TAND TP Đà Nẵng vừa có bản án dân sự phúc thẩm tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa nguyên đơn là ông H.T.T. (57 tuổi, trú Đà Nẵng), và bị đơn là Tổng công ty cổ phần B. (TP.HCM).
Theo trình bày của nguyên đơn, ông T. là chủ sở hữu tàu cá QNa 90187. Ngày 17-1-2024, ông T. có mua bảo hiểm của Tổng công ty cổ phần B. cho tàu cá với giá trị trách nhiệm bảo hiểm thân tàu là hơn 2,2 tỉ đồng. Khi mua bảo hiểm, ông T. không được nhân viên bán bảo hiểm giải thích về quyền lợi của người mua cũng như các quy tắc loại trừ bảo hiểm.
Ông T. cùng các thuyền viên xuất bến để hành nghề lưới rê. Khoảng 23h30 ngày 1-4-2024, thuyền trưởng cho tàu di chuyển, bất ngờ có sóng lớn vỗ vào tàu. Lúc này gió khoảng cấp 6, thuyền trưởng cho một thuyền viên cầm lái, còn mình đi kiểm tra và phát hiện nước vào mạn trái, ở gần khoang mũi có vết thủng. Thuyền trưởng đã cho dùng bơm để hút nước ra ngoài.
Khi thấy ánh điện của tàu khác, tàu QNa 90187 đã di chuyển đến gần, đồng thời thuyền trưởng dùng máy bấm nút “SOS” và gọi điện về cho người thân báo cơ quan chức năng hỗ trợ. Thuyền viên đã quăng dây cố định tàu.
Cùng lúc đó, thuyền viên tàu QB 91449 đã đem các bơm để hút nước trong tàu QNa 90187, nhưng nước càng lúc càng nhanh và mạnh, các thuyền viên vẫn tiếp tục dùng bơm hút nước ra ngoài nhưng không thành công.
Thuyền trưởng cùng các thuyền viên hai tàu thấy không thể cứu tàu và để đảm bảo an toàn nên đã rời qua tàu QB 91449, còn tàu QNa 90187 chìm dần. Sau đó, tàu QB 91449 đưa các thuyền viên cùng thuyền trưởng tàu gặp nạn sang một tàu khác để đi nhờ vào đất liền. Khi về đến bờ, ông H.T.T. đã thông báo cho Tổng công ty cổ phần B. để yêu cầu chi trả tiền bảo hiểm đối với tàu cá QNa 90187 theo hợp đồng đã ký.
Tuy nhiên, Tổng công ty cổ phần B. từ chối chi trả tiền bảo hiểm vì cho rằng sự kiện chìm tàu cá trên không thuộc trường hợp được bảo hiểm do định biên thuyền viên không đủ người và văn bằng chứng chỉ chuyên môn của thuyền trưởng, thuyền viên không phù hợp.
Ông T. cho rằng lý do của Công ty B. đưa ra là không có cơ sở, vì sự cố xảy ra do thời tiết xấu bất thường là nguyên nhân bất khả kháng trực tiếp gây nên thiệt hại tài sản.
Thời điểm tàu đánh bắt tại tọa độ có sóng lớn, gió mạnh đập vào mạn trái gây ra vết thủng dài 50cm và rộng 2cm, khiến nước tràn vào tàu nhanh.
Ngay khi phát hiện sự cố, ông T. và thuyền viên đã thực hiện mọi biện pháp để khắc phục sự cố, lái tàu về phía tàu QB 91449 để nhờ ứng cứu (tất cả thuyền viên hai tàu đã cùng nhau hiệp lực để cứu tàu), gọi SOS… Và ông T. có chứng chỉ thuyền trưởng hạng IV.
Vì vậy, ông T. đề nghị tòa buộc Tổng công ty cổ phần B. chi trả cho ông số tiền hơn 1,7 tỉ đồng và tiền lãi.
Phía bị đơn cho rằng nguyên đơn để máy trưởng và một thuyền viên về bờ (vì giảm chi phí và bị bệnh) mà không có phương án bố trí máy trưởng với thuyền viên thay thế để vận hành trang thiết bị máy móc trong quá trình khai thác hải sản, dẫn đến tình trạng tàu không có máy trưởng, thiếu thuyền viên.
