Nhớ lại những năm 1997, bà ngô Tường Vy – CEO Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu Trái cây Chánh Thu (Chánh Thu Group) – cho biết lúc đó công ty khởi đầu chỉ là một vựa thu mua nhỏ tại Bến Tre. Ban đầu, công ty đưa các lô chôm chôm, nhãn sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch, giá trị mỗi lô chỉ vài trăm triệu đồng.
Và bước ngoặt đến với công ty bà Thu là khi xuất khẩu chuyển dần sang chính ngạch, gắn liền các nghị định thư giữa hai nước. “Quy mô xuất khẩu tăng lên hàng chục lần, thậm chí gần 50 lần so với giai đoạn đầu”, bà Vy nói.
Chánh Thu hiện tăng trưởng hàng năm 30-40%, mặt hàng chủ lực là sầu riêng tươi và mít, xoài đông lạnh. Năm nay, công ty đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 40%, với thuận lợi là Trung Quốc vừa mở cửa thêm cho chanh, bưởi.
Nghị định thư với hai mặt hàng này vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam cùng Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) ký hôm 15/4 tại Bắc Kinh, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
“Mỗi nghị định thư được ký kết đều mở ra cơ hội lớn. Trong đó, bưởi là sản phẩm được đánh giá có tiềm năng cao tại Trung Quốc, khi đã nhận được sự quan tâm từ các hệ thống phân phối lớn ngay từ sớm”, bà Vy nhận định.
Hiện 16 loại nông sản của Việt Nam đã được xuất khẩu chính ngạch, mang về doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm. Vào 2025, người Trung Quốc chi 5,5 tỷ USD để mua rau quả Việt. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả, mục tiêu xuất khẩu rau quả sang nước này vượt 6 tỷ USD năm nay có thể đạt được, nếu các mặt hàng chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.
“Việc bưởi và chanh vừa ký nghị định thư xuất khẩu chính ngạch được xem là bước mở cửa quan trọng, giúp đa dạng hóa danh mục sản phẩm và tạo thêm dư địa tăng trưởng trong thời gian tới”, ông Bình nói thêm.
Không chỉ rau quả, nhiều sản phẩm khác cũng hút hàng. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết Trung Quốc đại lục & Hong Kong là thị trường lớn nhất quý I, kim ngạch 764 triệu USD, tăng 45% so với cùng kỳ.
“Đây không chỉ là mức tăng cao nhất trong các thị trường chủ lực, mà còn là yếu tố quyết định giúp toàn ngành duy trì tăng trưởng dương”, bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký VASEP, nêu. Theo bà, Trung Quốc tiếp tục là động lực chính giai đoạn tới.
Nhận định chung tại hội thảo đầu năm, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, cho rằng xuất khẩu sang Trung Quốc năm nay vẫn có cơ hội tăng trưởng ở mức hai con số, khoảng trên 14%, nếu hai nước tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của nhau.
Triển vọng này phần nào bù đắp nguy cơ suy giảm ở các thị trường khác do biến động thương mại toàn cầu và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15-16%. Năm ngoái, kim ngạch sang Trung Quốc đạt 70,4 tỷ USD, tăng 14,85% so với 2024.
Thập kỷ qua, kim ngạch xuất khẩu đã tăng hơn 4 lần. Đến 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch song phương đạt 256,5 tỷ USD, gấp gần 4 lần năm 2015 (66,17 tỷ USD). Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN.
Theo Bộ Công Thương, thương mại còn nhiều dư địa tăng trưởng, nhờ các thỏa thuận song phương, cũng như FTA gồm Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
Không chỉ tích cực về thương mại, hợp tác đầu tư cũng mở rộng với tốc độ nhanh không kém. Trong 5 năm qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc tăng 3 lần (1,86 tỷ USD năm 2020 lên 5,69 tỷ USD năm 2025). Nước này thành nhà đầu tư lớn thứ hai trong năm ngoái, chiếm 14,8% vốn FDI vào Việt Nam.
Các doanh nghiệp trong ngành logistics cũng thể hiện rõ sự sôi động. Tháng 11/2024, “ông lớn” logistics toàn cầu Maersk đưa vào vận hành kho ngoại quan đầu tiên tại miền Bắc, nhằm tăng năng lực logistics tích hợp hành lang sản xuất thương mại Hà Nội – Hải Phòng, khu vực trọng điểm của doanh nghiệp điện tử và hàng tiêu dùng đến từ Trung Quốc.
