện quyết định này và được tòa phúc thẩm tuyên thắng kiện vào tháng 9/2025.
Thuduc House năm ngoái ghi nhận doanh thu 110 tỷ đồng và lãi sau thuế 108 tỷ đồng. Kết quả này gần gấp đôi kế hoạch lãi 66 tỷ đồng đề ra đầu năm, đồng thời là mức cao nhất trong 6 năm qua.
Kết quả kinh doanh chuyển từ lỗ sang lãi, theo ban lãnh đạo, chủ yếu nhờ hoàn nhập hơn 91 tỷ đồng tiền lãi chậm nộp sau khi tòa án ra phán quyết có lợi cho công ty. Bên cạnh đó, công ty cũng có thu nhập từ sắp xếp lại công nợ trên 10 năm, cắt giảm chi phí không cần thiết và không phải trích lập dự phòng.
Sau khi dứt điểm tồn đọng pháp lý, Thuduc House đã tái khởi động các dự án bất động sản trọng điểm, đồng thời mở rộng sang lĩnh vực phân phối và thực phẩm. Năm nay, công ty đặt mục tiêu doanh thu xấp xỉ 250 tỷ đồng và lãi sau thuế 38 tỷ đồng.
Trong tài liệu họp cổ đông thường niên sắp tới, ban lãnh đạo cho biết kế hoạch thời gian tới là triển khai các dự án và khu đất hiện hữu theo nguyên tắc an toàn. Công ty cũng tính phát triển thêm quỹ đất thương mại dịch vụ quy mô nhỏ, khu công nghiệp và cụm công nghiệp trong 5 năm tới.
Chiều 20/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về phát triển kinh tế - xã hội. ông Phạm Trọng Nhân, Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động TP HCM cho rằng mỗi năm, kinh tế tư nhân đóng góp một nửa vào tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP), hơn 30% ngân sách. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như lượng doanh nghiệp rời thị trường ở mức cao, hay chiếm chưa tới 30% xuất khẩu (phần còn lại thuộc khối FDI).
"Chênh lệch này cho thấy kinh tế tư nhân chủ yếu vẫn hoạt động ở thị trường nội địa, phân khúc giá trị thấp. Những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vai trò dẫn dắt của thành phần này", ông nói.
Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động TP HCM đề xuất cần có luật riêng về đảm bảo phát triển kinh tế tư nhân. Bởi theo ông, kinh tế tư nhân vẫn đang vận hành trong khuôn khổ thể chế chưa tương xứng, gặp khó trong tiếp cận vốn tín dụng.
Đề xuất được ông Nhân đưa ra trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó đặt mục tiêu khu vực này chiếm 70% GDP vào 2030. Thủ tướng cũng cam kết tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Tuy nhiên, theo ông Nhân từ đó đến nay, Quốc hội mới ban hành thêm Nghị quyết 198 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Ông đề nghị luật cho khu vực kinh tế tư nhân cần xác lập các nguyên tắc nền tảng về bảo vệ quyền, bảo đảm sự ổn định và tính dự báo của môi trường pháp lý. Đây cũng là cơ sở để các luật chuyên ngành tham chiếu và thực thi thống nhất, thay vì tạo thêm ưu đãi riêng lẻ.
Ba trụ cột của luật phát triển kinh tế tư nhân, theo ông Nhân, cần tập trung, đó là cần "bình đẳng, thực chất và nhất quán" giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội phát triển từ đất đai, tín dụng, đầu tư và thị trường.
Cùng với đó, luật cũng cần xác lập vùng an toàn pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ quyền tài sản dài hạn theo hướng bảo vệ người thực hiện đúng quy định pháp luật tại thời điểm quyết định. "Quy định này có thể giúp hạn chế tối đa rủi ro phát sinh từ thay đổi chính sách hoặc cách hiểu khác nhau trong thực thi", ông nói thêm.
Ông Trịnh Xuân An, Uỷ viên Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cũng cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, nhưng đang gặp nhiều khó khăn. "Vấn đề sâu xa nhất là thể chế chưa thực sự thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn mạnh", ông An nói.
Theo ông, nhiều doanh nghiệp "không thiếu cơ hội", nhưng gặp khó khăn trong thực hiện thủ tục đầu tư, mở rộng sản xuất, tiếp cận nguồn lực và triển khai dự án. "Một doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro thị trường, nhưng khó yên tâm khi môi trường pháp lý còn tiềm ẩn những yếu tố bất định", ông An cho hay.
Vì vậy, đại biểu đề nghị chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang đồng hành cùng doanh nghiệp. Theo ông, chính sách cần tập trung vào giảm chi phí tuân thủ, rủi ro pháp lý, cũng như thiết kế cơ chế thực chất để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn, đất đai và tham gia sau vào chuỗi giá trị.