Điều này vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về duy trì điều kiện khai thác thủy sản và về đảm bảo định biên an toàn tối thiểu…. Vì vậy, Tổng công ty B. không có trách nhiệm bồi thường vụ chìm tàu cá QNa 90187 nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.T.T. về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm với Tổng công ty cổ phần B.
Buộc Tổng công ty cổ phần B. phải trả tiền bảo hiểm cho ông T. số tiền 2.015.520.000 đồng, gồm tiền bảo hiểm do tổn thất toàn bộ của tàu cá QNa 90187 là 1.768.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả của tiền bảo hiểm tính từ ngày 3-5-2024 đến ngày 27-9-2025 là 247.520.000 đồng.
Sau đó, Tổng công ty cổ phần B. đã kháng cáo. Tòa phúc thẩm đã bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ngày 21/5, Tòa án nhân dân TP Hà Nội bước sang ngày xét xử thứ hai vụ án sai phạm tại dự án Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2. Vụ án được xác định gây thiệt hại 803 tỷ đồng cho Nhà nước sau hơn 10 năm đình trệ.
Bộ Y tế đề nghị hoàn trả gần 658 tỷ đồng thiệt hại
Có mặt tại tòa với tư cách nguyên đơn dân sự, đại diện Bộ Y tế bày tỏ “rất đau xót” khi chứng kiến nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ ngành y tế đứng trước tòa.
Theo đại diện Bộ Y tế, điều đáng tiếc hơn cả là sau một thập kỷ triển khai, hai dự án bệnh viện quy mô lớn vẫn chưa thể đưa vào sử dụng để phục vụ người dân, gây lãng phí đặc biệt nghiêm trọng.
Đại diện Bộ cho biết để đưa hai dự án vào vận hành cần đồng thời hoàn thiện các hạng mục xây dựng, mua sắm thiết bị và tổ chức bộ máy vận hành bệnh viện.
Tại phiên tòa, Bộ Y tế cũng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho toàn bộ các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, Bộ Y tế đề nghị được hoàn trả hai khoản thiệt hại gồm hơn 70 tỷ đồng thất thoát do sai phạm trong việc lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế và 588 tỷ đồng được xác định là lãng phí từ khoản vốn hơn 5.000 tỷ đồng đã giải ngân nhưng dự án đình trệ nhiều năm. Tổng số tiền Bộ Y tế đề nghị hoàn trả khoảng 658 tỷ đồng.
Khoản còn lại khoảng 145 tỷ đồng được cơ quan tố tụng xác định là phần lãi suất ngân hàng bị thâm hụt khi Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) phải rút khoảng 4.500 tỷ đồng từ các hợp đồng tiền gửi để cấp vốn cho dự án, trong khi Ban Quản lý dự án chưa sử dụng hết nguồn vốn này.
Đại diện Bộ Y tế cho biết SCIC hiện thuộc quản lý của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, phía Bộ chưa nêu quan điểm chính thức về việc có yêu cầu hoàn trả khoản 145 tỷ đồng hay không và xin thêm thời gian để báo cáo lãnh đạo trước khi đưa ra ý kiến cụ thể.
Tranh luận cách tính khoản lãng phí 733 tỷ đồng
Trong phần trình bày tại tòa, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đề nghị HĐXX làm rõ cách xác định hai khoản lãng phí 145 tỷ đồng và 588 tỷ đồng.
Theo cáo buộc, hai khoản này được tính từ việc SCIC cấp khoảng 4.500 tỷ đồng nhưng không sử dụng hết, cùng với hơn 5.000 tỷ đồng vốn ngân sách đã giải ngân cho dự án nhưng không phát huy hiệu quả do công trình đình trệ kéo dài.
Đối với khoản 588 tỷ đồng, cựu Bộ trưởng Kim Tiến cho rằng trong giai đoạn dịch Covid-19 năm 2021, trong ít nhất 5 tháng, một phần dự án đã được trưng dụng làm cơ sở cách ly, điều trị của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở 2.
Theo bà Tiến, dự án đã được sử dụng trên thực tế nên phần giá trị này cần được khấu trừ khi xác định thiệt hại.
Bị cáo ước tính số tiền cần xem xét giảm trừ khoảng 50 tỷ đồng. Với khoản 145 tỷ đồng liên quan nguồn vốn của SCIC, cựu Bộ trưởng cho biết từ năm 2021 đến 2024, Ban Quản lý dự án không sử dụng nên đã hoàn trả lại cho SCIC (đơn vị thuộc quản lý của Bộ Tài chính).