“Chúng tôi đang đẩy mạnh năng lực logistics xuyên biên giới thông qua đầu tư vào hạ tầng, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng sản xuất trong khu vực Mekong”, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong, A.P. Moller – Maersk, cho biết.
Các nhà đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam phần lớn trong lĩnh vực sản xuất, chế biến – chế tạo và ngày càng có hàm lượng công nghệ cao. Đến nay, nhiều doanh nghiệp điện tử như Foxconn, Pegatron, Goertek, Compal hay Luxshare-ICT đã đầu tư hàng tỷ USD. Riêng Luxshare-ICT đã đầu tư hơn 1,8 tỷ USD và nhắm đến quy mô doanh số không dưới 10 tỷ USD ở Việt Nam.
Phân tích xu hướng này, các chuyên gia nhận định doanh nghiệp hoạt động tại châu Á ngày càng đẩy mạnh tái cấu trúc mạng lưới sản xuất và logistics sang các mô hình chuỗi cung ứng đa quốc gia và kết nối chặt chẽ trên toàn khu vực.
Với xu hướng này, Việt Nam nổi lên như một trong những điểm đến chiến lược nhất trong cả chuỗi giá trị khu vực lẫn toàn cầu, vượt xa vai trò đơn thuần là bổ trợ trong mô hình China+1, theo Maersk.
Lợi thế địa lý gần Trung Quốc đang thúc đẩy mô hình sản xuất song phương (dual-country production) tại Việt Nam. Đồng thời, thị trường Mekong, bao gồm Việt Nam, cũng nổi lên như trung tâm tiêu dùng mới cho hàng hóa nước này.
“Trong làn sóng chuyển dịch, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng mang tính chiến lược hơn”, Maersk nhận định. Công ty cũng cho rằng sự bổ trợ giữa hai nền kinh tế đang thúc đẩy phát triển các hệ sinh thái chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Phát biểu ở hội thảo ngày 15/4, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Sơn Đông tại Việt Nam, xác nhận Việt Nam ngày càng thu hút quan tâm của doanh nghiệp sản xuất Trung Quốc, bởi điều kiện thuận lợi để kết nối, vươn ra ASEAN và toàn cầu.
Chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt dần tìm thấy cơ hội đầu tư bên cạnh giao thương. Tính đến 2024, đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Trung Quốc đại lục và Hong Kong đạt 95,6 triệu USD, với 76 dự án còn hiệu lực, theo Cục Thống kê.
Đơn cử, Trung Nguyên Legend cho biết đã có 15 nhà nhập khẩu, 300 nhà phân phối thứ cấp, 30.000 điểm bán trên kênh offline (bao gồm các đại siêu thị), hàng vạn cửa hàng trên kênh online như JD, Amazon, Taobao, Tmall, Century Mart… và trên 15 triệu người dùng cà phê G7 thường xuyên tại Trung Quốc.
“Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, không chỉ ở vai trò cung ứng nguyên liệu, mà khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị từ sản phẩm chế biến, thương hiệu đến không gian trải nghiệm”, tập đoàn này nhận định. Trung Nguyên Legend xúc tiến phát triển gần 130 quán trong năm 2026, mở đầu cho kế hoạch dài hạn 1.000 quán tại Trung Quốc.
Còn nhiều triển vọng hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn tới. Tại cuộc hội kiến Thủ tướng Lý Cường chiều 15/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc xác lập tầm cao mới cho hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch, tăng cường hợp tác thương mại cân bằng, bền vững hơn; thúc đẩy liên kết kinh tế, tạo đột phá về kết nối hạ tầng chiến lược, dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác đường sắt, đẩy mạnh kết nối với Trung Á và châu Âu.
Lãnh đạo hai nước cũng thống nhất tạo điều kiện để Việt Nam tham gia chuỗi hoạt động “Chia sẻ thị trường lớn – Xuất khẩu Trung Quốc”, mở cửa cho hàng nông thủy sản và chăn nuôi Việt Nam, thúc đẩy hợp tác đầu tư chất lượng cao, hợp tác khoa học công nghệ, tài chính, nông nghiệp, môi trường…
Trong tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc được công bố hôm 17/4, sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cũng khẳng định hai nước tiếp tục làm sâu sắc quan hệ, thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác.