Về cải cách thủ tục hành chính, ông gợi ý Chính phủ nên đưa ra những tiêu chí để việc cắt giảm đi vào thực chất, loại bỏ những thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Năm nay, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10%. Vốn là một trong những nguồn lực quan trọng với doanh nghiệp, để thúc đẩy mục tiêu này. Do đó, ông Trịnh Xuân An đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét nới hạn mức tín dụng có chọn lọc, ưu tiên với các nhà băng có chất lượng tài sản, nợ xấu thấp. Việc này nhằm hướng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, thay vì áp dụng chung một mức trần cho toàn hệ thống.
"Tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 15%, rất khó để tạo dư địa tăng trưởng hai chữ số. Dòng vốn không tương xứng, thì mục tiêu tăng trưởng cao sẽ khó đạt", ông chốt lại.
Tại tọa đàm tiết kiệm điện mùa cao điểm ngày 22/6, ông Ngô Sơn Hải, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cho biết mỗi năm hệ thống điện quốc gia cần bổ sung khoảng 4.000-5.000 MW công suất mới để đáp ứng nhu cầu sử dụng.
Ông cho biết để đưa vào vận hành một dự án điện khí hóa lỏng (LNG) hoặc điện gió ngoài khơi quy mô 1.000 MW thường mất 3-4 năm chuẩn bị và xây dựng. Trong khi đó, nếu toàn hệ thống tiết kiệm được khoảng 2% điện năng tiêu thụ thì hiệu quả mang lại tương đương giảm nhu cầu đầu tư khoảng 1.000 MW công suất nguồn mới.
"Tiết kiệm điện là giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và ít tốn kém hơn rất nhiều so với đầu tư nguồn điện mới", ông Hải nói.
Theo lãnh đạo EVN, mỗi kWh điện tiết kiệm được giúp người dân, doanh nghiệp giảm hóa đơn tiền điện, đồng thời góp phần giảm chi phí chung của toàn xã hội. Bởi khi nhu cầu điện tăng cao, hệ thống phải huy động thêm các nguồn điện có giá thành cao hơn để đáp ứng. Việc sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả sẽ giúp hạn chế huy động các nguồn điện đắt đỏ này, qua đó giảm chi phí vận hành toàn hệ thống.
Cùng quan điểm, ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh, cho biết nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), coi tiết kiệm điện là "nguồn điện đầu tiên" (first fuel) bởi đây là giải pháp có chi phí thấp nhất để tăng khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng.
Theo ông Sơn, nhận thức về tiết kiệm điện tại khối doanh nghiệp đã cải thiện đáng kể do gắn trực tiếp với lợi nhuận và chi phí sản xuất. Tuy nhiên, ở khu vực dân cư - nhóm chiếm khoảng 30% tổng nhu cầu điện - ý thức sử dụng điện hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế.
Theo Chỉ thị 10 về tăng cường tiết kiệm điện giai đoạn 2026-2030, cả nước phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 3% điện năng tiêu thụ trong năm 2026, đồng thời giảm ít nhất 3.000 MW công suất phụ tải đỉnh thông qua các chương trình quản lý nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải.
Yêu cầu tiết kiệm năng lượng đặt ra trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện có xu hướng tăng nhanh. Đợt nắng nóng cuối tháng 5 đã đẩy công suất tiêu thụ điện cao nhất lên gần 58.000MW, tăng 5,6% so với kỷ lục năm 2025, trong khi sản lượng điện có ngày vượt 1 tỷ kWh. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, nhu cầu điện dự kiến tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới.
Theo đại diện Bộ Công Thương, một trong những rủi ro lớn nhất hiện nay là các bất ổn địa chính trị tác động trực tiếp tới chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu.
"Khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy, chi phí năng lượng có thể tăng 15-20%, thậm chí cao hơn", ông Dũng nói. Ông dẫn chứng trong giai đoạn căng thẳng tại eo biển Hormuz, giá dầu từng tăng từ khoảng 50-60 USD lên trên 100 USD một thùng, tạo áp lực lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn bộ nền kinh tế.
Việt Nam còn đối mặt áp lực từ các yêu cầu giảm phát thải ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu lớn. Theo ông Dũng, các cơ chế như Thuế biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu hay Thỏa thuận xanh châu Âu (Green Deal) đang buộc hệ thống điện phải giảm dần hệ số phát thải carbon, qua đó đẩy nhanh chuyển dịch sang năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến khó lường, việc dự báo và vận hành hệ thống điện trở nên phức tạp hơn.
Chưa kể, theo lãnh đạo Bộ Công Thương, tiến độ đầu tư các dự án nguồn và lưới điện cũng chịu áp lực từ thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và các vướng mắc trong triển khai.
Trước những thách thức này, ông Dũng cho rằng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những trụ cột bảo đảm an ninh năng lượng, bên cạnh phát triển các nguồn than, dầu khí và năng lượng tái tạo.
Bộ Công Thương cũng đang nghiên cứu các giải pháp tài chính hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, nâng hiệu quả sử dụng năng lượng. Theo ông Dũng, cơ quan này sẽ phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm tạo thêm nguồn lực cho quá trình chuyển đổi xanh.