Vì sao đề xuất tăng mức phạt tù có thời hạn lên 30 năm?

Vì sao đề xuất tăng mức phạt tù có thời hạn lên 30 năm?

Ngày 22.7, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý sửa bộ luật Hình sự và bộ luật Tố tụng hình sự.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Khánh Toàn, Phó viện trưởng Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại TP.HCM, đề xuất sửa đổi điều 38 bộ luật Hình sự theo hướng tăng hình phạt tù có thời hạn từ 3 tháng đến 20 năm lên mức từ 6 tháng đến 30 năm tù.

Theo ông Toàn, thực tiễn xét xử rất ít trường hợp tuyên phạt 3 tháng tù. Việc nâng mức án lên từ 6 tháng để phù hợp thực tế về thời hạn điều tra, thời gian tạm giam và thời hạn truy tố, xét xử. Bởi trong thực tế nhanh nhất cũng phải từ 5 – 6 tháng mới kết thúc xử lý hình sự đối với một vụ án.

Ngoài ra, ông Toàn còn cho rằng việc nâng mức án là để phù hợp với điều 55 bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm nhiều tội là 30 năm tù. Việc này mới đảm bảo với chế định xét giảm án tha tù khi tù chung thân giảm lần đầu xuống còn 30 năm tù.

“Theo tôi, khi nâng mức án như trên sẽ đảm bảo tính công bằng trong quá trình xét giảm tha tù. Bởi trong bối cảnh bỏ bớt hình phạt tử hình đối với nhiều tội, chỉ còn có 4 tội có hình phạt tử hình thì việc tăng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo giáo dục, đảm bảo tính răn đe”, ông Toàn nói.

Tại hội thảo, đại diện Viện KSND TP.HCM, ông Lê Hoàng Dương (Trưởng phòng 7) cũng góp ý nhiều nội dung của dự thảo bộ luật Tố tụng hình sự liên quan thủ tục rút gọn.

Theo đó, cơ quan này thống nhất nội dung dự thảo bổ sung quy định về các điều kiện có thể áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội “đầu thú” (điểm a khoản 1 điều 443) và tội phạm đã thực hiện là “tội phạm nghiêm trọng” (điểm c khoản 1 điều 443).

Quy định này phù hợp chủ trương rút ngắn thời gian giải quyết phần lớn vụ án, giảm chi phí tố tụng.

Vị đại diện Viện KSND TP.HCM cũng thống nhất với dự thảo quy định về việc lập biên bản cam kết tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 2 điều 443.

Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 điều 445 dự thảo quy định: Giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán chủ trì lập biên bản với bị can, bị cáo, người bào chữa, có sự tham gia của kiểm sát viên; người tham gia tố tụng khác tham gia vào việc lập biên bản khi thấy cần thiết.

“Quy định này là chưa phù hợp với nguyên tắc tố tụng hình sự, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KSND là việc đề nghị mức hình phạt, biện pháp tư pháp. Do đó, cần điều chỉnh quy định trên theo hướng: thẩm phán chủ trì, phối hợp với kiểm sát viên”, ông Dương đề nghị.

Theo khoản 6 điều 451 của dự thảo quy định: “Thẩm phán quyết định mức hình phạt theo đề nghị của viện kiểm sát; trường hợp cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn mức viện kiểm sát đề nghị làm thay đổi căn cứ bị cáo đã chấp nhận theo cam kết thì phải nêu rõ lý do trong bản án”.

Đại diện Viện KSND TP.HCM cho rằng quy định trên là chưa phù hợp. Bởi lẽ, giữa bị cáo, người bào chữa đã có sự cam kết tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt theo quy định tại điều 445 bộ luật Tố tụng hình sự nhưng lại quy định thẩm phán có quyền áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn mà chỉ cần ghi lý do trong bản án.

“Việc này có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, tính chất của cam kết tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt”, đại diện Viện KSND TP.HCM nêu.

Do đó, cơ quan này đề nghị điều chỉnh theo hướng phải thực hiện lại thủ tục lập biên bản ghi nhận cam kết tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa. Trường hợp bị cáo, người bào chữa không chấp nhận thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  Giông thổi bay mái nhà, vặn gãy cây ở Hà Nội

Tại khoản 2 điều 453 dự thảo quy định: “Thẩm phán chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị và ra bản án, quyết định trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả tại phiên tòa”.

Theo đại diện Viện KSND TP.HCM, quy định này không thống nhất với quy định chung về “phạm vi xét xử phúc thẩm”. Bởi theo điều 350 bộ luật Tố tụng hình sự: “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị”. Do đó, đề nghị cần điều chỉnh dự thảo quy định tại khoản 2 điều 453 cho phù hợp.

Tin Gốc: Thanh Niên