Trong đó, về kinh tế, Việt – Trung nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường. Hai bên cũng thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực tài chính, các lĩnh vực công nghệ và năng lượng như AI, bán dẫn, 5G, dữ liệu lớn và liên kết lưới điện qua biên giới…
Trung Quốc hoan nghênh Việt Nam tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu tại nước này. Đồng thời, Trung Quốc cam kết tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường tỷ dân này.
Với Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình, Trung Quốc vẫn là thị trường “bao la”. Khi láng giềng phát tín hiệu tăng mua, ông cho rằng cần nắm bắt cơ hội, tiếp cận bài bản và khôn ngoan hơn, thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
“Doanh nghiệp phải đầu tư đúng mức để nâng giá trị gia tăng, đồng thời xây dựng chuỗi sản xuất khép kín, từ chọn giống, canh tác đến đóng gói, logistics theo hướng chuyên nghiệp”, ông khuyến nghị.
CEO Chánh Thu Ngô Tường Vy đồng quan điểm, thừa nhận thị trường Trung Quốc khắt khe dần. Các yêu cầu về chất lượng, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ. “Trung Quốc không còn là thị trường dễ tính. Muốn tồn tại và phát triển phải đi từ chất lượng và thích nghi với thị hiếu tiêu dùng”, bà nói.
Sau một tháng bộ máy mới vận hành, Chính phủ đã cắt giảm 52% điều kiện kinh doanh - điều chưa từng có tiền lệ. VnExpress phỏng vấn TS Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright về những ưu tiên chính sách cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) và thách thức trong điều hành của Chính phủ.
- Trong khoảng một tháng, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết cắt giảm ĐKKD. Theo ông, đợt cải cách lần này có điểm gì khác biệt so với trước?
- Có 4 điểm khác biệt lớn ở đợt cắt giảm ĐKKD lần này. Đầu tiên, cải cách diễn ra một cách đồng bộ, từ ngành nghề, giấy phép đến điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính, đồng thời gắn với chủ trương phân cấp, phân quyền. Nhờ đó, chính quyền địa phương tăng tính chủ động, đưa thẩm quyền quyết định đến gần người dân, doanh nghiệp hơn.
Cải cách lần này còn chuyển từ "phòng thủ" sang "tấn công". Trước đây, cắt giảm ĐKKD mang tính thụ động, nhằm cải thiện xếp hạng môi trường đầu tư kinh doanh. Lần này là chiến lược chủ động để giải phóng nguồn lực, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Các chỉ tiêu định lượng cắt giảm được đưa ra rất mạnh. Ví dụ, giảm tối thiểu 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 50% chi phí và thời gian tuân thủ, cấp bộ chỉ trực tiếp xử lý không quá 30% thủ tục thuộc lĩnh vực quản lý. Cuối cùng, Chính phủ đã đi thẳng, chỉ đích danh vào những nút thắt lâu nay như phòng cháy chữa cháy, đánh giá tác động môi trường... chứ không nêu chung chung.
Sự chuyển dịch lần này mang tính bước ngoặt, từ cắt giảm ĐKKD "đúng quy trình" sang "đúng trên thực địa", có hiệu lực trong cuộc sống. Nói cách khác, tiêu chí thành công không phải là đã ban hành bao nhiêu nghị quyết, mà doanh nghiệp có thực sự giảm được thời gian, chi phí, rủi ro hay không.
Yếu tố tạo ra quyết tâm chính trị mạnh mẽ lần này là sự kết hợp giữa ba áp lực: mục tiêu tăng trưởng rất cao, yêu cầu khơi thông nguồn lực xã hội, nhất là khu vực tư nhân, và nhu cầu củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào Chính phủ mới.
- Ông gọi đây là một cuộc cải cách mang tính bước ngoặt. Theo ông, đâu là những thay đổi quan trọng nhất trong tư duy quản lý?
- Điểm dịch chuyển tư duy quan trọng nhất là lần này Chính phủ không chạy theo các con số hình thức, mà đi thẳng vào giảm bớt thời gian và chi phí tuân thủ. Tức là, nhà điều hành đã chuyển từ những chỉ tiêu "dễ bị làm đẹp" sang thực chất, tác động trực tiếp đến hoạt động và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chính phủ đang thay đổi cách tiếp cận quản lý, từ tư duy "cho - cấp phép", sang tinh thần "doanh nghiệp được quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm" nêu tại Luật Doanh nghiệp 1999, và Nhà nước chỉ quản lý bằng tiêu chuẩn, dữ liệu, hậu kiểm. Lần này Chính phủ nỗ lực hiện thực hóa những điều tuyên bố từ lâu mà chưa làm được.
- Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn đến 2030. Mục tiêu này có ý nghĩa thế nào với quyết tâm cải cách của Chính phủ, thưa ông?
- Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số tạo ra động lực chính trị ban đầu rất lớn, nhưng chỉ riêng áp lực này thôi sẽ không đủ để duy trì quá trình cải cách bền vững. Bởi lẽ, áp lực này sẽ biến thiên theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế bên ngoài và ổn định vĩ mô bên trong.
Thực tế, kỷ luật thực thi mới là yếu tố quyết định then chốt. Bản thân các nghị quyết, dù tốt đến đâu, cũng không thể tự động thay đổi được động cơ, áp lực hay chế tài với những người trực tiếp xử lý hồ sơ, đặc biệt khi chính sách được đẩy xuống cấp địa phương. Chưa kể, nguy cơ điều kiện kinh doanh có thể bị cắt giảm về hình thức ở cấp này, nhưng lại được tái tạo dưới các dạng thức khác.
Để dòng chảy cải cách không bị nghẽn, cần biến áp lực tăng trưởng thành kỷ luật thực thi thường xuyên qua đo lường chi phí thực tế của doanh nghiệp. Kết quả cải cách của từng bộ, ngành, địa phương cần được công khai và xử lý nghiêm hiện tượng cắt giảm hình thức, biến tướng.
- Sau khi các nghị quyết được ban hành, yếu tố nào sẽ quyết định cuộc cải cách này đi vào thực chất hay không, thưa ông?
- Về tư duy chính sách, định hướng phân cấp tối đa, đưa thẩm quyền giải quyết thủ tục từ Trung ương về địa phương là hoàn toàn đúng đắn. Việc này nhằm giảm tải cho các bộ, và tăng chủ động với địa phương.
Tuy nhiên, khảo sát của chúng tôi tại địa phương cho thấy 3 nút thắt lớn, gồm năng lực cán bộ, cơ sở hạ tầng hạn chế và tâm lý níu giữ quyền lực của cấp sở ngành. Khi áp lực dồn từ trên xuống nhưng cấp cơ sở chưa sẵn sàng, dòng chảy cải cách rất dễ bị nghẽn.
Đơn cử, khi chúng tôi khảo sát trung tâm hành chính công của một phường tại TP HCM cách đây không lâu, cán bộ ở đó phản ánh rằng họ phải vận hành cùng lúc 8 nền tảng công nghệ khác nhau do 8 bộ, ngành đưa xuống. Do các hệ thống này thiếu liên thông, nên một việc đơn giản như thống kê số hồ sơ quá hạn hoặc sắp quá hạn của từng lĩnh vực, rồi chuyển thông tin đến các công chức phụ trách theo dõi, xử lý cũng mất thời gian đáng kể. Vì thế, nếu thiết kế và thực thi không đúng, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, người dân có nguy cơ tăng do "số hóa quan liêu".
Mặt khác, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoàn toàn có thể bị thiết kế quá mức cần thiết, hoặc địa phương tự ý đưa ra yêu cầu, hồ sơ riêng. Đây chính là lý do vì sao tôi nhấn mạnh các quy trình cần được chuẩn hóa ngay từ cấp bộ, không cho phép địa phương tự ý thêm bất kỳ giấy tờ nào ngoài danh mục. Bởi sự tự phát này rất dễ dẫn đến tình trạng "phố thông, nhưng ngõ ngách lại tắc". Nếu không xử lý khéo khâu thực thi ở cơ sở, dòng chảy cải cách từ cấp bộ xuống địa phương có nguy cơ làm tăng chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, những cụm từ như "giấy xác nhận", "ý kiến chấp thuận", "văn bản phê duyệt"... có thể là biến thể của giấy phép con. Hậu kiểm bắt buộc phải có quy tắc, quy chuẩn minh bạch để khâu này không trở thành rào cản mới của doanh nghiệp.
- Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp giám sát độc lập và lập đề án chấm điểm các bộ, ngành trong cắt giảm ĐKKD. Ông đánh giá ra sao về cơ chế này?