Do đó, bị cáo đề nghị làm rõ số tiền này đã được nộp lại ngân sách hay vẫn nằm trong tài khoản của Ban Quản lý dự án.
Theo bị cáo, nếu số tiền đã được hoàn trả về kho bạc thì khoản lãi phát sinh cần được khấu trừ khỏi thiệt hại; còn nếu tiền vẫn nằm trong tài khoản của Ban Quản lý dự án thì việc xác định lãng phí mới phù hợp.
Trước đó, Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tuyên phạt bà Nguyễn Thị Kim Tiến mức án 5-6 năm tù về tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; đồng thời buộc liên đới bồi thường 108 tỷ đồng. Như vậy, sau khi trừ khoản tiền đã nộp khắc phục hậu quả, bà Tiến còn phải bồi thường khoảng 91 tỷ đồng.
Theo cáo trạng, quá trình triển khai hai dự án đã xảy ra nhiều sai phạm, gây thất thoát hơn 70 tỷ đồng trong việc thuê tư vấn nước ngoài và gây lãng phí 733 tỷ đồng do dự án đình trệ trong thời gian dài.
Riêng khoản lãng phí 733 tỷ đồng gồm 145 tỷ đồng tiền lãi phát sinh khi SCIC phải tất toán trước hạn các hợp đồng tiền gửi để giải ngân vốn và 588 tỷ đồng tiền lãi tính trên hơn 5.000 tỷ đồng vốn đã rót vào dự án nhưng chưa phát huy hiệu quả sử dụng.
Bà Lâm và ông Hà đăng ký kết hôn vào đầu những năm 1970. Sau khi chung sống, mâu thuẫn gia đình liên tục nảy sinh, bà Lâm có mối quan hệ căng thẳng với bố chồng, nhưng lại hòa thuận với mẹ chồng. Chính sự gắn bó giữa mẹ chồng và nàng dâu đã giúp duy trì cuộc hôn nhân gần 30 năm, nhưng cuối cùng họ vẫn thỏa thuận ly dị do tình cảm rạn nứt.
Nhiều năm sau, bà Lâm biết tin bố mẹ chồng cũ lần lượt qua đời, nhưng vì cuộc hôn nhân đã chấm dứt từ lâu nên bà chưa từng đến viếng mộ. Mãi đến khi con gái bà Lâm đi thăm mộ, vô tình phát hiện tên bà Lâm được khắc trên bia mộ của bố mẹ chồng với tư cách là "con dâu".
Bà Lâm cho rằng, kể từ khi cuộc hôn nhân giữa hai bên kết thúc, bà không còn là con dâu của gia đình họ Hà nữa, việc ông Hà khắc tên bà mà không được phép đã xâm phạm quyền sử dụng tên họ của bà và gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng. Do đó, bà Lâm đệ đơn kiện lên tòa án, yêu cầu ông Hà lập tức xóa bỏ tên mình trên bia mộ và bồi thường thiệt hại tinh thần tương ứng.
Ông Hà cho rằng dù hai bên đã ly dị từ lâu, nhưng vì khi còn sống, mẹ ông luôn thân thiết với bà Lâm và bà Lâm cũng thường xuyên đến thăm hỏi nên ông đã khắc tên bà Lâm lên bia mộ theo di nguyện của mẹ. Đến nay, mẹ ông đã được chôn cất hơn 20 năm, ông không muốn sửa bia mộ quấy nhiễu người đã khuất.
TAND quận Dương Phố (Thượng Hải) nhận thấy vụ việc không chỉ là tranh chấp về quyền nhân thân, mà còn gây chia rẽ tình cảm giữa hai gia đình.
Từ góc độ pháp lý, yêu cầu của bà Lâm về việc xóa tên khỏi bia mộ là có cơ sở. Theo Bộ luật Dân sự của Trung Quốc, cá nhân có quyền đối với tên họ của mình, có quyền quyết định, sử dụng, thay đổi hoặc cho phép người khác sử dụng tên họ của mình. Vì quan hệ pháp lý giữa hai bên đã chấm dứt sau khi ly hôn, không bên nào có quyền tự ý khắc tên của bên kia lên bia mộ.
