Tôi vừa xem một video ghi lại cảnh một shipper cố hết sức can ngăn khách đừng nhận đơn hàng “iPhone 16 Pro Max thanh lý” giá chỉ 500 nghìn đồng. Khách hàng là một bé gái, độ tuổi cấp hai, biểu cảm có vẻ hý hửng vì nghĩ mình vừa trúng “món hời”.
Dù anh shipper ra sức khuyên can và cảnh báo khui hàng thì không được trả lại, em vẫn mở hộp ngay tại chỗ, đầy háo hức và rồi chưng hửng khi bên trong chẳng có chiếc iPhone nào, mà là vài viên pin.
Một người bạn của tôi khi xem video này và cho rằng shipper làm vậy là không đúng với nhiệm vụ công việc.
Hàng nào cho phép đồng kiểm thì đồng kiểm với khách, khách nhận hàng thì thu tiền, khách không lấy thì làm thủ tục hoàn đơn hàng. Shipper hết trách nhiệm. Nếu có sự cố hàng giả, hàng không đúng quảng cáo thì đó là việc của người mua với người bán hoặc với sàn thương mại điện tử.
Tôi thì nghĩ khác, như cô bé trong video trên, sau khi chưng hửng vì mở hàng mà không thấy chiếc iPhone nào đã nói với shipper rằng cho trả lại hàng vì mẹ biết mẹ sẽ mắng nữa. Có thể suy luận rằng đây không phải lần đầu, shipper cũng quá rành với những đơn hàng như thế, làm gì có chiếc điện thoại thông minh nào, nên họ cảnh báo khách trước cũng là một việc cần làm.
Còn các bạn nghĩ sao?
Tin Gốc: Vnexpress
Cuối tuần qua, ở phường Dĩ An, TP HCM xảy ra tình huống như sau: Thợ sửa khóa đến giúp mở cửa theo yêu cầu của người vợ, nhưng lại rơi vào cảnh bị người chồng đe dọa.
Nguyên căn của vụ việc là người chồng đi nhậu về nhà ngủ, người vợ không gọi được nên kêu thợ tới phá khóa cửa phòng.
Tôi thấy trong câu chuyện này đặt ra một thế khó ít ai để ý: Thợ sửa khóa thực chất đang làm việc dựa trên niềm tin. Nhưng nếu niềm tin đó đặt sai chỗ thì sao?
Ví dụ, một người dắt xe máy đến yêu cầu phá ổ khóa. Liệu đó là chủ xe thật hay là kẻ trộm? Nếu thợ từ chối, họ mất khách. Nếu nhận làm, họ có thể vô tình tiếp tay cho hành vi phạm pháp.
Hay như trường hợp mở cửa nhà: Người gọi thợ tới phá khóa có thực sự là người có quyền với căn nhà đó? Và nếu bên trong xảy ra tình huống nguy hiểm, ai sẽ bảo vệ người thợ?
Vậy thợ sửa khóa nên làm gì để vừa kiếm sống, vừa tự bảo vệ mình trước những rủi ro pháp lý và an toàn? Chẳng lẽ thợ phá khóa đòi xem giấy tờ xe, giấy tờ nhà trước khi thực hiện công việc?
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi năm nay 46 tuổi. Gần 20 năm đi làm, từ lĩnh vực dịch vụ, cung ứng nhân lực đến xây dựng, tôi gần như chưa từng biết thế nào là một công việc "hết giờ là nghỉ". Ngày làm việc của tôi bắt đầu từ 7h30 sáng. Nếu công việc thuận lợi, khoảng 17h tôi mới rời công ty. Nhưng đó chỉ là lúc rời khỏi văn phòng chứ không phải lúc kết thúc công việc. Còn thời điểm áp lực dồn dập, khách hàng nhiều, dự án căng, tôi có thể phải ở lại văn phòng đến 19h hoặc muộn hơn để "chạy deadline".
Nhiều người nghĩ phụ nữ trung niên như tôi chắc đã quen với guồng quay ấy. Nhưng sự thật là không ai thật sự muốn phải sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài suốt hàng chục năm.
Tôi thuộc thế hệ được dạy rằng phải cố gắng, phải chịu khó, phải chứng minh năng lực bằng sự hy sinh. Tôi đi làm không chỉ để kiếm sống mà còn để giữ vị trí, giữ uy tín, giữ trách nhiệm với tập thể. Vì thế, suốt nhiều năm, tôi gần như mặc định rằng mình phải luôn online, luôn phản hồi, luôn giải quyết mọi việc ngay lập tức, bất kể lúc nào, ở đâu.
Bộ phận của tôi có 18 người, phụ trách phát triển đối tác trong lĩnh vực xây dựng và vận hành nhóm kinh doanh mới – tức là bộ phận trực tiếp mang doanh thu về cho công ty. Năm trước vượt KPI, nhưng năm nay chúng tôi tiếp tục bị đẩy chỉ tiêu cao hơn. Thành tích càng tốt, chúng tôi áp lực càng lớn.