- Việc giao quyền cho Bộ Tư pháp làm cơ quan độc lập giám sát các bộ, ngành khác chứng tỏ Chính phủ đã nhìn ra điểm nghẽn trong thực thi của giai đoạn trước. Điều này gợi nhắc kinh nghiệm thành công của những năm 2000 dưới thời Thủ tướng Phan Văn Khải, khi chúng ta có một Tổ giám sát thi hành Luật Doanh nghiệp hoạt động cực kỳ hiệu quả.
Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu áp lực giám sát chỉ dừng lại ở các cơ quan hành chính với nhau. Đo lường cải cách bằng các giải pháp thuần túy hành chính rất dễ rơi vào bẫy "làm đẹp số liệu".
TS Nguyễn Đình Cung từng kể, trước đây khi làn sóng cắt giảm giấy phép con dâng cao, các bên liên quan đã gắn ba chữ "đơn giản hóa" vào cụm "cắt giảm ĐKKD". Nghe thì rất hay, nhưng ba chữ này đã không thể hiện được tinh thần cải cách. Thay vì xóa bỏ, họ chỉ cần sửa vài chữ, giữ lại nguyên vẹn khung quản lý, tạo ra dư địa tùy nghi diễn giải ở cấp dưới. Đó chính là cửa ngõ của nhũng nhiễu, tham nhũng.
Bên cạnh đó, việc đánh giá tác động chính sách đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, điều mà một cơ quan pháp lý thuần túy như Bộ Tư pháp khó có thể bao quát toàn diện. Nguồn thông tin phản hồi xác thực nhất sẽ đến từ bản thân các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, tổ chức đại diện cho doanh nghiệp như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Để việc giám sát là thực chất, hệ thống đánh giá phải mở ra cho những bên có lợi ích liên đới trực tiếp. Bộ Tư pháp cần có cơ chế liên kết, tích hợp dữ liệu từ các thiết chế độc lập này để hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá của mình. Nếu không có tiếng nói và sự giám sát của cộng đồng này, cải cách có thể rơi vào kịch bản cũ, đó là hoàn thành chỉ tiêu trên báo cáo, nhưng doanh nghiệp vẫn "kêu trời".
- Để tránh việc kết quả chỉ dừng lại trên giấy, theo ông cần thêm giải pháp căn cơ nào nhằm đưa dòng chảy cải cách đến thành công?
- Thực tế, các cách như siết KPI hay tinh giản biên chế thuần túy thường khó mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Vì vậy, bên cạnh những chỉ tiêu này, Chính phủ có thể cân nhắc một số giải pháp sau.
Thứ nhất, thu thập số liệu phải là ưu tiên hàng đầu. Cơ quan quản lý cần tổ chức khảo sát nhanh hàng tháng với các doanh nghiệp trực tiếp làm thủ tục, và tránh phụ thuộc vào số liệu báo cáo thành tích trên giấy của các đơn vị. Điều này hoàn toàn đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng, là chuyển từ đúng trên giấy tờ sang đúng trong cuộc sống.
Đo lường phải bằng những số liệu rất cụ thể trên thực địa. Ví dụ, một thủ tục hành chính, thời gian người dân, doanh nghiệp phải đi lại bao lâu, mất mấy lần và tốn bao nhiêu tiền?
Thứ hai, công khai số liệu thực thi của các sở, ngành, địa phương để tạo áp lực dư luận. Khi con số được đưa ra rõ ràng, các địa phương sẽ nhìn nhau, từ đó tạo ra áp lực thi đua và giám sát lẫn nhau rất lớn.
Thứ ba, thiết lập bộ lọc tự động ngăn chặn tái diễn "giấy phép con". Phải xây dựng cơ chế kiểm tra, thanh tra đánh giá kết hợp với các biện pháp khảo sát để giám sát chặt chẽ tình trạng biến tướng của ĐKKD.
Thứ tư, chuẩn hóa quy trình khi phân cấp. Tức là, cấp dưới chịu trách nhiệm thực thi trực tiếp, nhưng cấp trên cần đưa ra hệ thống, biểu mẫu thống nhất và thực hiện đánh giá thống kê. Biện pháp này nhằm kiểm soát, không để các địa phương biến quyền lực được phân cấp thành sự diễn giải riêng hoặc tự ý cài cắm lợi ích cục bộ vào quy trình.