Tuy nhiên, mối bận tâm của ông Hà cũng rất thực tế. Việc cưỡng chế xóa bỏ dòng chữ khắc trên bia mộ vừa trái phong tục truyền thống vừa có thể gây bất mãn cho các thành viên khác trong gia đình.
Tòa án đứng ra hòa giải theo phương châm: "Vấn đề không đơn giản là ai đúng ai sai, mà là làm thế nào để quá khứ không tổn hại hiện tại, để người đã khuất được an nghỉ và người còn sống tìm thấy sự bình yên".
Tại phiên tòa, thẩm phán nhấn mạnh "xóa tên" không có nghĩa là "xóa bỏ quá khứ", và "bồi thường" có thể thay thế cho "đối đầu".
Bà Lâm bày tỏ chỉ cần xóa tên, bà sẵn sàng nhượng bộ về khoản bồi thường tổn thương tinh thần. Ông Hà cũng đã hiểu được suy nghĩ của vợ cũ và hứa sẽ bàn bạc với các thành viên khác, sẵn sàng xóa tên bà Lâm và bồi thường.
Cuối cùng, hai bên đạt được thỏa thuận dàn xếp "xóa tên kèm bồi thường". Ông Hà sẽ hoàn tất việc xóa tên bà Lâm trên bia mộ trong vòng một tháng, tự nguyện bồi thường kinh tế cho bà Lâm để "bày tỏ xin lỗi và khép lại quá khứ". Hai bên xác nhận rằng một khi tên được xóa khỏi bia mộ sẽ không còn tranh chấp.
Theo Bộ luật Dân sự, cha mẹ, vợ/chồng, con cái và những người thân trực hệ có quyền hợp pháp được khắc tên lên bia mộ. Nếu các thành viên khác trong gia đình loại trừ quyền này của họ với lý do như "đi lấy chồng", "bất hiếu" hoặc "mâu thuẫn gia đình", có thể cấu thành hành vi xâm phạm quyền nhân thân.
Các tranh chấp phát sinh từ việc khắc tên lên bia mộ, tương tự trường hợp này, thường là sự mở rộng của các xung đột gia đình. Sau khi ly hôn, quan hệ hôn nhân chấm dứt, không bên nào có quyền tùy tiện khắc tên của bên kia lên bia mộ. Người nắm giữ quyền có quyền yêu cầu xóa bỏ tên, đòi xin lỗi và bồi thường tổn thương tinh thần.
Tuệ Anh (theo Shanghai Morning Post, Shanghai Observer)
Ngày 3/6, Công an xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình cho biết đã xác minh, xử lý 2 nhóm thanh, thiếu niên điều khiển xe máy lạng lách, đánh võng trên đường, gây náo loạn khu vực thôn Tân Phong, xã Giao Ninh.
Trước đó, Công an xã Giao Ninh nắm bắt được thông tin có hai nhóm thanh, thiếu niên điều khiển xe máy lạng lách, đánh võng tại khu vực thôn Tân Phong. Hai nhóm này còn cầm theo hung khí là kiếm Nhật, kiếm ống, đao tự chế, phóng tự chế và sử dụng gạch, vỏ chai bia ném về phía nhau để giải quyết mâu thuẫn.
Hành vi của 2 nhóm trên gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm của 2 nhóm thanh, thiếu niên, Công an xã Giao Ninh đã huy động toàn bộ lực lượng, tiến hành xác minh, rà soát và triệu tập, làm việc với 15 thanh, thiếu niên sinh từ năm 2002 đến năm 2012; thường trú tại các xã Giao Bình, Giao Hưng, Giao Ninh, Hải Quang, Hải Hưng và xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình.
Kết quả điều tra ban đầu xác định, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Vũ Văn Thể (SN 2002, trú tại xã Giao Ninh) và Trần Thế An (SN 2009, trú tại xã Hải Hưng), hai thanh niên này đã lôi kéo thêm nhiều thanh, thiếu niên khác, tụ tập và mang theo các loại hung khí để giải quyết mâu thuẫn.
Công an xã Giao Ninh đã thu thập tài liệu, chứng cứ đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra quyết định tạm giữ hình sự 9 đối tượng để điều tra về hành vi Gây rối trật tự công cộng.