>> Tôi 13 năm kiệt sức vì KPI nhưng sếp không nhìn thấy
Tôi có hai chiếc điện thoại luôn mang theo bên mình. Một chiếc cho gia đình và cuộc sống riêng, chiếc còn lại dành cho công việc. Nhưng nói thật, ranh giới giữa hai thứ ấy gần như không còn tồn tại. Đang ăn cơm với chồng con, khách hàng gọi, tôi vẫn phải nghe. Đang nói chuyện với cha mẹ ở quê, cấp dưới nhắn có sự cố, tôi vẫn phải trả lời. Có hôm cả nhà đi trung tâm thương mại cuối tuần, tôi vẫn ngồi ở góc hành lang họp online đến hơn 22h30 vì "khách hàng lúc đó mới rảnh".
Tôi nhận ra mình đã đánh mất rất nhiều khoảnh khắc đời sống mà không kịp nhận ra. Có những bữa cơm tôi ăn mà đầu óc vẫn nghĩ về báo giá chưa gửi. Có những lần con kể chuyện ở trường nhưng tôi vừa nghe vừa nhìn màn hình điện thoại. Có những tối nằm cạnh gia đình nhưng tâm trí vẫn còn mắc kẹt ở email chưa trả lời.
Cái mệt của người trung niên không chỉ là thể chất. Nó là cảm giác lúc nào cũng phải căng mình lên để gánh trách nhiệm, là nỗi sợ bị tụt lại giữa thị trường lao động ngày càng khắc nghiệt, là áp lực của một người phụ nữ vừa phải làm tốt công việc, vừa phải giữ vai trò làm mẹ, làm vợ, làm con.
Ở tuổi 46, tôi bắt đầu thấy cơ thể mình không còn chịu đựng tốt như trước. Những đêm thức khuya khiến tim đập nhanh hơn, giấc ngủ chập chờn hơn. Buổi sáng thức dậy tôi vẫn mệt dù hôm trước không lao động tay chân nặng nhọc. Có lúc tôi ngồi trước màn hình máy tính mà cảm thấy đầu óc trống rỗng, kiệt quệ đến mức không muốn mở thêm bất kỳ email nào nữa.
Trong môi trường công sở hiện nay, đặc biệt ở các ngành dịch vụ, kinh doanh, xây dựng hay vận hành, "tăng ca vô hình" đã trở thành chuyện bình thường. Người lao động bị mặc định phải phản hồi nhanh, phải online ngoài giờ, phải linh hoạt mọi lúc. Ai cũng hiểu nếu không làm vậy thì rất khó tồn tại.
Có người nói: "Nếu không chịu được thì nghỉ việc, tìm chỗ khác ít áp lực hơn mà làm". Nhưng ở tuổi trung niên, nhảy việc đâu đơn giản. Chúng tôi còn gia đình, con cái học hành, cha mẹ già, khoản vay, chi phí sinh hoạt. Phụ nữ tuổi 46 không còn nhiều cơ hội bắt đầu lại như người trẻ đôi mươi. Vì thế, rất nhiều người vẫn tiếp tục cắn răng chịu đựng.
Tôi không phủ nhận muốn có thu nhập tốt thì phải chấp nhận trách nhiệm lớn. Nhưng điều khiến tôi trăn trở là xã hội đang dần xem việc vắt kiệt sức lao động là bình thường. Trong khi đó, nhu cầu nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe tinh thần lại bị xem như sự yếu đuối. Chúng ta nói nhiều về tăng trưởng, KPI, hiệu suất, nhưng nói quá ít về giới hạn chịu đựng của con người.
Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại khái niệm "cống hiến" trong môi trường công sở hiện đại. Một xã hội văn minh không nên được xây dựng trên sự kiệt quệ kéo dài của người lao động. Và một công việc tốt không phải là công việc chiếm trọn cuộc đời của một con người.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo tôi, đề xuất xe máy dưới 5 năm không phải kiểm định khí thải trực tiếp đang đi theo hướng quản lý theo "tuổi xe". Cách làm này có ưu điểm là đơn giản, nhưng lại bỏ qua một yếu tố quan trọng hơn, mức độ sử dụng thực tế.
Nếu mục tiêu là giảm ô nhiễm và đảm bảo an toàn giao thông, thì câu hỏi đúng không phải là "xe bao nhiêu năm", mà là "xe đã chạy bao nhiêu kilomet".
Giả sử một nhân viên văn phòng trung bình mỗi ngày đi khoảng 20 km, tương đương 4.000 - 5.000 km mỗi năm. Sau 5 năm, tổng quãng đường chỉ khoảng 25.000 - 30.000 km, xe vẫn còn rất tốt. Ngược lại, một người chạy dịch vụ có thể đi 25.000 - 35.000 km mỗi năm, chỉ sau 3 năm đã đạt ngưỡng 100.000 km.