Thứ năm, cơ chế hậu kiểm phải tương ứng với mức độ rủi ro, và việc đánh giá phải dựa hoàn toàn vào dữ liệu.
Cuối cùng, tôi cho rằng nên có một tổ giám sát thực thi đủ mạnh, là sự liên kết chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp, các hiệp hội doanh nghiệp và VCCI. Đây sẽ là tổ có thực quyền vì hoạt động dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, đồng thời nắm thông tin thực tế và có động cơ cải cách mạnh mẽ nhất nhờ sự tham gia trực tiếp của cộng đồng doanh nghiệp. Thành công của giai đoạn cải cách đầu thập niên 2000 có đóng góp quan trọng từ một tổ giám sát thực quyền như vậy.
Ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội, đã gợi ý như vậy tại hội thảo "Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp - Từ công nghệ đến thị trường" do báo Tuổi Trẻ, UBND TP Cần Thơ và Đại học Cần Thơ phối hợp tổ chức chiều 29-5.
Theo ông Hoan, có sản phẩm xanh nhưng người tiêu dùng phải phân biệt được sản phẩm xanh mới tạo ra được thị trường xanh, thu hút được doanh nghiệp tham gia sản xuất xanh.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Công Lý - Phó chủ tịch thường trực UBND TP Cần Thơ - cho rằng Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước những thách thức chưa từng có: biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan; xâm nhập mặn, sạt lở, hạn hán diễn biến phức tạp; chi phí sản xuất tăng cao; yêu cầu của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe hơn.
Trong khi đó, các thị trường lớn không chỉ quan tâm sản phẩm có ngon hay không mà còn hỏi sản phẩm này phát thải bao nhiêu, có truy xuất được nguồn gốc không, có thân thiện với môi trường không, có bảo vệ sức khỏe cộng đồng không? Điều đó cho thấy chuyển đổi xanh không còn là xu hướng lựa chọn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tồn tại và cạnh tranh.
Tuy nhiên, muốn chuyển đổi xanh thành công phải xây dựng được hệ sinh thái liên kết bền vững giữa "4 nhà". Trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, nhà khoa học cung cấp tri thức và công nghệ, nhà doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và nhà nông là trung tâm của quá trình chuyển đổi. Nếu thiếu một mắt xích, chuỗi giá trị xanh sẽ không thể hình thành trọn vẹn.
"Trước đây chúng ta chủ yếu quan tâm sản xuất được bao nhiêu. Nhưng hôm nay chúng ta phải quan tâm làm sao để người nông dân có thu nhập tốt hơn, làm sao để nông sản đi xa hơn, làm sao để hạt gạo, con cá, trái cây của Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là hàng hóa mà trở thành thương hiệu có giá trị toàn cầu", ông Lý nói
Nhà báo Trần Xuân Toàn, Phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, cũng cho rằng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với những thay đổi do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng không nhỏ đến canh tác, nuôi trồng, chế biến trong nông nghiệp. Ngoài ra, sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường buộc phải có những thay đổi để thích ứng. Điều này buộc phải có những tính toán sao cho phù hợp trong giai đoạn mới hiện nay.
Trong khi đó, theo TS Trần Hữu Hiệp - chuyên gia kinh tế, Đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế nổi trội là vùng sinh thái nông nghiệp đặc thù gắn với năng lực chuyển đổi xanh rất tốt so với các vùng miền khác; người nông dân tiếp cận khoa học công nghệ nhanh; doanh nghiệp trong vùng dẫn dắt tốt.
Do vậy, theo ông Hiệp, cần tập trung giải quyết hài hòa công nghệ và thị trường. Công nghệ (trí tuệ nhân tạo, IOT, công nghệ phục vụ kinh tế tầm thấp...) tạo ra giá trị, đang được ứng dụng tốt nhưng phải tăng tốc, đặc biệt là chọn công nghệ lõi để tăng tốc. Nhưng phát triển công nghệ phải chú ý tới vấn đề thị trường, đầu ra cho sản phẩm.
"Ngoài ra cần xây dựng sự chia sẻ giữa nhà đầu tư, doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã và người tiêu dùng theo hướng cùng đầu tư, cùng chia sẻ lợi ích chứ không chỉ là đối tác với nhau theo quan hệ mua - bán", ông Hiệp nói.
Cũng tại hội thảo, ông Vũ Ngọc Đỉnh - Tổng giám đốc Techpal Group - cho biết doanh nghiệp này đang đầu tư tám tổ hợp nông nghiệp công nghệ cao và tất cả các tổ hợp đều có sự tham gia của khoa học công nghệ trong đầu tư thiết bị, giải pháp và đặc biệt là ở quy trình mới để tối ưu về sử dụng sinh hóa phẩm, tối ưu quy trình sản xuất để tạo ra sản phẩm đạt chuẩn quốc tế.
"Chúng tôi đang đề xuất liên kết các đối tác, trong đó có Đại học Cần Thơ và Hội Tự động hóa Việt Nam để triển khai mô hình nuôi gà không kháng sinh, mang lại thay đổi trong quá trình chăn nuôi. Chúng tôi muốn thay đổi, tạo ra chất lượng cao hơn, thương hiệu tốt hơn đáp ứng nhu cầu hiện nay và tạo ra sản phẩm đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng", ông Đỉnh nói.
Bà Lê Mỹ Hạnh, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ, khẳng định thời gian qua sở đồng hành với các viện, trường, doanh nghiệp, hợp tác xã, thậm chí hộ sản xuất cá thể để đưa khoa học công nghệ đến và kết nối giữa các chuyên gia, nhà khoa học cùng doanh nghiệp trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
"Chúng tôi có đặt hàng trực tiếp với Techpal cho sản xuất sản phẩm làm sao đưa kháng sinh về mức không có nguy hại cho sức khỏe con người. Chúng tôi cũng đặt hàng, kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp và đồng hành để làm sao kết quả cuối cùng là nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa, gia tăng giá trị nông sản và mục tiêu cuối cùng là đảm bảo sức khỏe cho mọi người", bà Hạnh nói.
TS Lê Văn Lâm, Phó hiệu trưởng Đại học Cần Thơ, cho biết "rất thích" mô hình 4 nhà. Chia sẻ mô hình thành công ở một số quốc gia, ông Lâm cho rằng chính quyền đặt hàng viện, trường từ nhu cầu của địa phương, viện, trường có giải pháp thì mời doanh nghiệp tham gia. Từ đó cộng đồng tham gia chuỗi cung ứng hoặc thụ hưởng giải pháp đó, "mô hình này hết sức bền vững".
Theo ông Lâm, Cần Thơ cũng có thể làm theo mô hình của Nhật là đến ngay các xã để thành lập các phòng thí nghiệm rồi mời nhà khoa học tại các trường đại học đến đó cùng nông dân để cùng nghiên cứu sản phẩm mới. "Chỉ có như vậy mối quan hệ nông dân, nhà khoa học và chính quyền mới thể hiện rõ", ông Lâm nói.
Nhận định được các chuyên gia nêu tại "Diễn đàn Nông nghiệp 2026: Kiến tạo không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp Việt Nam" do VCCI và Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức tại TP HCM chiều 16/7.
Ông Trần Ngọc Liêm, Phó tổng thư ký, Giám đốc Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại khu vực TP HCM, dẫn số liệu Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết hiện có hơn 50.000 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.
Tổng cộng chỉ 1-2% trong gần một triệu doanh nghiệp Việt Nam đang tham gia vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp. "Đây là con số khiêm tốn dù nông nghiệp luôn là ngành kinh tế có vai trò "trụ đỡ'", ông nhận định.
Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa rộng rãi. Cả nước có dưới 300 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tức chưa tới 3%. Số lượng được công nhận là "doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao" chưa đầy 50.
Bà Lê Thị Ánh Tuyết, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Đồng Nai, dẫn chứng địa phương quy tụ trên 300 doanh nghiệp nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao nhưng chưa có đơn vị được nhà nước công nhận.
Về quy mô, TS Phạm Viết Thuận, Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP HCM, cho biết hầu hết các doanh nghiệp dẫn đầu trong hoạt động thu mua, xuất khẩu nông nghiệp là công ty nước ngoài. "Do đó, cần thêm những tập đoàn nội địa đủ lớn để giữ vai trò này trong tương lai", ông nói.
Chuyên gia chỉ ra loạt nguyên nhân doanh nghiệp nông nghiệp chưa nhiều và chưa mạnh. Ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, lý giải doanh nghiệp lớn đầu tư còn ít, do gặp khó về đất và vốn. "Có doanh nghiệp đủ khả năng đầu tư trồng hàng nghìn ha chuối xuất khẩu mà không có đất", ông kể.