Đây là giai đoạn mà động cơ bắt đầu hao mòn sâu, phát thải tăng và rủi ro an toàn cao hơn. Như vậy, nếu quản lý theo năm sử dụng, sẽ xảy ra nghịch lý: Xe chạy ít nhưng "già tuổi" lại bị kiểm định sớm, trong khi xe chạy nhiều nhưng "trẻ tuổi" lại chưa bị kiểm soát.
Tôi nghĩ có một cách tiếp cận hợp lý hơn là quản lý theo số kilomet, với mốc giới hạn cao nhất là 100.000 km. Có thể chia làm ba nhóm:
Xe dưới 50.000 km gần như chưa cần kiểm định. Xe từ 50.000 đến 100.000 km là giai đoạn cần kiểm định định kỳ sau mỗi 10.000 km để kiểm soát phát thải và an toàn. Còn xe đã vượt 100.000 km thì không cho tiếp tục lưu thông trong khu vực nội đô.
Điểm quan trọng là với nhóm trên 100.000 km, nên áp dụng biện pháp hành chính: Hạn chế hoặc cấm lưu thông ở khu vực trung tâm, nhưng vẫn cho phép sử dụng ở ngoại thành, nông thôn, miền núi. Cách làm này giúp giảm nhanh lượng xe phát thải cao tại nơi đông dân mà không gây lãng phí tài sản xã hội.
Chính sách này sẽ tạo ra một cơ chế rất đáng chú ý: Thị trường tự điều chỉnh. Khi xe vượt 100.000 km không còn được chạy trong đô thị, người sử dụng sẽ buộc phải bán nếu muốn đổi xe mới. Do nhu cầu trong nội đô không còn, giá xe sẽ giảm rất mạnh.
Những chiếc xe này sẽ trở thành lựa chọn giá rẻ cho người thu nhập thấp ở ngoại thành hoặc nông thôn. Nói cách khác, thay vì cấm đoán hay thu hồi, chính sách sẽ khiến xe cũ tự động "chảy" ra khỏi đô thị. Người có điều kiện sẽ đổi xe sớm hơn. Người thu nhập thấp vẫn có phương tiện phù hợp với nhu cầu của họ. Tài sản được sử dụng hết vòng đời, nhưng đúng nơi, đúng mục đích.
Đồng thời, chính sách này cũng buộc người dân thay đổi hành vi. Thay vì cố gắng sử dụng xe đến khi "nát" mới bỏ, họ sẽ chủ động bán khi xe còn giá trị. Điều này không chỉ tốt cho môi trường mà còn giúp giảm rủi ro tai nạn do phương tiện xuống cấp.
Một lợi ích khác là thị trường xe máy trở nên ổn định hơn. Nhu cầu xe mới sẽ tăng, nhưng không phải do ép buộc hành chính mà do quy luật kinh tế. Thị trường xe cũ cũng minh bạch hơn, khi giá trị xe gắn liền với số kilomet đã sử dụng.
Tất nhiên, để triển khai cần có hệ thống ghi nhận số kilomet đáng tin cậy, có thể thông qua nền tảng như VNeTraffic kết hợp với dữ liệu từ kiểm định, sang tên, bảo dưỡng. Nhưng đây là vấn đề kỹ thuật có thể giải quyết theo lộ trình, không phải rào cản về tư duy.
Điều quan trọng là xác định đúng hướng tiếp cận. Tóm lại, theo tôi, quản lý theo tuổi xe là cách làm dễ, nhưng không chính xác. Quản lý theo số kilomet phản ánh đúng bản chất sử dụng, và quan trọng hơn, tạo ra cơ chế để thị trường tự loại bỏ xe cũ nát mà không cần can thiệp hành chính nặng nề.
Khi một chiếc xe đã chạy hơn 100.000 km không còn chỗ đứng trong đô thị, nó sẽ tự động rời khỏi đó. Không cần kiểm định phức tạp, không cần cưỡng chế, chính người sử dụng sẽ đưa ra quyết định.
Xe máy dưới 5 năm, chủ xe không cần đưa đến cơ sở đăng kiểm
Trong dự thảo thông tư, Bộ Xây dựng đề xuất xe máy dưới 5 năm (60 tháng) từ khi sản xuất, chủ xe đi kiểm định lần đầu không cần đưa phương tiện đến cơ sở đăng kiểm. Căn cứ kết quả chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu xe, cơ sở đăng kiểm cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải. Thời gian giải quyết thủ tục chỉ khoảng 3 giờ.
Dự thảo cũng nhấn mạnh việc sử dụng dữ liệu điện tử và liên thông giữa các cơ quan. Mỗi phương tiện sẽ chỉ có một hồ sơ quản lý duy nhất từ lần đầu kiểm định. Các loại giấy tờ như đăng ký xe, căn cước công dân có thể sử dụng bản điện tử hoặc tích hợp trên tài khoản định danh. Trường hợp phương tiện chưa hoàn tất xử phạt vi phạm hành chính, hệ thống có thể từ chối kiểm định.
Tin Gốc: Vnexpress