Theo ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty Đầu tư thủy sản Nam Miền Trung, tích tụ ruộng đất là giấc mơ của các doanh nghiệp trong ngành nhưng khó thành. "Sang Lào tìm hiểu, chúng tôi biết muốn thuê hàng chục nghìn ha cũng có nhưng ở Việt Nam giờ tìm 1.000 ha canh tác rất khó", ông kể.
TS Phạm Viết Thuận nhận định Luật Đất đai đã mở đường cho tích tụ ruộng đất, nhưng thực tế triển khai còn trở ngại. Doanh nghiệp muốn phát triển mô hình nông nghiệp trên đất lúa đang đối mặt với quy trình đăng ký phức tạp tại cấp xã.
Ông Ngô Xuân Chinh đề xuất mô hình thành lập ngân hàng đất đai, nơi nhà nước đứng ra thuê đất, tích tụ lại rồi cho doanh nghiệp thuê.
Song song là bài toán tiếp cận vốn. Đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 11% tổng dư nợ tín dụng, thấp hơn nhiều so với lĩnh vực bất động sản. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu tài sản đảm bảo và các rào cản trong tiếp cận vốn.
TS Phạm Viết Thuận chỉ ra bất hợp lý trong cách định giá tài sản của ngân hàng. Hiện đất nông nghiệp tại TP HCM được ấn định giá khoảng 450.000 đồng mỗi m² và hệ thống hạ tầng trên đó như chuồng trại thường bị ngân hàng xem là "tiêu sản" và ép giá khi định giá tài sản thế chấp.
"Hệ quả là một trang trại quy mô 14 ha với hệ thống chăn nuôi heo hiện đại cũng chỉ có thể vay được khoảng 2 tỷ đồng", ông Thuận kể. Vì vậy, chuyên gia cho rằng cần có cơ chế bảo lãnh của nhà nước để nhà băng mạnh dạn chuyển đổi cho vay từ tài sản thế chấp truyền thống sang cho vay theo dòng tiền và chuỗi giá trị.
Theo ông Trần Ngọc Liêm, cần thêm các gói tín dụng ưu đãi để người làm nông nghiệp có vốn đầu tư vào vùng nguyên liệu. Đặc biệt, khuyến khích mô hình hợp tác công tư (PPP), nhằm tăng liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân.
Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Đồng Nai Lê Thị Ánh Tuyết, cho biết việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp đã có Nghị định 57, nhưng áp dụng vào thực tiễn còn ít đơn vị nhận được hỗ trợ.
"Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang có rà soát để điều chỉnh, hy vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn thời gian tới", bà cho biết.
Ngoài đất và vốn, doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp cũng gặp trở ngại về hạ tầng logisitcs yếu kém tại các vùng sâu, vùng xa, khiến chi phí vận tải đội lên cao. Lực lượng lao động của ngành này cũng ngày càng khan hiếm.
TS. Trần Đình Lý, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP HCM, cho biết lao động trực tiếp ngày càng già hóa do người trẻ có xu hướng dịch chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ tại các đô thị lớn. "Nông nghiệp thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng kế thừa có tri thức", ông nói.
Theo ông, cần mở rộng cơ chế đặt hàng đào tạo từ các địa phương và doanh nghiệp với trường đại học. Khuyến khích doanh nghiệp lập các quỹ học bổng, quỹ thực tập và đồng đầu tư cho nhân lực. Cùng với đó, cần cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học và kiều bào tham gia đào tạo, phát triển nông nghiệp vùng.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 70 tỷ USD. Nửa đầu 2025, xuất khẩu nhóm ngành này tiếp tục tăng 6%, đạt 35,88 tỷ USD. Chính phủ đang đặt mục tiêu kim ngạch cán mốc 100 tỷ USD vào 2027.
Xuất khẩu tăng trưởng nhưng đóng góp của nông nghiệp ngày càng thu hẹp. TS Thuận chỉ ra tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc nội giảm từ 12,34% vào 2024 còn 11,2% năm 2025 và dự kiến về khoảng 10,38% năm nay. Theo ông, để đảo ngược xu hướng, cần cấp thiết kiến tạo một không gian phát triển mới dựa trên tư duy kinh tế nông nghiệp thay vì tư duy sản lượng thuần túy.